Kinh tế – xã hội nước ta 9 tháng năm 2016 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm[1]. Kinh tế Mỹ phục hồi nhưng đang chậm lại, kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc; các nền kinh tế chủ chốt trong EU tăng trưởng yếu; kinh tế Nhật Bản tăng trưởng không đạt như kỳ vọng. Thị trường, giá cả hàng hóa thế giới ở mức thấp, thương mại toàn cầu chưa có dấu hiệu phục hồi. Theo báo cáo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), giao dịch thương mại toàn cầu trong nửa đầu năm 2016 đã giảm xuống mức thấp nhất trong 6 năm qua. Các yếu tố trên đã tác động đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất khẩu và thu ngân sách Nhà nước.

Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu khởi sắc trong năm 2015, kinh tế nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu. Rét đậm, rét hại, bão lũ ở các tỉnh phía Bắc, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống nhân dân.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016. Đồng thời, ban hành hàng loạt các Nghị quyết để chỉ đạo, giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái như: Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016. Với những đổi mới mạnh mẽ và quyết liệt cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế – xã hội nước ta đã vượt qua khó khăn, thách thức. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng năm 2016 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2016 ước tính tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng GDP quý sau cao hơn quý trước (Quý I tăng 5,48%, quý II tăng 5,78% và ước tính quý III tăng 6,40%) nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 6,53% của cùng kỳ năm 2015. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm sút[2] và nông nghiệp tăng trưởng thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng 5,93% của toàn nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm gần đây[3], đóng góp 0,11 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,50%, đóng góp 2,52 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,66%, đóng góp 2,55 điểm phần trăm[4].

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng cao nhất với 6,19% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành thủy sản tăng 1,81%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; riêng ngành nông nghiệp mặc dù đã có dấu hiệu tăng trở lại so với mức giảm 0,78% của 6 tháng đầu năm nhưng tốc độ tăng chỉ ở mức 0,05%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 9,86% của 9 tháng năm 2015, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng 11,22%, đóng góp 1,80 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Ngành khai khoáng 9 tháng năm nay giảm tới 3,60%, làm giảm 0,28 điểm phần trăm, nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thế giới giảm khiến lượng dầu thô khai thác giảm so với cùng kỳ năm trước; khai thác than gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm do giá giảm. Ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 9,10%, đóng góp 0,50 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong khu vực dịch vụ, mức tăng của một số ngành có tỷ trọng lớn như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,15% so với cùng kỳ năm trước, đây là ngành có mức tăng trưởng cao thứ hai của khu vực dịch vụ (sau ngành thông tin và truyền thông) nhưng là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung (0,74 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,71%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tiếp tục được cải thiện, đạt mức tăng 3,66% (cao hơn mức tăng 2,90% của cùng kỳ năm trước), đóng góp 0,20 điểm phần trăm.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

9 tháng các năm 2014, 2015 và 2016

 

                Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng
năm 2016
(Điểm phần trăm)
9 tháng năm 2014 9 tháng
năm 2015
9 tháng      năm 2016
Tổng số 5,53 6,53 5,93 5,93
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 2,94 2,08 0,65 0,11
Công nghiệp và xây dựng 5,75 9,72 7,50 2,52
Dịch vụ 5,94 6,10 6,66 2,55
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sp 7,55 5,52 6,45 0,75

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,54%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,48%; khu vực dịch vụ chiếm 41,80%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,18%.

Theo cấu trúc sử dụng GDP 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,97% so với cùng kỳ năm 2015, đóng góp 4,96 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp lớn nhất với 4,52 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 10,12%, đóng góp 2,87 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 1,90 điểm phần trăm tăng trưởng.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 594,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 433,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,1%; lâm nghiệp đạt 20,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3%; thuỷ sản đạt 139,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9%.

a. Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước gieo cấy được 1691,3 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,2% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1151,6 nghìn ha, bằng 98,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 539,7 nghìn ha, bằng 97,2%. Diện tích lúa mùa của các địa phương phía Bắc giảm chủ yếu do thời tiết nắng hạn, thiếu nước đầu vụ, khi gieo cấy lại bị ảnh hưởng của 3 cơn bão liên tiếp, một số diện tích lúa mùa bị ngập nặng không có khả năng phục hồi nên các địa phương chủ động chuyển đổi sang trồng cây ăn quả hoặc nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao hơn[5]. Bên cạnh đó, một số địa phương đã chuyển một phần diện tích trồng lúa sang phục vụ các công trình thủy lợi, dân sinh[6]. Đến nay trà lúa mùa ở miền Bắc đang trong giai đoạn vào chắc và chín, đã thu hoạch được gần 24 nghìn ha. Do ảnh hưởng của các cơn bão số 1, số 2 và số 3 gây ngập úng cục bộ, một số diện tích phải cấy dặm nên năng suất lúa mùa của một số địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng giảm mạnh: Vĩnh Phúc giảm 10 tạ/ha; Quảng Ninh giảm 2,6 tạ/ha; Hà Nam giảm 1 tạ/ha. Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi trong những tháng cuối năm và không bị ảnh hưởng của sâu bệnh, năng suất lúa mùa năm nay của các địa phương phía Bắc đạt xấp xỉ cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 5,8 triệu tấn, giảm 36,6 nghìn tấn so với vụ mùa năm 2015.

Diện tích lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 2106 nghìn ha, tăng 3,2 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1674,5 nghìn ha, giảm 3,3 nghìn ha. Tính đến ngày 15/9/2016, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1648,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 93,6% cùng kỳ năm trước, chiếm 78,3% diện tích gieo cấy, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1422,2 nghìn ha, bằng 93,6% và chiếm 85% diện tích gieo cấy. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 53,9 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2015; sản lượng đạt 11,3 triệu tấn, giảm 49 nghìn tấn. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của thời tiết không thuận nên diện tích và năng suất lúa hè thu đều giảm so với năm trước (diện tích giảm 0,2%; năng suất giảm 1,2%); sản lượng ước tính đạt 9,02 triệu tấn, giảm 125,6 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Chín, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 664,7 nghìn ha lúa thu đông, bằng 109,4% cùng kỳ năm trước do một số địa phương chủ động mở rộng diện tích lúa ở những vùng có đê bao (An Giang tăng 13,2 nghìn ha; Long An tăng 11,6 nghìn ha; Cần Thơ tăng 3,5 nghìn ha). Đến nay, diện tích lúa thu đông đã thu hoạch đạt 120,2 nghìn ha, tương đương cùng kỳ năm 2015 với năng suất ước tính đạt 53,4 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha.

