BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

Kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2021 của nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới dần phục hồi, một số quốc gia đẩy mạnh việc tiêm vắc-xin phòng dịch Covid-19 và đã đạt được những kết quả ban đầu, các nước phát triển dần mở cửa trở lại. Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức quốc tế khác đã đưa ra dự báo khả quan về triển vọng kinh tế toàn cầu[1]. Các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU dự báo đạt mức tăng trưởng khá nhờ nỗ lực tiêm vắc-xin và ban hành những gói cứu trợ nền kinh tế[2]. Thương mại toàn cầu tiếp tục phục hồi[3], giá cả hàng hóa thế giới có xu hướng tăng, lạm phát, rủi ro tài chính gia tăng ở một số nền kinh tế lớn, ảnh hưởng đến đầu tư, sản xuất và xuất nhập khẩu. Trong nước, tiếp đà những kết quả quan trọng, ấn tượng đã đạt được của năm 2020, kinh tế vĩ mô nước ta tiếp tục ổn định, thời tiết những tháng đầu năm tương đối thuận lợi, sản xuất kinh doanh những tháng đầu năm đạt được những kết quả khá. Tuy nhiên, làn sóng dịch Covid-19 thứ tư bùng phát từ cuối tháng Tư, đặc biệt tại các tỉnh kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện vẫn diễn biến phức tạp đã đặt ra không ít thách thức trong công tác quản lý, điều hành để phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

Trước bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen, nhiệm vụ thực hiện “mục tiêu kép” được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt. Các giải pháp phòng chống dịch Covid-19 được các bộ, ngành, địa phương đồng thuận thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả, với mục tiêu hàng đầu là chăm lo, bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh của người dân, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2021. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý II và 6 tháng đầu năm 2021 như sau:

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64% mặc dù dịch Covid-19 bùng phát tại một số địa phương trên cả nước từ cuối tháng Tư cho thấy sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự chung sức, đồng lòng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước và lực lượng tuyến đầu chống dịch để kiểm soát dịch bệnh, thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội (GDP quý II/2021 ước tính tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước).

Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước (đóng góp 8,17% vào mức tăng chung); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,36% (đóng góp 59,05%), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 11,42%; khu vực dịch vụ tăng 3,96% (đóng góp 32,78%), trong đó các ngành dịch vụ thị trường như: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,63%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,27%.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,61%; khu vực dịch vụ chiếm 41,13%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,11%.

Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2020; tích lũy tài sản tăng 5,67%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 24,05%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 22,76%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 68,3 tạ/ha; chăn nuôi lợn phục hồi và chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, tổng đàn lợn và gia cầm thời điểm cuối tháng Sáu ước tăng lần lượt 11,6% và 5,4% so với cùng thời điểm năm trước. Xuất khẩu thủy sản có dấu hiệu hồi phục, nhu cầu nhập khẩu cá tra tại các thị trường nước ngoài tăng trở lại, sản lượng tôm thẻ chân trắng 6 tháng đầu năm tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước.

a) Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3.006,7 nghìn ha, bằng 99,4% vụ đông xuân năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.086,6 nghìn ha, bằng 99%; các địa phương phía Nam đạt 1.920,1 nghìn ha, bằng 99,7%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân của cả nước ước tính đạt 68,3 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước.

Tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.846,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 105,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.448,7 nghìn ha, bằng 104,7%. Đến nay có 147,7 nghìn ha diện tích lúa hè thu sớm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thu hoạch, chiếm 10,2% diện tích xuống giống.

Đến giữa tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 558,5 nghìn ha ngô, bằng 99,1% cùng kỳ năm trước; 73,1 nghìn ha khoai lang, bằng 100,3%; 19,4 nghìn ha đậu tương, bằng 87%; 131,7 nghìn ha lạc, bằng 96,9%; 731,2 nghìn ha rau, đậu, bằng 100,9%.

Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm 6 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước: Chè búp đạt 488,7 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su đạt 390,6 nghìn tấn, tăng 3%; điều đạt 342,8 nghìn tấn, tăng 4,6%; hồ tiêu đạt 271,7 nghìn tấn, tăng 3,1%. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá: Thanh long đạt 671,7 nghìn tấn, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; xoài đạt 568,2 nghìn tấn, tăng 3,3%; cam đạt 326,1 nghìn tấn, tăng 3,1%; bưởi đạt 258,5 nghìn tấn, tăng 10,7%; vải đạt 154,2 nghìn tấn, tăng 7,9%, nhãn đạt 179,9 nghìn tấn, tăng 3,4%.

