Hỏi đáp về thống kê

Các hệ thống chỉ tiêu thống kê chủ yếu, bao gồm:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành và Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã. Các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải được đổi mới đồng bộ vì các lý do sau:

– Một là, các hệ thống chỉ tiêu thống kê giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động thống kê và giữa các hệ thống chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng chưa được xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia xây dựng và ban hành năm 2005, nhưng thiếu thông tin đầu vào nên trong tổng số 274 chỉ tiêu, đến nay vẫn còn 85 chỉ tiêu chưa thực hiện được. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã tuy Thủ tướng Chính phủ giao cho ngành Thống kê quy định để áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước nhưng vẫn chưa hoàn thành. Hầu hết các Bộ, ngành chưa xây dựng và ban hành được Hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành của Bộ, ngành để đáp ứng yêu cầu quản lý của Bộ, ngành và yêu cầu tổng hợp chung của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) theo Luật Thống kê quy định.
– Hai là, quá trình đổi mới công tác thống kê chưa được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khâu thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, phổ biến và lưu giữ thông tin thống kê; hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng số liệu chưa được xây dựng và ban hành; công tác phân tích và dự báo thống kê phát triển chậm; chưa tạo lập sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên về trao đổi và chia sẻ thông tin giữa Hệ thống thống kê tập trung với thống kê Bộ, ngành Trung ương và thống kê Sở, ngành địa phương. Việc thu thập và phổ biến thông tin thống kê trong thời gian qua vừa thiếu, vừa trùng chéo, trong một số trường hợp còn chưa thống nhất về số liệu. Người sử dụng thông tin thống kê khó tiếp cận với cơ sở dữ liệu ban đầu của các cuộc điều tra, tổng điều tra thống kê và cơ sở dữ liệu hồ sơ đăng ký hành chính.
– Ba là, Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã được Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhưng việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chưa đầy đủ và chưa sâu rộng. Nhận thức về Luật Thống kê trong cộng đồng còn hạn chế nên thực hiện chưa nghiêm chỉnh cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng và tính pháp lý của thông tin thống kê.
– Bốn là, hệ thống tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện cần thiết khác của Hệ thống thống kê tập trung; thống kê Bộ, ngành và thống kê địa phương chậm được xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh đồng bộ nên việc triển khai các hoạt động đổi mới phương pháp nghiệp vụ thống kê thiếu cơ sở và không đủ điều kiện thực hiện. Đến nay, nhiều Bộ, ngành vẫn chưa có tổ chức thống kê. Phần lớn những người làm công tác thống kê ở Bộ, ngành Trung ương và thống kê Sở, ngành địa phương là cán bộ, công chức kiêm nhiệm. Mỗi xã, phường, thị trấn được biên chế một công chức đảm nhận công tác văn phòng
– thống kê nhưng chủ yếu làm công tác văn phòng, thời gian dành cho công tác thống kê không nhiều. Trụ sở làm việc, phương tiện đi lại, thiết bị làm việc của các cơ quan thống kê chưa bảo đảm định mức quy định.

Ngày 10/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công văn số 548/TTg
-KTTH yêu cầu Tổng cục Thống kê phải đổi mới, hoàn thiện công tác thống kê, trước hết là đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê. Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 312/QĐ
-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2010.

Mục tiêu của việc đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê là đổi mới và áp dụng đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê, hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia thống nhất, thông suốt và hiệu quả phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế nhằm cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời các thông tin thống kê đáp ứng nhu cầu phân tích, đánh giá tình hình kinh tế
– xã hội phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước; công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
– xã hội của cả nước, các Bộ, ngành, địa phương và của các tổ chức, cá nhân.

Phương hướng đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê là:

(1) Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải bảo đảm thực hiện đúng 6 nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê đã được quy định trong Luật Thống kê là:
(i) Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong hoạt động thống kê; (ii) Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê; (iii) Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị đo lường, niên độ thống kê và bảo đảm tính so sánh quốc tế; (iv) Không trùng lặp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, các chế độ báo cáo thống kê; (v) Công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin thống kê; (vi) Bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin thống kê Nhà nước đã công bố công khai; những thông tin thống kê về từng tổ chức, cá nhân chỉ được sử dụng cho mục đích tổng hợp thống kê.
(2) Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê, bao gồm:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành và Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã, hình thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất. Việc đổi mới các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải được thực hiện cùng với việc đổi mới toàn diện các hoạt động thống kê. Kết quả của việc đổi mới này phải trở thành một trong các căn cứ quan trọng để xây dựng Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011
– 2020 và tầm nhìn đến năm 2025. (3) Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải tiến hành trên cơ sở tiếp tục phát huy vai trò của Hệ thống thống kê tập trung; tăng cường vai trò, trách nhiệm của tổ chức thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi chung là thống kê Bộ, ngành); nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn thông tin thống kê do các tổ chức thống kê cơ sở thu thập, tổng hợp, nhằm hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia thống nhất, thông suốt và hiệu quả. (4) Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước, đồng thời tạo ra sự chủ động hội nhập ngày càng sâu, rộng của thống kê Việt Nam với thống kê quốc tế. Trên cơ sở lộ trình triển khai phù hợp, bảo đảm tính khả thi cao của các hệ thống chỉ tiêu thống kê mới. (5) Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải gắn liền với đổi mới các hoạt động thống kê; đồng thời phải hoàn thiện bộ máy tổ chức, bảo đảm nguồn nhân lực, môi trường pháp lý, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện khác để triển khai thực hiện kịp thời và có hiệu quả các nội dung đổi mới.

Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê gồm các nội dung sau:

  • Đổi mới, bổ sung, hoàn thiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.
  • Xây dựng và ban hành đầy đủ Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành.
  • Xây dựng và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã.
  • Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê.
  • Hoàn thiện các hình thức thu thập thông tin đầu vào của các hệ thống chỉ tiêu thống kê.
  • Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện những vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ thống kê khác có liên quan.
  • Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thống kê.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia cần phải được đổi mới, hoàn thiện với các nội dung sau:

  • Xác định, bổ sung thêm các chỉ tiêu thống kê phản ánh chất lượng, hiệu quả của sự phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các chỉ tiêu bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Tiêu thức phân tổ của các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia phải bảo đảm yêu cầu thông tin chi tiết phân theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế (trong thời gian trước mắt tạm thời phân theo loại hình kinh tế như: kinh tế nhà nước; kinh tế ngoài nhà nước; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), vùng và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với các chỉ tiêu xã hội phải đổi mới để tăng thêm phân tổ theo giới tính, dân tộc, thành thị, nông thôn với các tiêu thức chất lượng cụ thể, rõ hơn.
  • Phân công trách nhiệm thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quản lý của Bộ, ngành và chức năng, nhiệm vụ của Hệ thống thống kê tập trung, tránh trùng lặp, chồng chéo, nhằm phản ánh đầy đủ tình hình kinh tế- xã hội chủ yếu của đất nước.

Xây dựng và ban hành đầy đủ Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành được hiểu như sau:

Căn cứ vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khẩn trương ban hành các hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách. Hệ thống chỉ tiêu thống kê của mỗi Bộ, ngành phải bảo đảm tính đồng bộ cao với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác; đồng thời phải là một trong những nguồn cung cấp thông tin đầu vào quan trọng của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và đáp ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân khác.

Xây dựng và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã được hiểu như sau:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương khẩn trương xây dựng và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã đồng bộ với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã phải là một trong những nguồn cung cấp thông tin đầu vào quan trọng của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành; đáp ứng yêu cầu thông tin thống kê phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp ở địa phương; đồng thời phục vụ nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác.

Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê được hiểu như sau:

Căn cứ các Hệ thống chỉ tiêu thống kê được cấp có thẩm quyền ban hành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) và các Bộ, ngành tiến hành chuẩn hóa khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê theo đúng chuẩn mực thống kê và phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế để thống nhất áp dụng, bảo đảm tính so sánh của số liệu thống kê theo thời gian và không gian.