Gieo trồng một số cây hoa màu giảm nhẹ so với cùng kỳ. Tính đến giữa tháng Chín, cả nước gieo trồng được 1047,5 nghìn ha ngô, bằng 99,1% cùng kỳ năm trước; 111,2 nghìn ha khoai lang, bằng 90,3%; 188,2 nghìn ha lạc, bằng 97,1%; 85,8 nghìn ha đậu tương, bằng 86,8% và 952,6 nghìn ha rau đậu, bằng 102,8%.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển, sản lượng đạt khá do diện tích đến kỳ cho sản phẩm tăng: Sản lượng hồ tiêu 9 tháng ước tính đạt 192,9 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; chè 853 nghìn tấn, tăng 3%; cao su 643 nghìn tấn, tăng 0,4%; riêng sản lượng điều đạt 301 nghìn tấn, giảm 15%. Một số cây ăn quả sản lượng tăng nhẹ do thị trường tiêu thụ tốt: Sản lượng cam tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; chuối tăng 1,3%; xoài tăng 0,7%; bưởi tăng 0,5%; dứa tăng 0,3%. Riêng sản lượng vải giảm 13%; chôm chôm giảm 2,4%; nhãn giảm 1,5% do thời tiết không thuận và diện tích cho sản phẩm giảm.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định. Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm 2015; đàn bò tăng 2%-2,5%; đàn lợn tăng 3,5%-4%; đàn gia cầm tăng 5%-5,5%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng năm 2016 giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi tăng 2%; sản lượng thịt lợn hơi tăng 4,5%; sản lượng thịt gia cầm tăng 5,7%. Tính đến thời điểm 26/9/2016, cả nước không còn dịch cúm gia cầm và dịch lở mồm long móng; dịch tai xanh trên lợn chưa qua 21 ngày còn ở Hà Tĩnh.

Trong 9 tháng năm nay, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng xảy ra tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long mà đỉnh điểm là tháng Ba, tháng Tư và đầu tháng Năm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của nhân dân tại vùng bị thiên tai. Đặc biệt, hiện tượng hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong 100 năm qua, xâm nhập mặn đã vào đến vùng lõi của Đồng bằng sông Cửu Long, gây thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân và sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của các địa phương sau này. Do đó, ngành Nông nghiệp cần có các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp để thích nghi và khắc phục những bất cập từ biến đổi khí hậu, đồng thời tu bổ, nạo vét hệ thống kênh mương, công trình thủy lợi ngăn mặn, xây dựng các hồ chứa để giữ nước ngọt phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

b. Lâm nghiệp

Trong 9 tháng năm 2016, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 151,9 nghìn ha, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do mưa bão, lũ lụt xảy ra vào đúng thời vụ trồng rừng; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 133,6 triệu cây, giảm 1,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng trồng tập trung giảm mạnh: Hà Giang đạt 8,5 nghìn ha, giảm 66,4%; Tuyên Quang 3,3 nghìn ha, giảm 23,9%; Lạng Sơn 2,9 nghìn ha, giảm 50%; Thanh Hóa 1,8 nghìn ha, giảm 15,4%. Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng ước tính đạt 6521 nghìn m3, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước do thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ tương đối ổn định, trong đó một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 627 nghìn m3, tăng 17,3%; Tuyên Quang 440 nghìn m3, tăng 42%; Thanh Hóa 364 nghìn m3, tăng 19,7%; Hòa Bình 262 nghìn m3, tăng 46,2%. Sản lượng củi khai thác 9 tháng ước tính đạt 21,3 triệu ste, giảm 0,5%.

Công tác bảo vệ phòng chống cháy rừng được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện nhưng do thời tiết nắng hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong 9 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 4359 ha, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3256 ha, gấp 3 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 1103 ha, tăng 67,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều: Điện Biên là 969 ha; Sơn La 919 ha; Hà Giang 226 ha; Yên Bái 194 ha; Bình Định 174 ha; Hà Tĩnh 112,5 ha.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 4937,6 nghìn tấn, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3601,6 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 570 nghìn tấn, tăng 1,7%.

Nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc những tháng đầu năm và tình trạng ô nhiễm nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 1021,7 nghìn ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 2604,8 nghìn tấn, tăng 1,2%, trong đó cá đạt 1894,8 nghìn tấn, tăng 0,9%; tôm đạt 447 nghìn tấn, tăng 1,5%.

Nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn do giá cá tra không ổn định và ở mức thấp, chi phí cao, sức mua từ các thị trường tiêu thụ lớn sụt giảm. Diện tích nuôi cá tra 9 tháng ước tính đạt 11,2 nghìn ha, tương đương cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá tra thâm canh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 4,4 nghìn ha, tăng 1,4%. Sản lượng cá tra 9 tháng ước tính đạt 850 nghìn tấn, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 210,5 nghìn tấn, giảm 6,3%; Bến Tre 121,9 nghìn tấn, giảm 7,3%, Tiền Giang đạt 28,8 nghìn tấn, tăng 4,5%.

Nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn và dịch bệnh, đặc biệt là tôm sú do chủ yếu nuôi bằng hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến. Diện tích nuôi tôm sú 9 tháng ước tính đạt 576,9 nghìn ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 180 nghìn tấn, giảm 2,7%, trong đó Cà Mau đạt 62 nghìn tấn, giảm 9,8%; Bạc Liêu đạt 42,9 nghìn tấn, giảm 10,4%; Kiên Giang đạt 30,9 nghìn tấn, tăng 11,2%; Bến Tre đạt 5,8 nghìn tấn, tăng 2,8%.

Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 9 tháng ước tính đạt 80,2 nghìn ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 232,3 nghìn tấn, tăng 4,5%, trong đó Cà Mau đạt 38,3 nghìn tấn, tăng 6,4%; Sóc Trăng 35,8 nghìn tấn, tăng 25,7%; Bến Tre 22 nghìn tấn, giảm 11,8%.

Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng của cả nước ước tính đạt 2332,8 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1706,8 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 123 nghìn tấn, tăng 2,6% (Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng đạt 2195,8 nghìn tấn, tăng 3%, trong đó cá đạt 1602,8 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 113 nghìn tấn, tăng 2,4%).

Sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại vùng biển các tỉnh Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế) gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt đã ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng; ngư dân phải tạm dừng đánh bắt ở vùng ven bờ và vùng lộng nên sản lượng thủy sản khai thác của các địa phương giảm mạnh[7].

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín ước tính tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng 7,5% của tháng Tám), trong đó ngành khai khoáng giảm 7,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,4%.

Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 9,9% của cùng kỳ năm 2015, chủ yếu do ngành khai khoáng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4%, đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 12,1%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 4,1%, làm giảm 0,9 điểm phần trăm mức tăng chung[8].

Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) tăng 5,6%; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 8,9%, trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 11%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 7,8%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 16,9%; dệt tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 14,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 7,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,7%; sản xuất thuốc lá tăng 5,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,5%; khai khoáng khác tăng 2,4%; khai thác than cứng và than non tăng 1,8%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,8%.

Trong 9 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 86%; thép cán tăng 24,3%; ô tô tăng 21%; thức ăn gia súc tăng 20,3%; sắt thép thô tăng 17,2%; xi măng tăng 15,2%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Than đá tăng 1,8% (gặp khó khăn trong tiêu thụ than do giá giảm); giày, dép da tăng 1,5%; xe máy tăng 0,1%; phân urê giảm 4,1%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 5,3%; đường kính giảm 5,9%; dầu thô khai thác giảm 7,8%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 9,7%; điện thoại di động giảm 10,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Nam tăng 30,7%; Thái Nguyên tăng 28,5%; Hải Phòng tăng 16,5%; Đà Nẵng tăng 12,1%; Cần Thơ tăng 11%; Bình Dương tăng 9,6%; Bắc Ninh tăng 9,1%; Hải Dương tăng 8,2%; Đồng Nai tăng 7,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,3%; Hà Nội tăng 7,1%; Quảng Ninh tăng 5,6%; Vĩnh Phúc tăng 4,3%; Bà Rịa – Vũng Tàu giảm 2,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2016 tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 13,2%). Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 19,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,7%; dệt tăng 11,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,8%; sản xuất đồ uống tăng 10,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất thuốc lá; sản xuất da, các sản phẩm có liên quan tăng 3,8%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 2,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 1,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 2,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/9/2016 tăng 9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2015 tăng 9,9%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Dệt tăng 7%; sản xuất trang phục tăng 6,1%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 4,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 13%; sản xuất thiết bị điện giảm 13,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 36,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 46,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 125% (chủ yếu là sản phẩm điện thoại di động mới sản xuất); sản xuất xe có động cơ tăng 40,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 32,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 22,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 21,1%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 8 tháng năm 2016 là 68,4% (cùng kỳ năm trước là 74%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 129,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 112,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 106,3%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2016 tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,8%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 4,8%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 0,4%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/9/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 25,2%; Hải Phòng tăng 14%; Vĩnh Phúc tăng 6,3%; Bình Dương tăng 6,2%; Đồng Nai tăng 6,1%; Bắc Ninh tăng 5,8%; Đà Nẵng tăng 3,6%; Hải Dương tăng 3,1%; Hà Nội tăng 1,9%; Quảng Nam tăng 1,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,8%; Cần Thơ bằng mức cùng thời điểm năm trước; Bà Rịa – Vũng Tàu giảm 1,1%; Quảng Ninh giảm 3%.

Nhìn chung, trong 9 tháng năm nay, bên cạnh sự giảm sút của ngành khai khoáng, các ngành công nghiệp khác, nhất là ngành chế biến, chế tạo (có quy mô và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp) vẫn giữ được sự phát triển khá ổn định[9]. Điều này được thể hiện thông qua xu hướng khá tích cực của chỉ số tiêu thụ, tồn kho và thu hút lao động: Chỉ số tiêu thụ tháng 8 của toàn ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8%, trong khi chỉ số tồn kho thời điểm 01/9/2016 tăng 9%. Bên cạnh đó, tình hình thu hút lao động trong ngành công nghiệp cho thấy sản xuất công nghiệp, đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mặc dù còn khó khăn, nhưng vẫn đang trên đà phục hồi và dần phát triển ổn định.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[10]

Trong tháng Chín, cả nước có 8047 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 76,2 nghìn tỷ đồng, giảm 13,3% về số doanh nghiệp và tăng 7,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,5 tỷ đồng, tăng 23,8%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 71,5 nghìn người, giảm 36,7%.

Trong tháng, cả nước có 1799 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 10,3% so với tháng trước; có 5426 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1644 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 3782 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 6,6%; có 886 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 16,2%.

Tính chung 9 tháng, cả nước có 81451 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 629,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% về số doanh nghiệp và tăng 49,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015[11]; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,7 tỷ đồng, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2015. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng là 928,7 nghìn người, bằng 92,9% cùng kỳ năm 2015. Trong 9 tháng năm nay còn có 20510 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 59,6% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2015 tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2014), nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng năm nay lên gần 102 nghìn doanh nghiệp. Điều này cho thấy khung khổ pháp lý mới cùng với các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển đã phát huy hiệu quả, giúp doanh nghiệp tìm thấy hướng đi, cơ hội phát triển mới.

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 9 tháng năm nay ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành tăng mạnh cả về số doanh nghiệp và số vốn đăng ký: Kinh doanh bất động sản tăng 99,1% về số doanh nghiệp và tăng 242,5% về vốn đăng ký; thông tin và truyền thông tăng 14,5% và tăng 173,9%; sản xuất, phân phối điện, nước, gas tăng 19,2% và tăng 113,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 23,1% và tăng 110,7%; hoạt động dịch vụ khác tăng 40,3% và tăng 112,5%. Riêng lĩnh vực nghệ thuật, vui chơi và giải trí, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 9 tháng giảm 32,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký giảm 23,2%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 9 tháng là 8365 doanh nghiệp, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2015 giảm 0,9% so với năm 2014), trong đó có 7812 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,3% và tăng 20,0%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 3373 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,3%); 2489 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,8%); 1390 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,6%); 1110 công ty cổ phần (chiếm 13,3%) và 03 công ty hợp danh.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 9 tháng năm nay là 45097 doanh nghiệp, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 16294 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, tăng 31,0% và 28803 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 18,1%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, có 6269 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 38,5%); 5617 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 34,5%); 2738 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); 1669 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,2%) và 01 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 12000 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 41,7%); 8980 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 31,2%); 5210 công ty cổ phần (chiếm 18,1%) và 2613 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,1%). Theo lĩnh vực hoạt động, trong 9 tháng năm nay hầu hết ở các ngành nghề kinh doanh có số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể giảm so với cùng kỳ năm trước. Riêng ngành nghệ thuật vui chơi và giải trí và ngành khai khoáng tăng so với cùng kỳ năm 2015.