Tính đến thời điểm cuối tháng 6/2021, đàn trâu của cả nước giảm 3,1% so với cùng thời điểm năm 2020; đàn bò tăng 2,5%; đàn lợn tăng 11,6%; tổng số gia cầm tăng 5,4%. Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 60,9 nghìn tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2020 (quý II đạt 27,4 nghìn tấn, giảm 1%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 231 nghìn tấn, tăng 4,2% (quý II đạt 106,4 nghìn tấn, tăng 4,6%); sản lượng sữa bò tươi đạt 561,1 nghìn tấn, tăng 11,2% (quý II đạt 285,5 nghìn tấn, tăng 12,8%); sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 2.002,2 nghìn tấn, tăng 8,1% (quý II đạt 1.003,7 nghìn tấn, tăng 8,6%), sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 932,2 nghìn tấn, tăng 6,1% (quý II ước đạt 450,5 nghìn tấn, tăng 6,1%); sản lượng trứng gia cầm đạt 8,4 tỷ quả, tăng 5% (quý II ước đạt 4 tỷ quả, tăng 5,6%).

Tính đến ngày 21/6/2021, cả nước không còn dịch tai xanh ở lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Hà Nội, Cao Bằng, Hòa Bình, Tiền Giang, Đồng Tháp; dịch lở mồm long móng còn ở Sơn La, Hà Tĩnh; dịch tả lợn châu Phi còn ở 30 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 32 địa phương chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung 6 tháng ước tính đạt 110,4 nghìn ha, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 77,2 nghìn ha, tăng 3,7%); số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 46,5 triệu cây, tăng 2,2% (quý II đạt 20,1 triệu cây, tăng 2,6%); sản lượng gỗ khai thác đạt 7.945,6 nghìn m3, tăng 5,7% (quý II đạt 4.909,7 nghìn m3, tăng 5,9%); sản lượng củi khai thác đạt 9,9 triệu ste, giảm 0,1% (quý II đạt 5,4 triệu ste, bằng cùng kỳ năm trước).

Diện tích rừng bị thiệt hại của cả nước 6 tháng đầu năm là 955,6 ha, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 283,2 ha, tăng 1,0%; diện tích rừng bị chặt, phá là 672,4 ha, tăng 49,9%.

c) Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 4.096,3 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2021 đạt 2.269,6 nghìn tấn, tăng 3,3%), bao gồm cá đạt 3.003,6 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 465,2 nghìn tấn, tăng 8,8%; thủy sản khác đạt 627,5 nghìn tấn, tăng 4,7%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm ước tính đạt 2.104,8 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2021 đạt 1.164,5 nghìn tấn, tăng 4,9%), trong đó cá đạt 1.456,7 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 392,9 nghìn tấn, tăng 10,7%. Sản lượng cá tra đạt 705,1 nghìn tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 254,6 nghìn tấn, tăng 15,4%; sản lượng tôm sú đạt 113,1 nghìn tấn, tăng 1,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1.991,5 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 1.105,1 nghìn tấn, tăng 1,6%), trong đó cá đạt 1.546,9 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 72,3 nghìn tấn, giảm 0,4%.

3. Sản xuất công nghiệp trong quý II/2021 tăng trưởng khá do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì và đang dần phục hồi, tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 11,45% so với cùng kỳ năm trước[4]. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 8,91%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42%, cao hơn tốc độ tăng 5,06% của cùng kỳ năm 2020.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước (quý II tăng 11,45%), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,16%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,75%; ngành khai khoáng giảm 6,61% do sản lượng khai thác dầu thô giảm 7,3% và khí đốt tự nhiên dạng khí giảm 12,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2021 tăng 24,3% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2020 tăng 26,7%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm 2021 đạt 75,2% (cùng kỳ năm trước là 81,5%).

4. Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 6 tháng đầu năm 2021 đạt 67,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 34,3% về vốn đăng ký. Sự gia tăng về số lượng và vốn của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới cho thấy sự nỗ lực và tinh thần khởi nghiệp của cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đạt 93,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2020; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 24,2%. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2021 vẫn ghi nhận đánh giá tích cực khi có 68,2% số doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất kinh doanh quý II/2021 so với quý I/2021 tốt lên và giữ ổn định.