Hoàn thiện các hình thức thu thập thông tin, kết hợp hài hòa và có hiệu quả báo cáo thống kê, điều tra thống kê với khai thác nguồn thông tin đa dạng và phong phú của các hồ sơ đăng ký hành chính. Theo đó, rà soát và xây dựng hoàn chỉnh Chế độ báo cáo thống kê cơ sở; Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành; Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chương trình điều tra thống kê quốc gia; Chế độ báo cáo thống kê của các Bộ, ngành; tổ chức hệ thống các cơ sở dữ liệu thống kê khai thác từ hồ sơ đăng ký hành chính.

Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện những vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ thống kê khác có liên quan gồm những nội dung sau:

 Tập trung đổi mới và hoàn chỉnh những vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ thống kê khác có liên quan chặt chẽ đến các hệ thống chỉ tiêu thống kê mới, trong đó chú trọng việc xây dựng và áp dụng các bảng phân loại thống kê; tăng cường công tác phân tích và dự báo; tăng cường ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và truyền thông; tổ chức các cơ sở dữ liệu thống kê tổng hợp, cơ sở dữ liệu thống kê ban đầu, siêu dữ liệu và kho dữ liệu; xây dựng hệ thống sản phẩm thông tin thống kê; xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi và chia sẻ thông tin; xây dựng chính sách phổ biến thông tin thống kê.

Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thống kê được hiểu như sau:

Tiếp thu, vận dụng nghiệp vụ thống kê tiên tiến và kinh nghiệm thành công của các nước để hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ chuyên môn thống kê, đổi mới và hoàn chỉnh các hệ thống chỉ tiêu thống kê đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Thực hiện đầy đủ các cam kết về thống kê với các nước và các tổ chức quốc tế.

Các giải pháp thực hiện việc đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê gồm:

  •  Đánh giá hiện trạng các Hệ thống chỉ tiêu thống kê
  • Củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức thống kê
  • Đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực
  • Hoàn thiện môi trường pháp lý cho công tác thống kê
  • Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông
  • Tăng cường hợp tác quốc tế và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài
    – Kinh phí xây dựng, thực hiện Đề án.

Đánh giá hiện trạng các Hệ thống chỉ tiêu thống kê gồm những nội dung sau:

  • Rà soát và đánh giá hiện trạng các Hệ thống chỉ tiêu thống kê hiện có, cụ thể là Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành và Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã đang áp dụng.
  • Làm rõ tính toàn diện, tính phù hợp, tính thống nhất và mức độ thực hiện của từng chỉ tiêu trong mỗi hệ thống, xác định cụ thể mặt được và chưa được, để có căn cứ đổi mới và xây dựng hoàn thiện, đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế.

Củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức thống kê được hiểu như sau:

  • Hệ thống tổ chức thống kê tập trung được tổ chức theo ngành dọc gồm Cơ quan thống kê Trung ương (Tổng cục Thống kê) và các cơ quan thống kê địa phương (Cục Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chi cục Thống kê các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) theo quy định của Luật Thống kê cần phải được củng cố và phát huy.
  • Tổ chức thống kê Bộ, ngành là bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức thống kê nhà nước, thuộc bộ máy tổ chức của Bộ, ngành có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan tổ chức, quản lý công tác thống kê trong ngành, lĩnh vực phụ trách; tiến hành các hoạt động thống kê đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, yêu cầu tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) và nhu cầu về thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Mỗi Bộ, ngành phải xây dựng bộ máy tổ chức thống kê tương xứng với yêu cầu và khối lượng công tác thống kê của Bộ, ngành. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) chủ động phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức công tác thống kê của ngành Tòa án và ngành Kiểm sát theo quy định của Luật Thống kê.
  • Thống kê Sở, ngành của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là bộ phận cấu thành của hệ thống thống kê quốc gia, cần phải có lực lượng chuyên trách đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của địa phương.
  • Hiện nay, các xã, phường, thị trấn đều có công chức kiêm nhiệm công tác thống kê. Ngay sau khi Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã được ban hành và triển khai áp dụng, chính quyền các xã, phường, thị trấn phải bố trí cán bộ đủ năng lực chuyên trách công tác thống kê tại xã, phường, thị trấn bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng thống kê cấp cơ sở.
  • Cùng với việc hoàn thiện các tổ chức thống kê phải xây dựng được đội ngũ cộng tác viên thống kê có năng lực để phục vụ ngành Thống kê triển khai các hoạt động kịp thời và hiệu quả.

Đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực gồm những nội dung sau:

  • Bảo đảm đủ số lượng biên chế ổn định và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của toàn ngành Thống kê, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho những người làm công tác thống kê của các Bộ, ngành; thống kê của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thống kê huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, thống kê xã, phường, thị trấn và lực lượng cộng tác viên thống kê.
  • Từng bước áp dụng mô hình công chức của Hệ thống thống kê tập trung biệt phái chuyên trách thống kê Bộ, ngành. Trước mắt, áp dụng đối với những Bộ, ngành có khối lượng công tác thống kê lớn, lực lượng cán bộ, công chức, viên chức thống kê chưa đáp ứng yêu cầu và cần được hỗ trợ của công chức thống kê từ hệ thống thống kê tập trung.
  • Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học thống kê và đẩy mạnh việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Phải đào tạo và phát triển được cán bộ, công chức, viên chức có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu để đảm nhận và thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu và tổ chức thực hiện nghiệp vụ thống kê.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành Thống kê tại các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành khác quản lý. Chú trọng và tăng cường đào tạo cấp chứng chỉ theo các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao và cập nhật kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ phục vụ công tác thống kê.

Hoàn thiện môi trường pháp lý cho công tác thống kê gồm những nội dung sau:

  • Đánh giá tình hình và kết quả triển khai thực hiện Luật Thống kê, các Nghị định và các văn bản pháp lý khác có liên quan đến hoạt động thống kê, đề xuất và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết để đáp ứng các yêu cầu đối với công tác thống kê trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
  • Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Cộng tác viên thống kê để tổ chức thực hiện thống nhất trong cả nước.
  • Xây dựng Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông gồm những nội dung sau:

  • Công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ quan trọng phục vụ công tác thống kê, là phương tiện tập trung các luồng thông tin thống kê hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia thống nhất và hiệu quả. Do vậy, phải quan tâm phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đồng bộ về: hạ tầng kỹ thuật; đào tạo nguồn nhân lực; phần mềm ứng dụng; cơ sở dữ liệu; kết nối, chia sẻ và phổ biến thông tin thống kê.
  • Nghiên cứu, hiện đại hoá công nghệ thông tin và truyền thông để ứng dụng trong tất cả các khâu của quy trình thống kê; tin học hóa việc thu thập, tổng hợp, phân tích, phổ biến và lưu giữ thông tin thống kê của hệ thống thống kê tập trung; thống kê Bộ, ngành và địa phương. Trong đó, chú trọng nghiên cứu, ứng dụng các hình thức điều tra thống kê điện tử; sử dụng rộng rãi công nghệ tiên tiến trong xử lý số liệu điều tra, tổng điều tra thống kê; xây dựng các cơ sở dữ liệu vĩ mô, vi mô, siêu dữ liệu, kho dữ liệu; phát triển các công cụ khai thác dữ liệu, phân tích và dự báo thống kê; tăng cường sử dụng các trang thông tin điện tử và phát hành các sản phẩm thống kê điện tử để công bố, chia sẻ thông tin thống kê, phổ biến kiến thức và đào tạo chuyên môn nghiệp vụ thống kê.
  • Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng và ban hành Đề án về “Chương trình ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của Hệ thống thống kê Nhà nước đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

Tăng cường hợp tác quốc tế và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài được hiểu như sau:

  • Tăng cường hợp tác quốc tế là một trong những yêu cầu và nội dung đổi mới công tác thống kê, phải xác định rõ nội dung hợp tác về chuyên môn nghiệp vụ, về trao đổi và phổ biến thông tin thống kê kinh tế- xã hội;
  • Xây dựng kế hoạch cụ thể để tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của thống kê các nước và các tổ chức quốc tế để tăng cường năng lực công tác thống kê;
  • Triển khai các hoạt động đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê; chú ý hợp tác về cung cấp chuyên gia, đào tạo nguồn nhân lực;
  • Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và truyền thông cho toàn ngành Thống kê.
  • Xác định lộ trình hợp lý để tiến tới thực hiện đầy đủ các cam kết về thống kê với các nước và tổ chức quốc tế.