b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2016 cho thấy: Có 80,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III khá ổn định và tốt hơn quý trước (có 38,8% doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 41,5 doanh nghiệp đánh giá ổn định), trong khi 19,7% số doanh nghiệp đánh giá còn gặp khó khăn. Dự báo trong quý IV, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khả quan hơn quý III, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Nhà nước. Cụ thể, có 85,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV sẽ ổn định và tốt lên, trong đó có 48,8% số doanh nghiệp cho đánh giá xu hướng quý IV sẽ tốt lên; 36,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 14,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

Về khối lượng sản xuất, có 42,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III năm nay tăng so với quý trước; 19,3% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 38,5% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Đối với quý IV năm nay, có 50,3% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên so với quý III; 13,7% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36,0% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 36,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý III năm nay cao hơn quý trước; 19,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 44,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III tiếp tục khả quan với 45,6% số doanh nghiệp dự kiến có số đơn đặt hàng cao hơn; 13,4% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,0% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, có 30,8% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu quý III năm nay cao hơn quý trước; 19,9% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 49,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 38,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 15,1% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,3% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 24,1% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý III năm nay tăng so với quý trước; 8,5% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 67,4% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý IV/2016, có 18,5% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý III; 9,7% doanh nghiệp cho rằng chi phí giảm và 71,8% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm, quý III năm nay so với quý trước, có 15,4% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 11% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 73,6% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý IV so với quý III, có 16,2% số doanh nghiệp cho rằng giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 8,4% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,4% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho sản phẩm, có 21,3% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý III năm nay tăng so với quý trước; 28,8% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 49,9% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 15,6% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 30,4% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 54,0% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu, quý III/2016 so với quý trước, có 19,1% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 27,7% số doanh nghiệp cho là giảm và 53,2% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý IV so với quý III, có 14,5% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,7% doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho giảm và 56,8% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên vật liệu.

Về sử dụng lao động, quý III năm nay so với quý trước, có 16,9% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 12,6% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 70,5% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Xu hướng sử dụng lao động có chiều hướng tăng lên trong quý IV khi có tới 91,3% số doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng hoặc giữ ổn định quy mô lao động so với quý III; chỉ có 8,7% số doanh nghiệp dự báo giảm quy mô lao động.

5. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ 9 tháng năm nay tuy gặp khó khăn do người dân có xu hướng tiết kiệm chi tiêu, nhưng với nỗ lực của các đơn vị sản xuất và phân phối, sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ, ngành trong việc tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, nhìn chung doanh thu kinh doanh dịch vụ đạt khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước tính đạt 296,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 225,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2% và tăng 10,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 35,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,4% và tăng 15,7%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,8 nghìn tỷ đồng, giảm 10,7% và tăng 4,1%; doanh thu dịch vụ khác đạt 32,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1% và tăng 10,5%.

Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2605,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,5% (thấp hơn mức tăng 10,2% cùng kỳ năm 2015), nếu loại trừ yếu tố giá còn tăng 7,7% (cùng kỳ năm 2015 tăng 9,2%). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng ước tính đạt 1984,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,2% tổng mức và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành hàng tăng: Lương thực, thực phẩm tăng 13,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 10,1%; may mặc tăng 9,5%; phương tiện đi lại tăng 7,6%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 2,7%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng ước tính đạt 300 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,5% tổng mức và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hà Nội tăng 9,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,9%; Bắc Giang tăng 7,2%; Lạng Sơn tăng 7%. Một số địa phương doanh thu giảm: Hoà Bình giảm 16,4%; Hà Tĩnh giảm 13,5%; Phú Thọ giảm 9,1%; Lai Châu giảm 5,5%; Nghệ An giảm 4,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng năm nay ước tính đạt 24,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 13,3%; Ninh Bình tăng 10,5%; Bình Thuận tăng 8,4%; Hà Nội tăng 6,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,8%. Một số tỉnh doanh thu du lịch lữ hành giảm mạnh: Lạng Sơn giảm 25%; Trà Vinh giảm 19,4%; Hà Tĩnh giảm 11,7%; Lâm Đồng giảm 8%.

Doanh thu dịch vụ khác 9 tháng ước tính đạt 297,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% tổng mức và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá: Bình Phước tăng 19,1%; Thanh Hóa tăng 19%; Phú Yên tăng 15,9%; Quảng Nam tăng 15,6%; Bình Thuận tăng 15,5%; Bắc Ninh tăng 14,1%.

b. Vận tải và bưu chính, viễn thông

Vận tải hành khách tháng Chín ước tính đạt 302,3 triệu lượt khách, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và 14,7 tỷ lượt khách.km, tăng 12,9%. Tính chung 9 tháng, vận tải hành khách đạt 2710,3 triệu lượt khách, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước và 128,1 tỷ lượt khách.km, tăng 10,5%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 2544,1 triệu lượt khách, tăng 9,7% và 85,7 tỷ lượt khách.km, tăng 8%; đường biển đạt 4,5 triệu lượt khách, tăng 3,6% và 226,3 triệu lượt khách.km, tăng 1,6%. Vận tải bằng đường hàng không tăng mạnh, đạt 29,9 triệu lượt khách, tăng 28,1% và 37,2 tỷ lượt khách.km, tăng 20,4% do các hãng hàng không trong nước tiếp tục tăng cường khai thác thị trường nội địa, đồng thời khai trương thêm một số đường bay quốc tế. Vận tải đường sắt đạt 7,8 triệu lượt khách, giảm 11,3% và 2,8 tỷ lượt khách.km, giảm 17,1% do thời gian đi lại chưa cải thiện nhiều, giá vé chưa cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải đường bộ.

Vận tải hàng hóa tháng Chín ước tính đạt 108,4 triệu tấn, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước và 20,2 tỷ tấn.km, tăng 4,4%. Tính chung 9 tháng, vận tải hàng hóa đạt 937,6 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 179 tỷ tấn.km, tăng 3,8%, trong đó vận tải trong nước đạt 913 triệu tấn, tăng 9,7% và 81,8 tỷ tấn.km, tăng 6,6%; vận tải ngoài nước đạt 24,6 triệu tấn, tăng 2,6% và 97,2 tỷ tấn.km, tăng 1,5%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 728,8 triệu tấn, tăng 10,9% và 44,1 tỷ tấn.km, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 160,3 triệu tấn, tăng 6,2% và 33,2 tỷ tấn.km, tăng 5,9%; đường biển đạt 44,6 triệu tấn, tăng 3,6% và 98,9 tỷ tấn.km, giảm 0,2%. Riêng vận tải đường sắt đạt 3,7 triệu tấn, giảm 25,3% và 2,3 tỷ tấn.km, giảm 25% chủ yếu do hệ thống hạ tầng, phương tiện chậm đổi mới, trong khi cơ sở giao thông, cầu đường bộ phát triển nhanh, thuận lợi nên một lượng lớn hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt chuyển sang vận chuyển bằng đường bộ.