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[5]

Trong tháng 6/2021, cả nước có 11,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 164,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 71,9 nghìn người, giảm 2,5% về số doanh nghiệp, tăng 9,1% về vốn đăng ký và giảm 0,4% về số lao động so với tháng 05/2021[6]. Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có gần 67,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 942,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 484,3 nghìn lao động, tăng 8,1% về số doanh nghiệp, tăng 34,3% về vốn đăng ký và giảm 4,5% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.152,5 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 23,7 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2021 là 2.095,1 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 26,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2021 lên 93,2 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có 15,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Cũng trong 6 tháng đầu năm nay, có 35,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước; 24,7 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 25,7%; 9,9 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,8%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2021 cho thấy: Có 30,5% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý I/2021; 37,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 31,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn[7]. Dự kiến quý III/2021, có 39,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý II/2021; 22,2% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 38,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

5. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch nhìn chung vẫn bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự chủ động và cách làm sáng tạo của các địa phương, sự ủng hộ của nhân dân và doanh nghiệp trong thực hiện “mục tiêu kép” nên tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 1,1%); vận chuyển hàng hóa tăng 11,5%, luân chuyển hàng hóa tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm đạt 2.463,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,55% (cùng kỳ năm 2020 giảm 5,77%), trong đó quý II/2021 đạt 1.177,6 nghìn tỷ đồng, giảm 8,4% so với quý trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đạt 1.985,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 80,6% tổng mức và tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước[8]; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 224 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,1% tổng mức và giảm 2,7% (cùng kỳ năm 2020 giảm 20,3%); doanh thu du lịch lữ hành đạt 4,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,2% tổng mức và giảm 51,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 249,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và tăng 4,4%.

Trong 6 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 1.813,5 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 26,8%) và luân chuyển 78,8 tỷ lượt khách.km, giảm 5,7% (cùng kỳ năm trước giảm 31,7%), trong đó quý II đạt 844,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 37,5 tỷ lượt khách.km, tăng 23,7%. Vận tải hàng hóa đạt 903,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 7,8%) và luân chuyển 178 tỷ tấn.km, tăng 11,3% (cùng kỳ năm trước giảm 7%), trong đó quý II đạt 439,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 91,3 tỷ tấn.km, tăng 18%.

Doanh thu hoạt động viễn thông 6 tháng đầu năm đạt 158 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,3%). Tính đến cuối tháng 6/2021, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 126,7 triệu thuê bao, tăng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 123,3 triệu thuê bao, tăng 0,4%; thuê bao truy nhập Internet băng rộng cố định đạt 17,9 triệu thuê bao, tăng 13,1%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Sáu ước tính đạt 7,2 nghìn lượt người, giảm 46,5% so với tháng trước và giảm 18% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 88,2 nghìn lượt người, giảm 97,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 55,7 nghìn lượt người, chiếm 63,2% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 98,2%; bằng đường bộ đạt 32,3 nghìn lượt người, chiếm 36,6% và giảm 94,2%; bằng đường biển đạt 216 lượt người, chiếm 0,2% và giảm 99,9%. Khách đến từ châu Á đạt 77,6 nghìn lượt người, giảm 97,2% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ châu Âu đạt 6,9 nghìn lượt người, giảm 99%; khách đến từ châu Mỹ đạt 2,4 nghìn lượt người, giảm 99%; khách đến từ châu Úc đạt 648 lượt người, giảm 99,4%; khách đến từ châu Phi đạt 666 lượt người, giảm 94,5%.

6. Hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế từng bước được phục hồi, nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp và người dân có xu hướng tăng khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện các đợt giảm lãi suất trong năm 2020. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng tích cực; thị trường chứng khoán[9] tăng mạnh với tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế tăng 68%.

Tính đến thời điểm 21/6/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,48% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,59%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 3,13% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,35%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 5,47% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 2,45%).

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2020 ước tính tăng 11%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 22%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 7%. Tính đến hết tháng 5/2021, doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế ước tính đạt 512,9 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2020; tổng tài sản của toàn thị trường bảo hiểm đạt 628,4 nghìn tỷ đồng, tăng 23,2%.