Khoản 4 Điều 3 Luật Thống kê quy định:

  • “Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành”.

Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 quy định:

  • Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh tế- xã hội chủ yếu của đất nước để thu thập thông tin thống kê, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được ban hành bao gồm danh mục chỉ tiêu, các phân tổ chủ yếu, kỳ công bố, lộ trình và phân công thực hiện.”

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh tế- xã hội chủ yếu của đất nước, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là cơ sở để phân công, phối hợp trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích và công bố thông tin thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các chỉ tiêu thống kê bộ, ngành có quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh tế- xã hội chủ yếu của đất nước; các chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành bao gồm những chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đã được phân công thu thập, tổng hợp và những chỉ tiêu phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.

  • Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là căn cứ để phân công, phối hợp trong hoạt động thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở.
  • Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành các chỉ tiêu thống kê phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.

Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có hiệu lực thi hành từ ngày 20/7/2010 và bãi bỏ Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ phải được đổi mới vì:

  1. Theo quy định của Luật Thống kê, Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp các chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh tế- xã hội chủ yếu của đất nước, phục vụ các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức cá nhân khác. Do vậy khi đặc điểm kinh tế thay đổi, nhu cầu quản lý thay đổi đòi hỏi các chỉ tiêu thống kê phản ánh cũng cần thay đổi.
  2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu thông tin phục vụ quản lý điều hành của các cấp Lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trước tình hình mới Hệ thống chỉ tiêu này đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Chẳng hạn như:  Hệ thống chỉ tiêu này thiếu các chỉ tiêu phản ánh về chất lượng, hiệu quả và các chỉ tiêu về môi trường, một số chỉ tiêu không còn phù hợp…
  3. Yêu cầu đổi mới là nội dung chủ yếu và được ghi trong Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 02/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được sửa đổi, bổ sung dựa trên những căn cứ pháp lý sau:

  • Khoản 1 Điều 8, Luật Thống kê quy định về thẩm quyền ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia:

“Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là căn cứ để phân công, phối hợp trong hoạt động thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở”.

  • Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 312/QĐ-TTg ngày 02/3/2010 về việc phê duyệt Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê quy định “Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê, bao gồm:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành và Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã, hình thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất”.

Đổi mới Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia tuân theo những nguyên tắc sau đây:

  • Đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý điều hành của Đảng, Nhà nước và Chính quyền các cấp.
  • Bảo đảm tính độc lập khách quan về chuyên môn nghiệp vụ thống kê, tăng cường các chỉ tiêu phản ánh về chất lượng, hiệu quả và các chỉ tiêu về môi trường.
  • Bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất giữa các hệ thống chỉ tiêu thống kê.
  • Bảo đảm sự phân công, phân cấp triệt để giữa hệ thống thống kê tập trung và Hệ thống thống kê Bộ, ngành; đồng thời nâng cao vai trò quản lý nhà nước về thống kê, hiệu quả thẩm định của hệ thống tổ chức thống kê tập trung đối với hoạt động thống kê của Bộ, ngành.
  • Bảo đảm tính phù hợp và khả thi trong quá trình thu thập, xử lý và công bố số liệu của các hệ thống chỉ tiêu thống kê.
  • Bảo đảm tính so sánh quốc tế.

Tính đồng bộ và thống nhất giữa các hệ thống chỉ tiêu thống kê được hiểu như sau:

Các hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm:

  1. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia,
  2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã
  3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành.

Tính thống nhất, đồng bộ được thể hiện trên các nội dung sau:

  1. Khái niệm;
  2. Nội dung;
  3. Phạm vi;
  4. Phương pháp tính, công thức tính;
  5. Phân tổ và nguồn số liệu.

Độc lập khách quan về chuyên môn, nghiệp vụ được hiểu là “Người làm công tác thống kê có quyền và trách nhiệm độc lập, thực hiện đúng đắn và đầy đủ những quy định về chuyên môn, nghiệp vụ. Không một tổ chức, cá nhân nào vì bất cứ lý do gì mà ép buộc tổ chức và người làm công tác thống kê vi phạm các phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ do cơ quan có thẩm quyền quy định.

Trong phân công thu thập, tổng hợp thì nguyên tắc bảo đảm sự phân công, phân cấp triệt để giữa Hệ thống thống kê tập trung và Hệ thống thống kê Bộ, ngành được thể hiện như sau:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 274 chỉ tiêu thì có 152 chỉ tiêu do Bộ, ngành chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp, chiếm 55,47%; 122 chỉ tiêu do Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp, chiếm 44,53%. Và đến Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 350 chỉ tiêu thì có 208 chỉ tiêu do Bộ, ngành chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp, chiếm 59,43%, 142 chỉ tiêu do Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp, chiếm 40,57%.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia gồm hai phần:

Phần 1:

  • Danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
  • Danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được kết cấu dưới dạng bảng ngoài cột số thứ tự (STT), cột Mã số, 5 cột tiếp theo gồm: Nhóm và tên chỉ tiêu, Phân tổ chủ yếu, Kỳ công bố, Lộ trình thực hiện, Cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp.

Phần 2:

Nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành theo Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Mỗi chỉ tiêu trong nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đều được chuẩn hóa theo 04 mục sau:

  • Mục đích, ý nghĩa Phần này ghi rõ chỉ tiêu phản ánh về vấn đề gì, đáp ứng yêu cầu nào.
  • Khái niệm, nội dung, phương pháp tính Phần khái niệm, nội dung ghi rõ chỉ tiêu là gì và bao gồm những yếu tố nào. Phần phương pháp tính ghi rõ công thức và đơn vị tính.
  • Phân tổ chủ yếu Phần này ghi rõ các phân tổ đối với từng chỉ tiêu. Với các kỳ công bố khác nhau có thể có các phân tổ khác nhau.
  • Nguồn số liệu Phần này ghi rõ chỉ tiêu lấy từ cuộc điều tra/báo cáo nào.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia gồm 350 chỉ tiêu thuộc 21 lĩnh vực, cụ thể như sau:

  • Đất đai, khí hậu, đơn vị hành chính: 10 chỉ tiêu
  • Dân số: 18 chỉ tiêu
  • Lao động, việc làm và bình đẳng giới: 20 chỉ tiêu
  • Doanh nghiệp, cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp: 14 chỉ tiêu
  • Đầu tư và xây dựng: 14 chỉ tiêu
  • Tài khoản quốc gia:  17 chỉ tiêu
  • Tài chính công: 12 chỉ tiêu
  • Tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh bất động sản: 28 chỉ tiêu
  • Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: 26 chỉ tiêu
  • Công nghiệp: 07 chỉ tiêu
  • Thương mại: 18 chỉ tiêu
  • Giá cả: 10 chỉ tiêu
  • Giao thông vận tải: 14 chỉ tiêu
  • Thông tin, truyền thông và Công nghệ thông tin: 14 chỉ tiêu
  • Khoa học và công nghệ: 11 chỉ tiêu
  • Giáo dục và đào tạo: 30 chỉ tiêu
  • Y tế và chăm sóc sức khoẻ: 22 chỉ tiêu
  • Văn hoá, thể thao và du lịch: 14 chỉ tiêu
  • Mức sống dân cư: 18 chỉ tiêu
  • Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp: 09 chỉ tiêu
  •  Bảo vệ môi trường: 24 chỉ tiêu

Để phù hợp với năng lực của ngành Thống kê, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia bao gồm 350 chỉ tiêu và chia thành hai nhóm:

  • Nhóm thứ nhất (Nhóm A) triển khai từ năm 2011;
  • Nhóm thứ hai (Nhóm B) triển khai từ năm 2012 đến năm 2014; Từ năm 2015 sẽ áp dụng toàn bộ các chỉ tiêu trong danh mục của các hệ thống chỉ tiêu thống kê mới.

Cụ thể, Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia này bao gồm 350 chỉ tiêu với 297 chỉ tiêu nhóm A, 36 chỉ tiêu nhóm B và 17 chỉ tiêu nhóm A,B.

Luật Thống kê không có quy định về hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã vì:

Việc quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã sẽ được quy định trong những văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn. Cụ thể như sau:

  • Theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia tại Điều 2 có quy định “Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm chuẩn hóa khái niệm, nội dung, phương pháp tính của từng chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã để thống nhất trong phạm vi cả nước”.
  • Ngoài ra, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền quyết định các cuộc điều tra thống kê để thu thập những chỉ tiêu mang tính chất đặc thù phục vụ yêu cầu quản lý của địa phương.