Doanh thu lĩnh vực viễn thông 9 tháng năm 2016 ước tính đạt 285,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2015. Tính đến cuối tháng 9/2016, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 134,8 triệu thuê bao, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 129 triệu thuê bao, tăng 6%; thuê bao cố định đạt 5,8 triệu, giảm 6,5%. Thuê bao Internet băng rộng cố định ước tính đạt 8,8 triệu thuê bao, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2015.

c. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Chín ước tính đạt 813 nghìn lượt người, giảm 9,6% so với tháng trước (do đang là thời điểm cuối mùa du lịch hè ở Việt Nam) nhưng tăng 28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ châu Á tăng 30,8%; từ châu Âu tăng 25,1%; từ châu Mỹ tăng 12,4%; từ châu Úc tăng 11,6%; từ châu Phi tăng 17,3%.

Tính chung 9 tháng, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 7265,4 nghìn lượt người, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 6109 nghìn lượt người, tăng 29,7%; đến bằng đường bộ đạt 1045,2 nghìn lượt người, tăng 10,8%; đến bằng đường biển đạt 111,2 nghìn lượt người, giảm 13,7%.

Trong 9 tháng năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 5264,1 nghìn lượt người, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính, nhất là 2 thị trường chiếm tỷ trọng lớn là Trung Quốc và Hàn Quốc tiếp tục tăng mạnh: Khách đến từ Trung Quốc đạt 1987,6 nghìn lượt người, tăng 57,7%; Hàn Quốc 1134 nghìn lượt người, tăng 39,9%; Nhật Bản 555,2 nghìn lượt người, tăng 11,4%; Đài Loan 382 nghìn lượt người, tăng 15,7%; Ma-lai-xi-a 287,8 nghìn lượt người, tăng 14,9%; Thái Lan 189,4 nghìn lượt người, tăng 34,1%; Xin-ga-po 180,6 nghìn lượt người, tăng 9,1%.

Yếu tố mùa vụ đã tác động mạnh đến lượng khách châu Âu trong tháng Chín, tuy nhiên chính sách gia hạn miễn thị thực cho công dân của 5 nước Tây Âu (Vương quốc Anh, Cộng hòa Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, Vương quốc Tây Ban Nha và Cộng hòa I-ta-li-a) theo Nghị quyết số 56/NQ-CP ngày 20/6/2016 của Chính phủ tiếp tục phát huy hiệu quả khi lượng khách đến từ châu Âu trong 9 tháng năm 2016 đạt 1157,2 nghìn lượt người, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng năm nay, khách đến từ Vương quốc Anh đạt 189,9 nghìn lượt người, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước; Pháp 179,6 nghìn lượt người, tăng 13,8%; Đức 125,6 nghìn lượt người, tăng 18,6%; Tây Ban Nha 42,2 nghìn lượt người, tăng 27,9%; I-ta-li-a 38,3 nghìn lượt người, tăng 31,1%; Liên bang Nga 299,1 nghìn lượt người, tăng 26,5%; Hà Lan 48,4 nghìn lượt người, tăng 24,4%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 548,3 nghìn lượt người, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 421,7 nghìn lượt người, tăng 14,5%. Khách đến từ châu Úc đạt 275,9 nghìn lượt người, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 243,5 nghìn lượt người, tăng 6,6%. Khách đến từ châu Phi đạt 19,9 nghìn lượt người, bằng 97,6% cùng kỳ năm 2015.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/9/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 11,76% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 8,88%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,02% (cùng kỳ năm 2015 tăng 8,9%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 10,46% (cùng kỳ năm trước tăng 10,78%). Lãi suất huy động hiện nay tương đối ổn định, chỉ tăng khoảng 0,2%-0,3% trong khoảng thời gian từ giữa tháng 2 đến tháng 3/2016. Mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại Nhà nước và một số ngân hàng thương mại cổ phần đã giảm 0,5%/năm đối với cho vay ngắn hạn và đưa lãi suất cho vay trung hạn và dài hạn về tối đa 10%/năm đối với các khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đồng thời tích cực triển khai các chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi. Cơ cấu tín dụng đang tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ có hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế.

Thị trường bảo hiểm 9 tháng duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý III/2016 ước tính tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 32%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 15%. Trong bảo hiểm phi nhân thọ, dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc hiện nay là Bảo hiểm Dầu khí với 20,5%; tiếp đến là Bảo Việt chiếm 16,7%; Tổng công ty Bảo hiểm Bưu điện chiếm 8,3%; Bảo Minh chiếm 8,2%, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex chiếm 6,6%. Đối với bảo hiểm nhân thọ, tổng doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới ước tính tăng 32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dẫn đầu thị phần là Bảo Việt Nhân thọ chiếm 21,3%; tiếp đến là Prudential chiếm 20,2%; Manulife chiếm 13,6%; Daiichi chiếm 12,2%; AIA chiếm 11%.

2. Xây dựng, đầu tư

a. Xây dựng

Hoạt động xây dựng 9 tháng năm 2016 đạt khá do việc thi công và giải ngân các công trình, dự án trọng điểm nhìn chung đảm bảo tiến độ. Chính sách lãi suất ngân hàng điều chỉnh giảm đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay. Giá vật liệu xây dựng ổn định, sự cải thiện của thị trường bất động sản cùng các giải pháp của Chính phủ và Bộ, ngành đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các chủ đầu tư, công trình dự án và các doanh nghiệp xây dựng.

Giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành 9 tháng năm 2016 đạt 747,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 58,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,8%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 651 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 37,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,1%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 305,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,9%; công trình nhà không để ở đạt 119,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 16%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 234,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,3%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 88,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8%.

Giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 590,9 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 47 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 513,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,7 nghìn tỷ đồng, giảm 14,2%[12]. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 239,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7%; công trình nhà không để ở đạt 94,8 nghìn tỷ đồng, giảm 0,7%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 185 nghìn tỷ đồng, tăng 7,4%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 71,3 nghìn tỷ đồng, tăng 9%.

b. Đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt 1006,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 33,1% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 378,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% tổng vốn và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 387,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,5% và tăng 10,1%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 240,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,9% và tăng 12,6%.