Tính đến hết tháng Năm, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán ước tính đạt 116,4 nghìn tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ năm trước. Trên thị trường cổ phiếu, tại thời điểm ngày 20/6/2021, chỉ số VNIndex[10] đạt 1.377,8  điểm, tăng 3,7% so với cuối tháng trước và tăng 24,8% so với cuối năm trước; mức vốn hóa thị trường đạt 6.699,5 nghìn tỷ đồng, tăng 64,5% so với cùng thời điểm năm trước. Giá trị giao dịch bình quân trong tháng Sáu (đến ngày 20/6) đạt 32.013 tỷ đồng/phiên, tăng 265,3% so với cùng kỳ năm 2020; tính chung 6 tháng đầu năm 2021, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 22.428 tỷ đồng/phiên, tăng 302,3%. Trên thị trường trái phiếu, tính đến cuối tháng 5/2021 có 456 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.381 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong lĩnh vực chứng khoán phái sinh và các sản phẩm khác, quy mô giao dịch bình quân đến ngày 20/6/2021 đạt 34.121 tỷ đồng/phiên, tăng 137,8% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 24.041 tỷ đồng/phiên, tăng 90,9%.

7. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành ước đạt 1.169,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng 3% của năm 2020. Mức tăng này phản ánh kết quả của các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp, cũng như xu thế đón đầu dòng vốn FDI đang chuyển dịch vào Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 được kiểm soát.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1.169,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 661,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8%), bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 295,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,3% tổng vốn và tăng 7,3%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 660,1 nghìn tỷ đồng, bằng 56,4% và tăng 7,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 214,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% và tăng 6,7%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/6/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 15,27 tỷ USD, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 804 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt gần 9,55 tỷ USD, giảm 43,3% về số dự án và tăng 13,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 460 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4,12 tỷ USD, tăng 10,6%; có 1.855 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn 1,60 tỷ USD, giảm 54,3%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 624 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 772,7 triệu USD và 1.231 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 832,9 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2021 có 24 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 143,8 triệu USD, bằng 77,6% so với cùng kỳ[11]; có 9 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 403,2 triệu USD, tăng 10,8 lần so với cùng kỳ[12]. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 547 triệu USD, tăng gần 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước.

8. Tiến độ thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 đạt khá trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ước tính đạt 57,7% dự toán năm. Chi ngân sách được thực hiện theo dự toán và tiến độ triển khai nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách, ưu tiên chi cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 775 nghìn tỷ đồng, bằng 57,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 633,1 nghìn tỷ đồng, bằng 55,9%; thu từ dầu thô 18,5 nghìn tỷ đồng, bằng 79,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 122,8 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 694,4 nghìn tỷ đồng, bằng 41,2% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 501 nghìn tỷ đồng, bằng 48,3%; chi đầu tư phát triển 133,9 nghìn tỷ đồng, bằng 28,1%; chi trả nợ lãi 56,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,6%.

9. Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại một số tỉnh, thành phố đã tác động đến hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp, kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 6 giảm nhẹ so với tháng trước, tuy nhiên vẫn đạt tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 54 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 316,73 tỷ USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4%; nhập khẩu đạt 159,1 tỷ USD, tăng 36,1%[13]. Cán cân thương mại 6 tháng đầu năm 2021 ước tính nhập siêu 1,47 tỷ USD.

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[14]

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 26,5 tỷ USD, tăng 1,2% so với tháng trước. Quý II/2021, kim ngạch xuất khẩu đạt 79,23 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,1% so với quý I năm nay; có 12 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 75,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 40,89 tỷ USD, tăng 16,8%, chiếm 25,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 116,74 tỷ USD, tăng 33%, chiếm 74,1%; có 25 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 88,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 58%).

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 27,5 tỷ USD, giảm 2,7% so với tháng trước. Quý II/2021, kim ngạch nhập khẩu đạt 83,5 tỷ USD, tăng 45,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,4% so với quý I năm nay; có 18 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 76,1% tổng trị giá nhập khẩu. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 159,1 tỷ USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 55,9 tỷ USD, tăng 30,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 103,2 tỷ USD, tăng 39,5%; có 31 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 87,4% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Năm nhập siêu 2,07 tỷ USD[15]; 5 tháng nhập siêu 0,47 tỷ USD; tháng Sáu ước tính nhập siêu 1 tỷ USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 1,47 tỷ USD[16] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,86 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,01 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 13,54 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 1,77 tỷ USD, giảm 68,5% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 891 triệu USD, giảm 18,6%), trong đó dịch vụ du lịch đạt 82 triệu USD (chiếm 4,6% tổng kim ngạch), giảm 97,4%; dịch vụ vận tải đạt 147 triệu USD (chiếm 8,3%), giảm 80,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 9,47 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 4,8 tỷ USD, tăng 18,3%), trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,8 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 32,7%; dịch vụ du lịch đạt 1,8 tỷ USD (chiếm 19%), giảm 25,9%. Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2021 là 7,7 tỷ USD.

10. Giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng theo giá thế giới; giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với tháng 6/2020. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[17]; lạm phát cơ bản 6 tháng tăng 0,87%. Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phục hồi; sản lượng khai thác dầu của thế giới dưới mức nhu cầu sử dụng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm giảm 0,99% so với cùng kỳ năm 2020 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Trong mức tăng của CPI tháng 6/2021 so với tháng trước có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 2 nhóm có chỉ số giá giảm và 1 nhóm giữ giá ổn định, trong đó nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 1,07%. CPI quý II/2021 tăng 0,45% so với quý trước và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2020. CPI bình quân 6 tháng đầu năm tăng 1,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2020. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 0,87% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới, chỉ số giá vàng tháng 6/2021 tăng 1,12% so với tháng trước; tăng 0,23% so với tháng 12/2020 và tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2020.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2021 giảm 0,3% so với tháng trước; giảm 0,32% so với tháng 12/2020 và giảm 0,87% so với cùng kỳ năm 2020.

c) Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2021 tăng 0,24% so với quý trước và tăng 3,87% so với cùng kỳ năm trước; tương tự, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,4% và tăng 3,39%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,01% và tăng 2%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,23% so với cùng kỳ năm 2020; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,82%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,89%.

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2021 tăng 1,58% so với quý trước và tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,83%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,97%; dùng cho xây dựng tăng 3,91%.

d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Quý II/2021, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 1,29% so với quý trước và tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,3% và tăng 3,28%; tỷ giá thương mại hàng hóa[18] giảm 0,01% và giảm 0,5%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 1,22% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 2,24%; tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,99%.

II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI

1. Tình hình lao động, việc làm quý II/2021 chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Tuy nhiên, tính chung 6 tháng đầu năm 2021, lao động đang làm việc trong nền kinh tế vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm và thu nhập của người làm công hưởng lương tăng[19].

Quý II/2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính là 51,1 triệu người, tăng 44,7 nghìn người so với quý trước và tăng 1,7 triệu người so với cùng kỳ năm trước; lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc ước tính 49,8 triệu người. Tính chung 6 tháng đầu năm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 51 triệu người, tăng 737,7 nghìn người so với cùng kỳ năm 2020; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ước tính đạt 68,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 49,9 triệu người.

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước 6 tháng đầu năm ước tính là 2,30% (quý II là 2,40%), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,07%; khu vực nông thôn là 1,86%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm ước tính là 2,58%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 2,64%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,54%.

2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh Covid-19; chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân khu vực nông thôn, đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội khu vực nông thôn.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, tổng trị giá tiền và quà hỗ trợ cho các đối tượng là 6.906 tỷ đồng, trong đó, hỗ trợ cho các đối tượng người có công, thân nhân người có công là 2.540,9 tỷ đồng, hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo là 1.354,7 tỷ đồng; hỗ trợ cứu đói và các đối tượng bảo trợ xã hội là 1.958,4 tỷ đồng; hỗ trợ các đối tượng khác là 1.052 tỷ đồng. Có hơn 30 triệu thẻ bảo hiểm xã hội/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.

Đến hết tháng 5/2021, cả nước có 5.282 xã và 191 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; có 335 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 32 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 12 tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 4 tỉnh (Nam Định, Đồng Nai, Hưng Yên, Hà Nam) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

3. Đợt dịch Covid-19 lần thứ Tư bùng phát vào đúng thời điểm các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên đang chuẩn bị kết thúc năm học. Trước tình hình đó, các địa phương đã chủ động, kịp thời chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch thời gian năm học để vừa bảo đảm phòng, chống dịch bệnh Covid-19 vừa hoàn thành năm học 2020-2021.