Thông tin thống kê do hệ thống tổ chức thống kê tập trung trực tiếp thực hiện bao gồm cả thông tin do Cục Thống kê trực thuộc Tổng cục Thống kê đặt tại cấp tỉnh thực hiện để phục vụ yêu cầu quản lý của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin thống kê của các đối tượng khác. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không có thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê mà chỉ quyết định các cuộc điều tra thống kê theo yêu cầu quản lý của địa phương ngoài các cuộc điều tra thống kê do Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành quyết định. Vì vậy, chỉ những thông tin thống kê là kết quả các cuộc điều tra thống kê phục vụ yêu cầu quản lý của địa phương quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật Thống kê mới thuộc thẩm quyền công bố của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã là tập hợp các chỉ tiêu về tình hình kinh tế- xã hội chủ yếu của địa phương theo từng cấp hành chính. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã có vai trò rất quan trọng:

  • Xét về cấu thành tổng thể thì hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã là thành tố cùng với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác hợp thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế- xã hội thống nhất từ trung ương đến địa phương;
  • Xét về đường đi của thông tin thì hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã là một trong những nguồn quan trọng cung cấp số liệu đầu vào cho hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia;
  • Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã phục vụ yêu cầu quản lý của địa phương. Sở dĩ vì ở nước ta cấp tỉnh, huyện, xã là các cấp quản lý hành chính, có chức năng quản lý kinh tế- xã hội trên địa bàn. Đây cũng là cấp kế hoạch và cấp ngân sách. Do đó, hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã còn có vai trò đặc biệt quan trọng phục vụ trực tiếp các cấp, các ngành quản lý và điều hành tình hình kinh tế- xã hội trên địa bàn. Từ trước đến nay chưa có văn bản pháp quy nào quy định chính thức về hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã. Thực tế, các Cục thống kê tỉnh/thành phố đang phải triển khai cùng một lúc nhiều hệ thống chỉ tiêu thống kê khác nhau do Tổng cục Thống kê yêu cầu cung cấp số liệu. Bên cạnh đó, các Cục Thống kê phải xây dựng một số hệ thống chỉ tiêu thống kê khác để thu thập và tổng hợp những số liệu phục vụ các cấp, các ngành theo yêu cầu của địa phương. Do đó các chỉ tiêu thống kê tỉnh, huyện, xã đang được thực hiện ở các địa phương tồn tại nhiều bất cập như: không thống nhất số liệu giữa địa phương công bố và số liệu do Tổng cục Thống kê công bố; có sự trùng lặp, chồng chéo thông tin giữa hai kênh thống kê ngành dọc và kênh thống kê Bộ/ngành… Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu xây dựng và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã ban hành dựa trên những căn cứ pháp lý sau:

  • Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 312/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2010 về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê” quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã như sau:
    • Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê, bao gồm: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành và Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã, hình thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất.
    • Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương khẩn trương xây dựng và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã đồng bộ với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành. Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã phải là một trong những nguồn cung cấp thông tin đầu vào quan trọng của Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê của Bộ, ngành; đáp ứng yêu cầu thông tin thống kê phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp ở địa phương; đồng thời phục vụ nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác.
  • Điều 3 của Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã để thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước.

Việc xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã đảm bảo các nguyên tắc sau:

  • Đáp ứng yêu cầu quản lý của cấp trên;
  • Đáp ứng yêu cầu quản lý và điều hành của địa phương;
  • Bảo đảm tính đồng bộ giữa các hệ thống chỉ tiêu;
  • Bảo đảm tính khả thi, tức là có nguồn thu thập, có thể thu thập được, thu thập một cách chính xác và thu thập được nhưng không quá tốn kém.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh được hình thành như sau:

  • Những chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có phân tổ đến cấp tỉnh thì tỉnh có chỉ tiêu đó;
  • Một số chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia không có phân tổ đến cấp tỉnh nhưng tỉnh cần và có khả năng tính được;
  • Những chỉ tiêu đặc thù của từng tỉnh, thành phố.

Danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã được kết cấu dưới dạng bảng bao gồm 07 cột sau:

  • Số thứ tự (STT)
  • Mã số
  • Nhóm, tên chỉ tiêu
  • Phân tổ chủ yếu
  • Kỳ công bố
  • Cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp
  • Mã số ghi ở Hệ thống chỉ tiêu cấp cao hơn (Chẳng hạn: Đối với Hệ thống chỉ tiêu cấp tỉnh thì cột này là cột mã số ghi ở Hệ thống chỉ tiêu quốc gia…).

Mỗi chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã đều được chuẩn hóa theo 04 mục (tương tự như Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia):

  1. Mục đích, ý nghĩa;
  2. Khái niệm, nội dung, phương pháp tính;
  3. Phân tổ chủ yếu;
  4. Nguồn số liệu.

Danh mục Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh bao gồm 242 chỉ tiêu thuộc 19 lĩnh vực sau:

  • Đất đai, khí hậu, đơn vị hành chính: 05 chỉ tiêu
  • Dân số: 18 chỉ tiêu
  • Lao động, việc làm và bình đẳng giới: 17 chỉ tiêu
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp: 15 chỉ tiêu
  • Đầu tư và xây dựng: 11 chỉ tiêu
  • Tài khoản quốc gia: 05 chỉ tiêu
  • Tài chính công, bảo hiểm: 06 chỉ tiêu
  • Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: 25 chỉ tiêu
  • Công nghiệp: 06 chỉ tiêu
  • Thương mại, giá cả: 09 chỉ tiêu
  • Giao thông vận tải: 08 chỉ tiêu
  • Thông tin, truyền thông và Công nghệ thông tin: 11 chỉ tiêu
  • Khoa học và công nghệ: 05 chỉ tiêu
  • Giáo dục và đào tạo: 28 chỉ tiêu
  • Y tế và chăm sóc sức khoẻ: 22 chỉ tiêu
  • Văn hoá, thể thao và du lịch: 09 chỉ tiêu
  • Mức sống dân cư: 17 chỉ tiêu
  • Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp: 09 chỉ tiêu
  • Bảo vệ môi trường: 16 chỉ tiêu

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp huyện bao gồm 80 chỉ tiêu thuộc 03 lĩnh vực sau:

  • Đất đai, đơn vị hành chính, dân số và lao động: 16 chỉ tiêu
  • Kinh tế: 27 chỉ tiêu
  • Xã hội, môi trường: 37 chỉ tiêu

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp huyện được hình thành như sau:

  • Xác định những chỉ tiêu mà tỉnh có phân tổ đến cấp huyện và thu thập từ cấp huyện;
  • Những chỉ tiêu chung trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh tuy không phân tổ đến cấp huyện nhưng huyện cần và có thể tính được;
  • Những chỉ tiêu phục vụ yêu cầu đặc thù của huyện.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã bao gồm 27 chỉ tiêu thuộc 03 lĩnh vực sau:

  • Đất đai và dân số: 08 chỉ tiêu
  • Kinh tế: 05 chỉ tiêu
  • Xã hội, môi trường: 14 chỉ tiêu

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã được hình thành như sau:

  • Xác định những chỉ tiêu huyện có phân tổ đến cấp xã và thu thập từ xã;
  • Một số chỉ tiêu chung trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp huyện tuy không phân tổ đến xã nhưng xã cần và có thể tính được;
  •  Một số chỉ tiêu phục vụ yêu cầu đặc thù của xã.

Khoản 7 Điều 3 Luật Thống kê quy định:

“Báo cáo thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo chế độ báo cáo thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp.”

Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chế độ báo cáo thống kê cơ sở. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo này.

Điều 17 Luật Thống kê quy định chế độ báo cáo thống kê cơ sở như sau:
Chế độ báo cáo thống kê cơ sở bao gồm các quy định về đối tượng thực hiện, phạm vi, nội dung báo cáo, kỳ hạn, thời hạn thực hiện, nơi nhận báo cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thu thập thông tin thống kê từ các chứng từ, sổ ghi chép số liệu ban đầu.

Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 40/2004/NĐ
-CP ngày 13/02/2004 quy định việc xây dựng chế độ báo cáo thống kê cơ sở phải bảo đảm các yêu cầu chủ yếu sau:
a) Không được trùng lặp về nội dung, kỳ báo cáo giữa các chế độ báo cáo;
b) Đáp ứng yêu cầu của chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực; c) Bảo đảm tính khả thi.

Điều 14 Nghị định số 40/2004/NĐ
-CP ngày 13/02/2004 quy định đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở bao gồm:

– Doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập;
– Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
– Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp;
– Các cơ quan, đơn vị thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
– xã hội, tổ chức chính trị xã hội
– nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
– nghề nghiệp có sử dụng ngân sách Nhà nước;
– Cơ quan, đơn vị khác được quy định cụ thể trong từng chế độ báo cáo thống kê cơ sở. Các đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở có trách nhiệm gửi báo cáo thống kê cơ sở cho Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan chủ quản và cơ quan khác được quy định trong chế độ báo cáo thống kê cơ sở.

Điều 18 Luật Thống kê quy định thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở như sau:
1. Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia do Tổng cục Thống kê được phân công thực hiện. 2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách sau khi có sự thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê.

Tổ chức là đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở có quyền và nghĩa vụ sau đây:

– Không được từ chối hoặc cản trở việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành;
– Ghi chép, tổng hợp số liệu, lập và nộp báo cáo theo quy định của chế độ báo cáo thống kê cơ sở;
– Lập báo cáo thống kê cơ sở trung thực, chính xác, đầy đủ trên cơ sở các chứng từ và sổ ghi chép số liệu ban đầu; tính toán, tổng hợp các chỉ tiêu đúng nội dung và phương pháp theo quy định của chế độ báo cáo thống kê cơ sở;
– Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm quy định của pháp luật về chế độ báo cáo thống kê cơ sở.

Điều 17 Nghị định số 40/2004/NĐ
-CP ngày 13/02/2004 quy định:
1. Tổng cục Thống kê có trách nhiệm thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ đối với chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. 2. Hồ sơ thẩm định gồm:
văn bản đề nghị thẩm định, dự thảo chế độ báo cáo thống kê, các mẫu biểu báo cáo, bản giải thích và bản hướng dẫn thực hiện. 3. Nội dung thẩm định gồm:
đối tượng áp dụng chế độ báo cáo, phạm vi thu thập, tổng hợp, mẫu biểu báo cáo, nguồn số liệu, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê, kỳ hạn báo cáo, nơi nhận báo cáo và các yêu cầu của việc xây dựng chế độ báo cáo. 4. Thời hạn thẩm định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thẩm định. 5. Cơ quan ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở, báo cáo thống kê tổng hợp nghiên cứu ý kiến thẩm định, sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo cho phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê trước khi ban hành. Quyết định ban hành chế độ báo cáo, mẫu biểu báo cáo, bản giải thích và bản hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo sau khi ban hành phải được gửi cho Tổng cục Thống kê.

Chế độ báo cáo thống kê cơ sở do Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm thu thập những thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia do cơ quan thống kê Trung ương (Tổng cục Thống kê) được phân công thực hiện. Chế độ báo cáo thống kê cơ sở do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nhằm thu thập những thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê phục vụ cho việc quản lý của ngành, lĩnh vực sau khi có sự thẩm định của cơ quan thống kê Trung ương.

Luật Thống kê không quy định thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do:

– Chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành để đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê quốc gia và các Bộ, ngành, nhưng cũng đáp ứng nhu cầu thông tin chủ yếu của cấp tỉnh.
– Trong trường hợp cần thiết, căn cứ vào nhu cầu thông tin đặc thù của địa phương, UBND cấp tỉnh được quyền quyết định các cuộc điều tra thống kê theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật Thống kê.

Một tổ chức vừa là đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở, vừa là đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp là cơ quan Nhà nước, cơ quan thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
– xã hội, tổ chức chính trị xã hội
– nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
– nghề nghiệp từ cấp huyện trở lên. Những cơ quan này vừa phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở khi báo cáo thông tin thống kê của riêng cơ quan, vừa là đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp khi phải tổng hợp các thông tin từ các đơn vị cơ sở thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách (bao gồm cả cơ quan đó).

Chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành theo Quyết định số 77/2010/QĐ
-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 31/3/2011, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 04/2011/TT
-BKHĐT quy định hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần thiết phải đổi mới xuất phát từ:

– Sự thay đổi của các hệ thống chỉ tiêu thống kê gồm Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Hệ thống chỉ tiêu thống kê tỉnh, huyện, xã đòi hỏi các nguồn thông tin đầu vào cần thay đổi với nhiều chỉ tiêu mới cũng như với các phân tổ và tần suất thu thập mới.
– Chế độ báo cáo thống kê cơ sở trước đây gồm chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước ban hành theo Quyết định số 62/2003/QĐ
-BKH ngày 27 tháng 01 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; chế độ báo cáo áp dụng đối với tổng công ty ban hành theo Quyết định số 373/QĐ
-TCTK ngày 10 tháng 9 năm 1996 và Thông tư Liên bộ số 01/LB
-TCTK
-BKHĐT ngày 31 tháng 3 năm 1997 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã không còn phù hợp trong điều kiện mới khi mà yêu cầu thu thập thông tin đã có thay đổi và đối tượng thu thập đã có những đặc điểm hoạt động mới.
– Chế độ báo cáo thống kê cơ sở mới còn là cơ sở để hình thành mạng lưới thu thập thông tin đầu vào và thông tin trung gian của không những Tổng cục Thống kê mà còn các Bộ, ngành và các đơn vị có nhu cầu thông tin khác phục vụ sự quản lý, điều hành của các cơ quan, đơn vị khác.

Chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ban hành dựa trên những căn cứ pháp lý sau:

– Luật Thống kê tại Điều 8 quy định về thẩm quyền ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Điều 17, 18 quy định về Chế độ và thẩm quyền ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở;
– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 312/QĐ
-TTg ngày 2 tháng 3 năm 2010 về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê”
– Điều 3 của Quyết định số 43/2010/QĐ
-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã để thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước.

Việc xây dựng Chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư nước ngoài đảm bảo các nguyên tắc sau:

– Phù hợp với các Luật có liên quan như Luật Thống kê, Luật Doanh nghiệp 2005… về đối tượng, phạm vi cũng như các nội dung khác có liên quan đến doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng (tính phù hợp).
– Phải phản ánh đầy đủ phạm vi theo yêu cầu đối với nguồn thông tin đầu vào đối với việc đáp ứng của chế độ báo cáo (nhằm thay thế cho 3 chế độ trước gồm doanh nghiệp nhà nước; tổng công ty, tập đoàn và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Mặt khác phải cùng với điều tra hình thành một hệ thống đầy đủ nguồn thông tin đầu vào (tính đầy đủ).
– Phải được thiết kế đảm bảo dễ thu thập (tính khả thi).

Quyết định số 77/2010/QĐ
-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2011 và bãi bỏ các văn bản sau:

– Quyết định số 62/2003/QĐ
-BKH ngày 27 tháng 01 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Chế độ báo cáo thống kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước;
– Quyết định số 373/QĐ
-TCTK ngày 10 tháng 9 năm 1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về việc ban hành Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổng công ty thành lập theo Quyết định của Thủ tướng, các Tổng công ty thành lập theo Quyết định của Bộ trưởng (gọi tắt là Tổng công ty 90, 91) và các tổng công ty thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Thông tư liên tịch số 01/LB
-TCTK
-BKHĐT ngày 31/3/1997 giữa Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về quy định Chế độ báo cáo thống kê đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khi thực hiện Quyết định số 77/2010/QĐ
-TTg của Thủ tướng Chính phủ cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:

– Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nghĩa vụ chấp hành báo cáo đầy đủ, chính xác những chỉ tiêu quy định trong từng biểu mẫu báo cáo; lập báo cáo theo đúng quy định về thời điểm báo cáo và thời kỳ báo cáo; gửi báo cáo để bảo đảm đúng ngày nhận báo cáo của đơn vị nhận báo cáo.
– Phương thức gửi báo cáo:
Các báo cáo thống kê được thực hiện dưới 2 hình thức:
bằng văn bản và bằng tệp dữ liệu báo cáo (gửi kèm thư điện tử).