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

9 tháng các năm 2014, 2015 và 2016

(Theo giá hiện hành)

Đơn vị tính: %

9 tháng

năm 2014

9 tháng

năm 2015

9 tháng

năm 2016

Tổng số 110,9 109,6 109,6
Khu vực Nhà nước 111,5 106,6 107,2
Khu vực ngoài Nhà nước 113,3 111,0 110,1
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 106,3 112,4 112,6

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Chín ước tính đạt 24558 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 6230 tỷ đồng, tăng 10%; vốn địa phương 18328 tỷ đồng, tăng 15,8%. Tính chung 9 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 180 nghìn tỷ đồng, bằng 69,1% kế hoạch năm và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2015, gồm có:

– Vốn trung ương quản lý đạt 42,6 nghìn tỷ đồng, bằng 68,1% kế hoạch năm và tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 15,4 nghìn tỷ đồng, bằng 85,9% và tăng 28,5%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 5059 tỷ đồng, bằng 71,7% và tăng 22,6%; Bộ Y tế 1983 tỷ đồng, bằng 63,8% và tăng 19%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 1947 tỷ đồng, bằng 60,4% và tăng 41,1%; Bộ Xây dựng 708 tỷ đồng, bằng 76,3% và giảm 43,9%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 509 tỷ đồng, bằng 56,8% và tăng 5,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 393 tỷ đồng, bằng 58% và tăng 0,5%; Bộ Công Thương 338 tỷ đồng, bằng 72,8% và tăng 17,6%; Bộ Khoa học và Công nghệ 215 tỷ đồng, bằng 74,3% và giảm 9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 88 tỷ đồng, bằng 64,8% và giảm 32,5%.

– Vốn địa phương quản lý đạt 137,4 nghìn tỷ đồng, bằng 69,4% kế hoạch năm và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 96,7 nghìn tỷ đồng, bằng 66,5% và tăng 15%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 33,5 nghìn tỷ đồng, bằng 74,2% và tăng 7,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 7,2 nghìn tỷ đồng, bằng 96,2% và giảm 0,9%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, bằng 74,8% kế hoạch năm và tăng 41,5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 12,1 nghìn tỷ đồng, bằng 68% và tăng 0,3%; Bình Dương 4141 tỷ đồng, bằng 64,4% và tăng 33,4%; Nghệ An 4085 tỷ đồng, bằng 70,7% và tăng 13,5%; Vĩnh Phúc 3616 tỷ đồng, bằng 68,5% và tăng 7,1%; Quảng Ninh 3580 tỷ đồng, bằng 55,9% và tăng 10%; Bà Rịa – Vũng Tàu 3291 tỷ đồng, bằng 53,7% và tăng 7,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2016 thu hút 1820 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11.164,6 triệu USD, tăng 27,1% về số dự án và tăng 1,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Bên cạnh đó, có 851 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5265,5 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn bổ sung trong 9 tháng năm nay đạt 16.430,1 triệu USD, giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 11,02 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong 9 tháng năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 7911 triệu USD, chiếm 70,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 979,4 triệu USD, chiếm 8,8%; các ngành còn lại đạt 2274,2 triệu USD, chiếm 20,4%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng năm nay đạt 12.154,4 triệu USD, chiếm 74% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1003,2 triệu USD, chiếm 6,1%; các ngành còn lại đạt 3272,5 triệu USD, chiếm 19,9%.

Cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 9 tháng, trong đó Hải Phòng có số vốn đăng ký lớn nhất với 2433,8 triệu USD, chiếm 21,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hà Nội 1082,5 triệu USD, chiếm 9,7%; Bình Dương 1000,8 triệu USD, chiếm 9%; Đồng Nai 900,7 triệu USD, chiếm 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh 745,3 triệu USD, chiếm 6,7%; Hà Nam 575,8 triệu USD, chiếm 5,2%; Bắc Ninh 439,1 triệu USD, chiếm 3,9%.

Trong số 57 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam 9 tháng năm nay, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 4561 triệu USD, chiếm 40,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 1251,1 triệu USD, chiếm 11,2%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 843,7 triệu USD, chiếm 7,6%; Đài Loan 801,9 triệu USD, chiếm 7,2%; Trung Quốc 665,2 triệu USD, chiếm 6%; Nhật Bản 659,7 triệu USD, chiếm 5,9%.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2016 ước tính đạt 665,2 nghìn tỷ đồng, bằng 65,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 536,3 nghìn tỷ đồng, bằng 68,3%; thu từ dầu thô đạt 28,4 nghìn tỷ đồng, bằng 52%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 97,4 nghìn tỷ đồng, bằng 56,6%. Thu ngân sách Nhà nước 9 tháng đạt thấp chủ yếu do ảnh hưởng của giá dầu giảm và tác động của chuyển hướng thương mại, chuyển dịch cơ cấu hàng hóa nhập khẩu khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTAs) làm giảm nguồn thu ngân sách Trung ương[13].

Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 54,5 nghìn tỷ đồng, bằng 109% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 106,1 nghìn tỷ đồng, bằng 74%; thuế thu nhập cá nhân 46,7 nghìn tỷ đồng, bằng 73,4%; thuế bảo vệ môi trường 28,2 nghìn tỷ đồng, bằng 73,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 108,4 nghìn tỷ đồng, bằng 68,2%. Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 136,2 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 53,1% dự toán năm, chủ yếu do các tập đoàn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến dầu, khí, than, khoáng sản và thủy điện gặp khó khăn.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2016 ước tính đạt 819,4 nghìn tỷ đồng, bằng 64,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 130,2 nghìn tỷ đồng, bằng 51,1%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đạt 574,2 nghìn tỷ đồng, bằng 69,7%; chi trả nợ và viện trợ đạt 109,8 nghìn tỷ đồng, bằng 70,8%. Với những giải pháp đã triển khai theo Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản tiếp tục được cải thiện. Tính đến ngày 15/9/2016, giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước tính đạt 51% dự toán năm; vốn trái phiếu Chính phủ đạt 40% dự toán được giao.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Tám đạt 16096 triệu USD, cao hơn 896 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 206 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 175 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 79 triệu USD; thủy sản cao hơn 59 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 44 triệu USD; sắt thép cao hơn 37 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 35 triệu USD; dầu thô cao hơn 34 triệu USD; cà phê cao hơn 33 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Chín ước tính đạt 15,00 tỷ USD, giảm 6,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,31 tỷ USD, giảm 7,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,69 tỷ USD, giảm 6,5%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm so với tháng trước: Hạt tiêu giảm 20,6%; cà phê giảm 19,5%; giày dép giảm 18,2%; điện thoại và linh kiện giảm 17,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Chín năm nay tăng 9,0%, trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 10,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 8,4%. Kim ngạch một số mặt hàng tăng mạnh: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 30,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,1%; giày dép tăng 12,1%; dệt may tăng 8,8%.