Năm học 2020-2021, cả nước có 4,3 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, tăng 0,3% so với năm học trước; 17,5 triệu học sinh phổ thông, tăng 3,5%, bao gồm: 8,9 triệu học sinh tiểu học, tăng 2%; 5,9 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 5,8% và 2,7 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 3,8%. Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2020-2021 có hơn 1 triệu thí sinh đăng ký dự thi, trong đó 3/4 thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ tổ chức thành 2 đợt, đợt 1 vào 07-08/7/2021, đợt 2 cho các đối tượng thí sinh không thể tham dự kỳ thi đợt 1 do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh được 645 nghìn người, đạt 27,2% so với kế hoạch năm, trong đó các trường cao đẳng và trung cấp nghề tuyển sinh được 45 nghìn người, đạt 7,5%; sơ cấp nghề và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác tuyển sinh 600 nghìn người, đạt 34% kế hoạch năm.

4. Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Tại Việt Nam, dịch Covid-19 đang tiếp tục được kiểm soát nhưng cục bộ tại một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương đang diễn biến phức tạp, khó dự báo và một số tỉnh có nguy cơ cao bùng phát trở lại.

Sáu tháng đầu năm 2021, cả nước có 29.746 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (5 trường hợp tử vong); 36.593 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (11 trường hợp tử vong); 302 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (5 trường hợp tử vong); 13 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong) và 309 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 39 trường hợp dương tính.

Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[20]. Tại Việt Nam, tính đến trưa ngày 28/6/2021 Việt Nam có 15.643 trường hợp mắc, 6.319 trường hợp đã được chữa khỏi (76 trường hợp tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/6/2021 là 212.422 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 90.160 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 104.016 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Sáu xảy ra 8 vụ với 100 người bị ngộ độc (1 trường hợp tử vong). Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cả nước xảy ra 42 vụ với 902 người bị ngộ độc (5 người tử vong).

5. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa luôn được quan tâm; thể thao phong trào được duy trì, thể thao thành tích cao có những bước tiến đáng ghi nhận.

Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể luôn được các địa phương quan tâm, đầu tư, nhằm phát huy được giá trị di sản, tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo. Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Thể thao thành tích cao của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2021 đạt được một số kết quả ấn tượng: Đội tuyển bóng đá nam Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu lịch sử là đạt vé vào vòng loại thứ 3 World Cup 2022; đội tuyển Taekwondo Việt Nam tham dự giải vô địch Taekwondo châu Á diễn ra từ 16-18/6/2021 tại Li-băng, xuất sắc giành 1 huy chương vàng và 1 huy chương bạc.

6. Tai nạn giao thông[21] tháng Sáu năm 2021 giảm trên cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, tình hình tai nạn giao thông giảm về số vụ, số người chết so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng Sáu (từ 15/5-14/6/2021), trên địa bàn cả nước xảy ra 825 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 539 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 286 vụ va chạm giao thông, làm 436 người chết, 253 người bị thương và 275 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,2% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 13,9% và số vụ va chạm giao thông giảm 14,9%); số người chết giảm 11,2% và số người bị thương giảm 20,4% và số người bị thương nhẹ giảm 23%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Sáu giảm 27,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 14,7% và số vụ va chạm giao thông giảm 43,1%); số người chết giảm 10,8%; số người bị thương giảm 26,5% và số người bị thương nhẹ giảm 47,8%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 6.007 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 3.887 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.120 vụ va chạm giao thông, làm 3.092 người chết, 2.032 người bị thương và 2.284 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 11,5% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 0,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 27,5%); số người chết giảm 4,6%; số người bị thương tăng 5,2% và số người bị thương nhẹ giảm 24,1%. Bình quân 1 ngày trong 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, gồm 21 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 12 vụ va chạm giao thông, làm 17 người chết, 11 người bị thương và 13 người bị thương nhẹ.

7. Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương

Trong 6 tháng đầu năm nay, thiên tai làm 34 người chết và mất tích, 51 người bị thương; 6,6 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; 47,5 nghìn ha lúa và 12,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 238 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 7,7 nghìn ngôi nhà bị ngập hư hại; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 508,7 tỷ đồng, giảm 89,3% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng trong 6 tháng đầu năm nay đã phát hiện 9.082 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 8.006 vụ với tổng số tiền phạt 120,3 tỷ đồng; cả nước xảy ra 1.157 vụ cháy, nổ, làm 56 người chết và 84 người bị thương, thiệt hại ước tính 287 tỷ đồng./.