Bao gồm những loại hình sau:

– Doanh nghiệp nhà nước:
Theo Luật Doanh nghiệp gồm 100% vốn nhà nước và trên 50% vốn nhà nước theo các loại hình pháp nhân.
– Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước;
– Doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Theo Luật Đầu tư gồm doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư nước ngoài trên 10%.
– Văn phòng Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước (báo cáo phần hoạt động của Văn phòng Tập đoàn, Tổng công ty và các đơn vị hạch toán phụ thuộc).

1. Tên doanh nghiệp là tên theo đúng theo giấy phép kinh doanh.
– Tên giao dịch là tên bảng hiệu hoặc tên viết tắt dùng trong giao dịch kinh doanh.
– Năm bắt đầu sản xuất kinh doanh là năm doanh nghiệp chính thức bắt đầu đi vào sản xuất kinh doanh. Chú ý:

+ Trường hợp doanh nghiệp thay đổi tên thì năm bắt đầu sản xuất kinh doanh là năm bắt đầu hoạt động trước đây.
+ Trường hợp các doanh nghiệp hợp nhất thì năm bắt đầu sản xuất kinh doanh là năm hợp nhất.
– Mã số thuế của doanh nghiệp là mã 10 số của doanh nghiệp do cơ quan thuế cấp. 2. Địa chỉ doanh nghiệp là địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp (bao gồm địa chỉ theo danh mục hành chính, số điện thoại, fax và email lấy theo số của đơn vị phòng ban chịu trách nhiệm chính về số liệu ghi trong báo cáo).

Loại hình kinh tế của doanh nghiệp được xác định như sau:

– 01:
100% vốn Nhà nước trung ương
– 02:
100% vốn Nhà nước địa phương
– 03:
Vốn Nhà nước trung ương > 50%
– 04:
Vốn Nhà nước địa phương > 50%
– 05:
100% vốn đầu tư nước ngoài
– 06:
Vốn đầu tư nước ngoài > 50% (với nhà nước)
– 07:
Vốn đầu tư nước ngoài > 50% (với ngoài nhà nước)
– 08:
Vốn đầu tư nước ngoài > 50% (với nhà nước và ngoài nhà nước)
– 09:
Vốn đầu tư nước ngoài không quá 50%, vốn nhà nước lớn nhất (nếu vốn nhà nước >50% thì ghi ở mã 03 hoặc 04)
– 10:
Vốn đầu tư nước ngoài không quá 50%, vốn tập thể lớn nhất
– 11:
Vốn đầu tư nước ngoài không quá 50%, vốn tư nhân lớn nhất
– 12:
Vốn đầu tư nước ngoài không quá 50% nhưng lớn nhất.

Ngành sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị sản xuất trong năm của doanh nghiệp. Trong trường hợp không xác định được giá trị sản xuất thì căn cứ vào ngành sử dụng nhiều lao động nhất.

Ghi thông tin về giám đốc/chủ doanh nghiệp như sau:
Ghi những thông tin về Giám đốc hoặc người đứng đầu doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chức danh Giám đốc thì ghi những thông tin của người hiện có chức vụ cao nhất phụ trách doanh nghiệp.
– Năm sinh:
Ghi năm sinh theo năm dương lịch.
– Trình độ chuyên môn:
Căn cứ vào bằng cấp/giấy chứng nhận để ghi và ghi loại bằng cấp cao nhất hiện có. Nếu không có bằng cấp/giấy chứng nhận hoặc đào tạo dưới các hình thức khác thì khoanh tròn chữ số 9
– Trình độ khác. Trong trường hợp một người đang học hoặc vừa mới học xong một khoá học ở trình độ chuyên môn nào đó, nhưng chưa được cấp bằng/giấy chứng nhận thì vẫn không được coi là có trình độ chuyên môn ở mức đó. Ví dụ:
Giám đốc đã có bằng đại học, vừa mới bảo vệ luận án tiến sỹ, nhưng chưa được cấp bằng thì vẫn ghi trình độ đại học (khoanh vào chữ số 3), không ghi là tiến sỹ.

Mục này chỉ liệt kê các ngành thực tế có hoạt động trong năm. Nếu đăng ký kinh doanh có nhiều ngành nhưng thực tế trong năm không hoạt động thì không ghi vào mục này.

Ngoài ngành sản xuất kinh doanh (SXKD) chính, nếu doanh nghiệp còn các ngành SXKD khác thực tế có hoạt động trong năm thì ghi vào các dòng tiếp theo. Ngành SXKD khác phải là những ngành tạo ra các sản phẩm, dịch vụ là hàng hoá có bán ra ngoài phạm vi doanh nghiệp. Không ghi vào mục này những ngành SXKD nằm trong dây chuyền sản xuất chính nhằm phục vụ cho ngành sản xuất chính của doanh nghiệp như:
Xưởng cơ khí làm nhiệm vụ sửa chữa thiết bị trong nội bộ doanh nghiệp; phân xưởng làm vỏ hộp trong các nhà máy hoa quả hộp,…

Báo cáo tháng được áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động trong các ngành:
khai khoáng, công nghiệp chế biến, điện, khí đốt, cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải, thông tin và truyền thông, kinh doanh bất động sản, vận tải kho bãi, thương mại và dịch vụ. Chỉ tiêu báo cáo:
hàng tháng các doanh nghiệp phải báo cáo các chỉ tiêu sau:

– Doanh thu thuần theo ngành hoạt động;
– Số lượng sản lượng/sản phẩm theo ngành hoạt động. Ngoài ra, đối với doanh nghiệp có hoạt động xuất/nhập khẩu hàng hoá phải báo cáo các chỉ tiêu:
lượng và giá trị xuất/nhập khẩu phân theo nước và mặt hàng. Đối với doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phải báo cáo các chỉ tiêu:
vốn điều lệ, vốn đầu tư thực hiện chia theo nguồn vốn, lao động, thuế và các khoản nộp ngân sách.

Báo cáo quý được áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, xây dựng; doanh nghiệp có hoạt động thu/chi dịch vụ với nước ngoài, hoặc doanh nghiệp là chủ đầu tư. Các chỉ tiêu báo cáo bao gồm:
Doanh nghiệp có hoạt động xây dựng báo cáo các chỉ tiêu giá trị sản xuất xây dựng chia theo loại công trình; Doanh nghiệp có hoạt động thu/chi dịch vụ với nước ngoài báo cáo các chỉ tiêu giá trị thu/chi theo loại dịch vụ; Doanh nghiệp là chủ đầu tư báo cáo các chỉ tiêu:
vốn đầu tư thực hiện chia theo nguồn vốn và khoản mục đầu tư.

Báo cáo 6 tháng được áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Các chỉ tiêu báo cáo bao gồm:

– Doanh nghiệp có hoạt động trồng trọt báo cáo các chỉ tiêu:
diện tích gieo trồng cây hàng năm và diện tích cây lâu năm hiện có;
– Doanh nghiệp có hoạt động chăn nuôi báo cáo các chỉ tiêu:
số lượng và sản lượng một số vật nuôi chủ yếu;
– Doanh nghiệp có hoạt động lâm nghiệp báo cáo các chỉ tiêu:
diện tích rừng trồng; sản lượng khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ;
– Doanh nghiệp có hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ sản báo cáo các chỉ tiêu:
sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác. Ngoài ra, toàn bộ các doanh nghiệp, dự án thuộc đối tượng phải làm báo cáo tháng và quý, đến kỳ làm báo cáo 6 tháng phải báo cáo các chỉ tiêu:
lao động và thu nhập của người lao động.