Tính chung 9 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 128,2 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 37,0 tỷ USD, tăng 5,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 91,2 tỷ USD, tăng 7,4%. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm nay tăng thấp chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm 3,14% so với cùng kỳ, trong đó nhóm hàng nông sản thực phẩm giảm 5,8%, nhóm hàng nhiên liệu giảm 29,6%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng đạt 132,4 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2015,

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng gia công, lắp ráp tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 25,0 tỷ USD, tăng 8,6%; dệt may đạt 17,9 tỷ USD, tăng 5,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 12,9 tỷ USD, tăng 13,7%; giày dép đạt 9,4 tỷ USD, tăng 7,9%. Một số mặt hàng nông sản và nguyên liệu thô có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Gạo đạt 1,7 tỷ USD[14], giảm 12,4% (lượng giảm 16,3% và giá xuất khẩu bình quân giảm 3%); dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 43,3% (lượng giảm 25% và giá xuất khẩu bình quân giảm 31,5%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 762 triệu USD, giảm 24,8% (lượng giảm 11,4%); sản phẩm hóa chất đạt 683 triệu USD, giảm 1,1%.

Về thị trường xuất khẩu 9 tháng năm 2016, Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 28,3 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực sang thị trường này tăng: Dệt may tăng 4,2%; giày dép tăng 10,9%; điện thoại và linh kiện tăng 51,6%; thủy sản tăng 11,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 29,1%. Tiếp đến là EU đạt 24,6 tỷ USD, tăng 9,5%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 6%; giày dép tăng 8%; dệt may tăng 7%; hạt điều tăng 21,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 19,9%; cà phê tăng 18,8%. Thị trường Trung Quốc đạt 14,8 tỷ USD, tăng 19,1%, trong đó thủy sản tăng 49,3%; rau quả tăng 39,3%; dệt may tăng 24,7%; giày dép tăng 21,8%; điện thoại và linh kiện tăng 76,2%. Thị trường Nhật Bản đạt 10,7 tỷ USD, tăng 3,2%; Hàn Quốc đạt 8,3 tỷ USD, là thị trường có tốc độ tăng mạnh nhất với 29,9%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 110%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 73,4%; rau quả tăng 30,4%. Riêng thị trường ASEAN được kỳ vọng tăng xuất khẩu, nhưng kim ngạch chỉ đạt 12,5 tỷ USD, giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện giảm 5%; phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 27,2%; sắt thép giảm 27,7%.

Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm nay ít biến động so với cùng kỳ năm trước: Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 58,8 tỷ USD, tăng 6,9% và chiếm 45,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2015); nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 51,2 tỷ USD, tăng 6,6% và chiếm 39,9% (giảm 0,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản (đạt 13,2 tỷ USD, tăng 6,5% và chiếm 10,3% kim ngạch) và hàng thủy sản (đạt 5 tỷ USD, tăng 5,7%, chiếm 3,9%) cơ cấu không thay đổi so với cùng kỳ năm 2015.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng Tám đạt 15523 triệu USD, cao hơn 523 triệu USD so với số ước tính, trong đó: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 97 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 96 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu cao hơn 94 triệu USD; lúa mỳ và chất dẻo cùng cao hơn 74 triệu USD; kim loại thường khác cao hơn 55 triệu USD; xăng dầu cao hơn 40 triệu USD; rau quả cao hơn 28 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Chín ước tính đạt 15,10 tỷ USD, giảm 2,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,05 tỷ USD, giảm 2,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9,05 tỷ USD, giảm 3,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Chín tăng 9,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,8%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 21,3%; sắt thép tăng 23,5%; kim loại thường khác tăng 24,8%.

Tính chung 9 tháng năm 2016, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 125,4 tỷ USD, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 51,4 tỷ USD, tăng 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 74,0 tỷ USD, tăng 0,9%. Nếu loại trừ yếu tố giá (giá nhập khẩu bình quân giảm 7,13%), kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt 135,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2015.

Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước giảm so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 20,2 tỷ USD, giảm 2,7%; điện thoại và linh kiện đạt 7,5 tỷ USD, giảm 8%; xăng dầu đạt 3,4 tỷ USD, giảm 14,1% (lượng tăng 22,9%); thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,5 tỷ USD, giảm 2,1%; hóa chất đạt 2,3 tỷ USD, giảm 2,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,3 tỷ USD, giảm 20,2%; bông đạt 1,2 tỷ USD, giảm 4,6%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 20,2 tỷ USD, tăng 16,9%; vải đạt 7,7 tỷ USD, tăng 2,7%; sắt thép đạt 5,8 tỷ USD, tăng 1,9%; chất dẻo đạt 4,5 tỷ USD, tăng 2,9%; kim loại thường khác đạt 3,6 tỷ USD, tăng 17,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 3,2 tỷ USD, tăng 16,7%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 9 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với 36 tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước[15], trong đó nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 2,4%, điện thoại và linh kiện giảm 15,7%. Tiếp theo là Hàn Quốc với 23 tỷ USD, tăng 9,4%, trong đó hàng điện tử, máy tính và linh kiện tăng 24,2% (1,2 tỷ USD); máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 5,4%; điện thoại và linh kiện tăng 10,6%. Nhập khẩu từ thị trường ASEAN đạt 17,1 tỷ USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xăng dầu giảm 7%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 15,1%; Nhật Bản đạt 10,9 tỷ USD, tăng 0,1%; EU đạt 8,1 tỷ USD, tăng 4,9%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 1,9%; dược phẩm tăng 18,2%; Hoa Kỳ đạt 6 tỷ USD, tăng 0,3%, trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 48,9%; sản phẩm hóa chất tăng 2,9%.

  Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 9 tháng: Nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 114,5 tỷ USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ 2015 và chiếm 91,3% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2015), trong đó nhóm máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 51,1 tỷ USD, tăng 1,2% và chiếm 40,7% (giảm 0,1 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu đạt 63,4 tỷ USD, tăng 1,2% và chiếm 50,6% (không thay đổi); nhóm hàng tiêu dùng đạt 10,9 tỷ USD, tăng 2,8% và chiếm 8,7% (tăng 0,1 điểm phần trăm).