[1] Ngân hàng Thế giới (Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu phát hành ngày 8/6/2021) và Liên minh châu Âu (Báo cáo Dự báo kinh tế châu Âu mùa xuân 2021, tháng 5/2021) đều dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt 5,6% trong năm 2021. Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhận định, nền kinh tế toàn cầu sau khi tăng trưởng âm 3,5% vào năm 2020, dự kiến sẽ tăng 6% vào năm 2021 (Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, phát hành tháng 4/2021). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), dự báo GDP toàn cầu tăng 5,8% trong năm 2021 (Báo cáo Triển vọng kinh tế OECD, ngày 31/5/2021). Tổ chức kinh tế tài chính tư nhân Fitch Ratings dự báo GDP toàn cầu năm 2021 tăng 6,3%, cao hơn mức dự báo 6,1% đưa ra trong tháng 3/2021 (Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 5/2021).

[2] Mỹ triển khai gói cứu trợ giảm tác động tiêu cực của dịch Covid-19, kích thích nền kinh tế trị giá 1.900 tỷ USD. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 0%-0,25% và duy trì chương trình mua trái phiếu ở mức ít nhất 120 tỷ USD/tháng để hỗ trợ tiến trình phục hồi kinh tế Mỹ. FED dự báo, lạm phát toàn phần năm 2021 lên mức 3,4%, cao hơn 1% so với mức dự báo vào tháng 3/2021.

[3] Theo WTO, thương mại toàn cầu dự báo sẽ tăng 8,3% trong năm nay và 6,3% vào năm 2022 (Thước đo thương mại hàng hóa ngày 28/5/2021).

[4] Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp quý II/2020 chỉ tăng 1,1%.

[5] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Báo cáo nhận ngày 25/6/2021).

[6] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 17,6%; số vốn đăng ký tăng 18,1%; số lao động đăng ký giảm 28,2%.

[7] Chỉ số tương ứng của quý I/2021: Có 29,6% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn quý trước; 39% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 31,4% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.

[8] Tháng Tư năm 2020, cả nước thực hiện giãn cách xã hội làm hoạt động mua sắm hàng hóa, chi tiêu của người tiêu dùng giảm nên doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 đạt thấp.

[9] Số liệu chứng khoán theo Công văn 3151/UBCK-CNTT ngày 25/5/2021 của Ủy ban chứng khoán Nhà nước.

[10] Tính đến 10h ngày 24/6/2021, chỉ số VNIndex đạt 1.380,2 điểm, tăng 3,9% so với cuối tháng trước và tăng 25% so với cuối năm 2020.

[11] Vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cho các dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới trong 6 tháng giảm so với cùng kỳ sau khi tăng mạnh ở các tháng trước do trong tháng 6/2020 có dự án Công ty TNHH Vonfram Masan (Đức) được cấp GCNĐKĐTRNN với tổng vốn 91,5 triệu USD.

[12] Vốn đầu tư điều chỉnh tăng mạnh do có dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ điều chỉnh tăng 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển cao su Đông Dương tại Campuchia tăng 76 triệu USD và 01 dự án của Vinfast tại Đức tăng 32 triệu USD.

[13] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 đạt 239,67 tỷ USD, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 122,77 tỷ USD, tăng 0,2%; nhập khẩu đạt 116,9 tỷ USD, giảm 3,3%.

[14] Số liệu tháng 6/2021 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/6/2021 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào chiều ngày 28/6/2021.

[15] Ước tính tháng Năm nhập siêu 2 tỷ USD.

[16] Trong đó, 6 tháng đầu năm 2021 xuất siêu sang EU đạt 11,2 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 29 tỷ USD, tăng 90,3%; nhập siêu từ Hàn Quốc 14,7 tỷ USD, tăng 26,2%; nhập siêu từ ASEAN 7,1 tỷ USD, tăng 122,2%.

[17] Tốc độ tăng CPI bình quân 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt là: tăng 1,72%; tăng 4,15%; tăng 3,29%; tăng 2,64%; tăng 4,19%; tăng 1,47%.

[18] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[19] Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc 6 tháng đầu năm 2021 tăng 788,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,07 điểm phần trăm; thu nhập của lao động làm công hưởng lương tăng 281,7 nghìn đồng.

[20] Tính đến trưa ngày 28/6/2021 trên thế giới có 181.866 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (3.938,9 nghìn trường hợp tử vong).

[21] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải (Bộ Giao thông vận tải).