Báo cáo năm được áp dụng đối với toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các chỉ tiêu báo cáo bao gồm:
Những chỉ tiêu chung áp dụng đối với toàn bộ các doanh nghiệp:

– Thông tin định danh của doanh nghiệp;
– Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm doanh thu chia theo ngành hoạt động, thuế và các khoản phí, lệ phí nộp ngân sách, lợi nhuận;
– Lao động và thu nhập của người lao động; đóng góp của doanh nghiệp về BHXH, y tế, thất nghiệp và kinh phí công đoàn;
– Vốn đầu tư thực hiện trong năm chia theo nguồn vốn, khoản mục đầu tư;
– Các khoản chi và đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; xử lý và bảo vệ môi trường;
– Các chỉ tiêu về ứng dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp;
– Các chỉ tiêu phản ánh tình hình xử lý rác thải doanh nghiệp và bảo vệ môi trường. Những chỉ tiêu chuyên ngành theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp:
Ngoài các chỉ tiêu chung nêu ở mục a, các doanh nghiệp, dự án còn phải báo cáo các chỉ tiêu chuyên ngành theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu phản ánh về sản phẩm/sản lượng, quy mô, năng lực sản xuất của doanh nghiệp, cụ thể:
Doanh nghiệp có hoạt động sản xuất công nghiệp báo cáo các chỉ tiêu:
Khối lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ, tồn kho và giá trị sản phẩm xuất kho tiêu thụ trong năm. Doanh nghiệp có hoạt động xây dựng báo cáo các chỉ tiêu:
Giá trị sản xuất xây dựng theo loại công trình; diện tích nhà ở hoàn thành trong năm theo chất lượng nhà, loại nhà và công trình thực hiện trong năm. Doanh nghiệp có hoạt động thương mại báo cáo các chỉ tiêu:
Số cơ sở và diện tích kinh doanh. Doanh nghiệp có hoạt động dịch vụ lưu trú báo cáo các chỉ tiêu:
Số cơ sở kinh doanh; lượt khách/ngày khách phục vụ. Doanh nghiệp có hoạt động vận tải, kho bãi, bốc xếp báo cáo các chỉ tiêu:
Số phương tiện vận tải chia theo loại đường; sản phẩm vận tải, bốc xếp chia theo loại đường. Doanh nghiệp có hoạt động dịch vụ ăn uống báo cáo các chỉ tiêu:
Số cơ sở kinh doanh theo ngành. Doanh nghiệp có hoạt động du lịch báo cáo các chỉ tiêu:
Số cơ sở; lượt khách/ngày khách du lịch theo tua; Doanh nghiệp có hoạt động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản báo cáo các chỉ tiêu:

– Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây;
– Số lượng, sản phẩm một số vật nuôi;
– Sản lượng khai thác lâm sản;
– Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác;
– Tàu thuyền khai thác hải sản có động cơ. Doanh nghiệp có hoạt động thu gom và xử lý rác thải báo cáo các chỉ tiêu:
Khối lượng rác thải đã thu gom/xử lý trên địa bàn. Doanh nghiệp có hoạt động xuất/nhập khẩu hàng hoá báo cáo các chỉ tiêu:
lượng và giá trị xuất/nhập khẩu phân theo nước và mặt hàng. Doanh nghiệp có hoạt động thu/chi dịch vụ với nước ngoài báo cáo các chỉ tiêu:
Giá trị thu/chi theo loại dịch vụ và nước đối tác.

– Báo cáo tháng:
ngày 12 hàng tháng;
– Báo cáo quý:
ngày 12 tháng cuối quý;
– Báo cáo 6 tháng:
ngày 12 tháng 6 và ngày 12 tháng 12;
– Báo cáo năm:
Ngày 31 tháng 3 năm sau; Báo cáo năm đối với hoạt động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:
ước năm vào ngày 12 tháng 12 và chính thức năm vào ngày 25 tháng 1 năm sau; Báo cáo số lượng và sản phẩm chăn nuôi vào ngày 12 tháng 10.

– Tổng cục Thống kê (Cục Thống kê các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương sở tại của doanh nghiệp) nhận báo cáo của toàn bộ doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
– Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhận báo cáo của doanh nghiệp, dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm 37 biểu mẫu, trong đó:

– Báo cáo tháng gồm:
10 biểu;
– Báo cáo quý gồm:
04 biểu;
– Báo cáo 6 tháng gồm:
01 biểu;
– Báo cáo năm gồm:
22 biểu.

Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhận tất cả 37 biểu mẫu báo cáo bao gồm:
1. 10 báo cáo tháng; 2. 04 báo cáo quý; 3. 01 báo cáo 6 tháng; 4. 22 báo cáo năm.

Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu kinh tế (KKT), khu công nghệ cao (KCNC) nhận 05 biểu mẫu báo cáo sau:
1. Báo cáo tháng gồm:

– Báo cáo vốn đầu tư thực hiện (Biểu 01
-CS/VĐTƯ).
– Báo cáo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (Biểu 01
-CS/ĐTNN). 2. Báo cáo quý gồm:

– Báo cáo vốn đầu tư thực hiện (Biểu 02
-CS/VĐTƯ) 3. Báo cáo năm gồm:

– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD).
– Báo cáo thực hiện góp vốn điều lệ (Biểu 04
-CS/GVĐL)

Tất cả các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện các biểu mẫu báo cáo sau:

– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD).

Tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải thực hiện các biểu mẫu báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (Biểu 01
-CS/ĐTNN);
– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD);
– Báo cáo thực hiện góp vốn điều lệ (Biểu 04
-CS/GVĐL).

Tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải thực hiện các biểu mẫu báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (Biểu 01
-CS/ĐTNN);
– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD).
– Báo cáo thực hiện vốn góp điều lệ (Biểu 04
-CS/GVĐL).

Doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất công nghiệp phải thực hiện các báo cáo sau:
1. Những báo cáo chung:

– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD). 2. Ngoài ra, do có hoạt động sản xuất công nghiệp nên doanh nghiệp phải thực hiện thêm các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động sản xuất công nghiệp (Biểu 01
-CS/SXCN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất công nghiệp (Biểu 04
-CS/SXCN).

Doanh nghiệp nhà nước hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa phải thực hiện các báo cáo sau:
1. Những báo cáo chung:

– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD). 2. Ngoài ra, do có hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nên doanh nghiệp phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa (Biểu 01
-CS/SKHH);
– Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hóa (Biểu 01
-CS/NKHH);
– Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa (Biểu 04
-CS/SKHH);
– Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hóa (Biểu 04
-CS/NKHH).

Doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện các báo cáo sau:
1. Những báo cáo chung:

– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD). 2. Ngoài ra, doanh nhiệp phải thực hiện các báo cáo khác căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, cụ thể như sau:

(1) Nếu doanh nghiệp có hoạt động sản xuất công nghiệp thì phải thực hiện thêm các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động sản xuất công nghiệp (Biểu 01
-CS/SXCN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất công nghiệp (Biểu 02
-CS/SXCN).
(2) Nếu doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa (Biểu 01
-CS/SKHH);
– Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hóa (Biểu 01
-CS/NKHH);
– Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa (Biểu 04
-CS/SKHH);
– Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hóa (Biểu 04
-CS/NKHH). (3) Nếu doanh nghiệp có hoạt động bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động thương mại (Biểu 01
-CS/HĐTM);
– Báo cáo hoạt động thương mại (Biểu 04
-CS/HĐTM); (4) Nếu doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh dịch vụ, trừ dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, ăn uống, lưu trú, du lịch thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động dịch vụ kinh doanh khác (Biểu 01
-CS/HĐDV);
– Báo cáo hoạt động dịch vụ kinh doanh khác (Biểu 04
-CS/HĐDV). (5) Nếu doanh nghiệp có hoạt động vận tải, kho bãi thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động vận tải, kho bãi (Biểu 01
-CS/VTKB);
– Báo cáo hoạt động vận tải, kho bãi (Biểu 04
-CS/VTKB). (6) Nếu doanh nghiệp có hoạt động bưu chính, chuyển phát, viễn thông thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động bưu chính, chuyển phát, viễn thông (Biểu 01
-CS/BCVT); (7) Nếu doanh nghiệp có hoạt động lưu trú, dịch vụ ăn uống và du lịch thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động lưu trú, dịch vụ ăn uống và du lịch (Biểu 01
-CS/LTDL)
– Báo cáo hoạt động dịch vụ lưu trú (Biểu 04
-CS/HĐLT);
– Báo cáo hoạt động dịch vụ ăn uống (Biểu 04
-CS/DVAU);
– Báo cáo du lịch lữ hành và các hoạt động du lịch (Biểu 04
-CS/DLLH). (8) Nếu doanh nghiệp có hoạt động xây dựng thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động xây dựng (Biểu 02
-CS/HĐXD);
– Báo cáo hoạt động xây dựng (Biểu 04
-CS/HĐXD);
– Báo cáo công trình, hạng mục công trình thực hiện trong năm (Biểu 04
-CS/SPXD). (9) Nếu doanh nghiệp có hoạt động thu, chi về dịch vụ từ nước ngoài thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động thu về dịch vụ từ nước ngoài (Biểu 02
-CS/XKDV);
– Báo cáo hoạt động thu về dịch vụ từ nước ngoài (Biểu 04
-CS/XKDV);
– Báo cáo hoạt động chi về dịch vụ cho nước ngoài (Biểu 02
-CS/NKDV);
– Báo cáo hoạt động chi về dịch vụ cho nước ngoài (Biểu 04
-CS/NKDV). (10) Nếu doanh nghiệp có hoạt động cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động dịch vụ công nghệ thông tin (Biểu 04
-CS/CNTT). (11) Nếu doanh nghiệp có hoạt động trồng trọt thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo diện tích, năng suất, sản lượng cây nông nghiệp (Biểu 04
-CS/SLNN); (12) Nếu doanh nghiệp có hoạt động chăn nuôi thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo số lượng và sản phẩm chăn nuôi (Biểu 04
-CS/SPCN). (13) Nếu doanh nghiệp có hoạt động lâm nghiệp thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo trồng rừng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản (Biểu 04
-CS/KTLS). (14) Nếu doanh nghiệp có hoạt động nuôi trồng thủy sản thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo nuôi trồng thủy sản (Biểu 04
-CS/NTTS). (15) Nếu doanh nghiệp có hoạt động khai thác thủy sản thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo khai thác thủy sản (Biểu 04
-CS/KTTS). (16) Nếu doanh nghiệp có hoạt động thu gom và xử lý rác thải thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo kết quả hoạt động thu gom và xử lý rác thải (Biểu 04
-CS/TGRT). (17) Nếu doanh nghiệp có hoạt động đầu tư (chủ đầu tư) thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo vốn đầu tư thực hiện (Biểu 01
-CS/VĐTƯ);
– Báo cáo vốn đầu tư thực hiện (Biểu 02
-CS/VĐTƯ).

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải thực hiện các báo cáo sau:
Những báo cáo chung:

– Báo cáo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (Biểu 01
-CS/ĐTNN);
– Báo cáo lao động và thu nhập (Biểu 03
-CS/LĐTN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (Biểu 04
-CS/SXKD);
– Báo cáo thực hiện góp vốn điều lệ (Biểu 04
-CS/GVĐL). Ngoài ra, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện các báo cáo khác căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, cụ thể như sau:

(1) Nếu doanh nghiệp có hoạt động sản xuất công nghiệp thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động sản xuất công nghiệp (Biểu 01
-CS/SXCN);
– Báo cáo hoạt động sản xuất công nghiệp (Biểu 04
-CS/SXCN).
(2) Nếu doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa (Biểu 01
-CS/SKHH);
– Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hóa (Biểu 01
-CS/NKHH);
– Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa (Biểu 04
-CS/SKHH);
– Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hóa (Biểu 04
– CS/NKHH). (3) Nếu doanh nghiệp có hoạt động bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động thương mại (Biểu 01
-CS/HĐTM);
– Báo cáo hoạt động thương mại (Biểu 04
-CS/HĐTM); (4) Nếu doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh dịch vụ, trừ dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, ăn uống, lưu trú, du lịch thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động dịch vụ kinh doanh khác (Biểu 01
-CS/HĐDV);
– Báo cáo hoạt động dịch vụ kinh doanh khác (Biểu 04
-CS/HĐDV). (5) Nếu doanh nghiệp có hoạt động vận tải, kho bãi thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động vận tải, kho bãi (Biểu 01
-CS/VTKB);
– Báo cáo hoạt động vận tải, kho bãi (Biểu 04
-CS/VTKB). (6) Nếu doanh nghiệp có hoạt động bưu chính, chuyển phát, viễn thông thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động bưu chính, chuyển phát, viễn thông (Biểu 01
-CS/BCVT); (7) Nếu doanh nghiệp có hoạt động lưu trú, dịch vụ ăn uống và du lịch thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động lưu trú, dịch vụ ăn uống và du lịch (Biểu 01
-CS/LTDL)
– Báo cáo hoạt động dịch vụ lưu trú (Biểu 04
-CS/HĐLT);
– Báo cáo hoạt động dịch vụ ăn uống (Biểu 04
-CS/DVAU);
– Báo cáo du lịch lữ hành và các hoạt động du lịch (Biểu 04
-CS/DLLH). (8) Nếu doanh nghiệp có hoạt động xây dựng thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động xây dựng (Biểu 02
-CS/HĐXD);
– Báo cáo hoạt động xây dựng (Biểu 04
-CS/HĐXD);
– Báo cáo công trình, hạng mục công trình thực hiện trong năm (Biểu 04
-CS/SPXD). (9) Nếu doanh nghiệp có hoạt động thu, chi về dịch vụ từ nước ngoài thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động thu về dịch vụ từ nước ngoài (Biểu 02
-CS/XKDV);
– Báo cáo hoạt động thu về dịch vụ từ nước ngoài (Biểu 04
-CS/XKDV);
– Báo cáo hoạt động chi về dịch vụ cho nước ngoài (Biểu 02
-CS/NKDV);
– Báo cáo hoạt động chi về dịch vụ cho nước ngoài (Biểu 04
-CS/NKDV). (10) Nếu doanh nghiệp có hoạt động cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo hoạt động dịch vụ công nghệ thông tin (Biểu 04
-CS/CNTT). (11) Nếu doanh nghiệp có hoạt động trồng trọt thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo diện tích, năng suất, sản lượng cây nông nghiệp (Biểu 04
-CS/SLNN); (12) Nếu doanh nghiệp có hoạt động chăn nuôi thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo số lượng và sản phẩm chăn nuôi (Biểu 04
-CS/SPCN). (13) Nếu doanh nghiệp có hoạt động lâm nghiệp thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo trồng rừng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản (Biểu 04
-CS/KTLS). (14) Nếu doanh nghiệp có hoạt động nuôi trồng thủy sản thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo nuôi trồng thủy sản (Biểu 04
-CS/NTTS). (15) Nếu doanh nghiệp có hoạt động khai thác thủy sản thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo khai thác thủy sản (Biểu 04
-CS/KTTS). (16) Nếu doanh nghiệp có hoạt động thu gom và xử lý rác thải thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo kết quả hoạt động thu gom và xử lý rác thải (Biểu 04
-CS/TGRT). (17) Nếu doanh nghiệp có hoạt động đầu tư (chủ đầu tư) thì phải thực hiện các báo cáo sau:

– Báo cáo vốn đầu tư thực hiện (Biểu 01
-CS/VĐTƯ);
– Báo cáo vốn đầu tư thực hiện (Biểu 02
-CS/VĐTƯ).

Luật Thống kê và các văn bản có liên quan không quy định việc Ban Quản lý KCN, KCX, KKT, KCNC, KKTCK được ban hành chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc KCN, KCX, KKT, KCNC, KKTCK. Tuy nhiên, do nhu cầu thu thập thông tin phục vụ quản lý điều hành của Ban Quản lý KCN, KCX, KKT, KCNC, KKTCK thì Ban quản lý có thể ban hành chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc nội bộ KCN, KCX, KKT, KCNC, KKTCK.

Khẳng định trên là sai, vì:
Theo quy định tại khoản 2, Điều 18 Luật Thống kê thì:
“Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách sau khi có sự thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê”. Theo quy định này thì trong trường hợp Bộ, ngành có ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách mà đối tượng áp dụng là doanh nghiệp nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện chế độ báo cáo này.

Khẳng định trên là sai, vì:
Theo quy định tại khoản 2, Điều 18 Luật Thống kê thì:
“Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách sau khi có sự thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê”. Theo quy định này thì trong trường hợp Bộ, ngành có ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở để thu thập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách mà đối tượng áp dụng là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì doanh nghiệp này phải thực hiện chế độ báo cáo này. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc KCN, KCX, KKT, KCNC, KKTCK thì doanh nghiệp này phải thực hiện chế độ báo cáo nội bộ do Ban quản lý KCN, KCX, KKT, KCNC, KKTCK ban hành