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tám xuất siêu 573 triệu USD[16]. Tháng Chín ước tính nhập siêu 100 triệu USD, tính chung 9 tháng năm 2016 xuất siêu 2,76 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 14,38 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,14 tỷ USD.

c. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Xuất khẩu dịch vụ 9 tháng năm nay ước tính đạt 9,2 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch và tăng 17,9%. Nhập khẩu dịch vụ 9 tháng ước tính đạt 12,6 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt 6,6 tỷ USD, chiếm 52,2% tổng kim ngạch và tăng 2,2%. Nhập siêu dịch vụ 9 tháng là 3,4 tỷ USD.

5. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2016 tăng 0,54% so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 7,19% (dịch vụ giáo dục tăng 8,36%) do trong tháng có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện điều chỉnh tăng giá học phí theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính Phủ (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,42%). Nhóm giao thông tăng 0,55% do giá xăng dầu được điều chỉnh tăng  vào các thời điểm 19/8/2016 và 05/9/2016 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,2%, tác động làm CPI chung tăng 0,05%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; nhà ở và vật liệu xây dựng; hàng ăn và dịch vụ ăn uống cùng tăng 0,09%[17]; đồ uống và thuốc lá tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; riêng bưu chính viễn thông giảm 0,07%.

CPI tháng 9/2016 tăng 3,14% so với tháng 12/2015, bình quân mỗi tháng tăng 0,34%. CPI bình quân 9 tháng năm 2016 tăng 2,07% so với bình quân cùng kỳ năm 2015, cao hơn so với mức tăng 0,74% của bình quân cùng kỳ năm trước, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng CPI bình quân 9 tháng của một số năm gần đây[18] và vẫn nằm trong giới hạn mục tiêu 5% mà Quốc hội đề ra. Tuy nhiên, từ nay đến hết năm 2016 có nhiều yếu tố gây áp lực lên CPI: Giá dịch vụ y tế, giá xăng dầu, chi tiêu dùng cuối năm, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và các Bộ, ngành liên quan theo dõi sát diễn biến giá cả, thị trường, đồng thời cần cân nhắc thời gian điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng thiết yếu để tránh gây tác động lan tỏa về mặt tâm lý lên CPI.

Lạm phát cơ bản tháng 9/2016 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2016 tăng 1,81% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 9/2016 giảm 0,36% so với tháng trước; tăng 17,11% so với tháng 12/2015; tăng 13,08% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2016 tăng 0,07% so với tháng trước; giảm 0,99% so với tháng 12/2015 và giảm 0,77% so với cùng kỳ năm 2015.

c. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III năm 2016 tăng 0,43% so với quý trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất hàng nông nghiệp tăng 0,91% và tăng 3,6%; hàng lâm nghiệp tăng 0,59% và tăng 2,78%; hàng thủy sản giảm 1,23% và tăng 2,4%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,78% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý III tăng 0,65% so với quý trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 2,94% và giảm 7,36%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,49% và tăng 0,61%; điện và phân phối điện tăng 0,20% và giảm 0,73%; nước sạch và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,26% và tăng 1,73%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp giảm 0,93% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý III năm nay tăng 0,85% so với quý trước và giảm 0,41% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,06% và giảm 0,39%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1% và giảm 0,27%; sử dụng cho xây dựng giảm 0,73% và giảm 1,95%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất giảm 1,30% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý III tăng 0,23% so với quý trước và giảm 2,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 0,40% và giảm 1,27%; giá cước vận tải hàng hóa giảm 0,06% và giảm 4,66%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 0,82% và tăng 3,73%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường trong quý III như sau: Giá cước ngành đường sắt tăng 1,59% so với quý trước và giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 0,25% và giảm 2,98%; đường thủy tăng 0,02% và giảm 5,92%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 0,82% và tăng 3,73%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá cước vận tải kho bãi giảm 2,11% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý III năm 2016 tăng 0,43% so với quý trước và tăng 2,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,41% và tăng 2,83%; thông tin và truyền thông tăng 0,03% và tăng 0,15%; giáo dục và đào tạo tăng 1,54% và tăng 4,85%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 2,00% và tăng 28,59%. Tính chung 9 tháng năm nay, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do trong quý III một số địa phương thực hiện tăng học phí và điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo lộ trình.

d. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III năm nay tăng 1,19% so với quý trước và giảm 1,72% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 3,89% và giảm 2,81%; nhóm nhiên liệu tăng 12,31% và giảm 17,54%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,08% và tăng 1,19%. Chỉ số giá xuất khẩu của một số mặt hàng tăng/giảm so với các kỳ tương ứng như sau: Rau quả tăng 1,83% và giảm 6,82%; cà phê tăng 10,84% và giảm 10,78%; dầu thô tăng 12,64% và giảm 18,71%; cao su tăng 10,62% và giảm 9,29%; sắt, thép giảm 1,79% và giảm 25,39%. Tính chung 9 tháng năm 2016, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá giảm 3,14% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý III tăng 1,15% so với quý trước và giảm 5,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 3,4% và giảm 1,93%; nhóm nhiên liệu tăng 14,05% và giảm 26,33%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,06% và giảm 4,29%. Chỉ số giá nhập khẩu của một số mặt hàng tăng/giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước như sau: Khí đốt hóa lỏng giảm 2,64% và giảm 10,48%; xăng dầu tăng 15,64% và giảm 20,33%; cao su tăng 8,32% và giảm 1,82%; gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 2,68% và giảm 8,58%; máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện tăng 0,32% và giảm 2,46%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá giảm 7,13% so với cùng kỳ năm 2015.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[19] quý III năm nay tăng 0,04% so với quý trước và tăng 4,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu các loại giảm 1,4% và giảm 2,47%; cao su tăng 2,12% và giảm 7,61%; máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện giảm 0,05% và tăng 2,58%; dây điện và dây cáp điện giảm 2,38% và tăng 1,54%. Tính chung 9 tháng đầu năm, tỷ giá thương mại hàng hoá tăng 4,29% so với cùng kỳ năm 2015. Tỷ giá thương mại hàng hóa quý III tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước thể hiện giá xuất khẩu hàng hóa vẫn có lợi thế tương đối so với giá nhập khẩu hàng hóa.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2016 của cả nước ước tính đạt 92,70 triệu người, tăng 987,8 nghìn người, tương đương tăng 1,08% so với năm 2015, bao gồm dân số thành thị 32,06 triệu người, chiếm 34,6%; dân số nông thôn 60,64 triệu người, chiếm 65,4%; dân số nam 45,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 46,95 triệu người, chiếm 50,6%.

Theo kết quả Điều tra biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2016, tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,09 con/phụ nữ; tỷ suất sinh thô ước tính đạt 15,74‰; tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 112,2 bé trai/100 bé gái; tỷ suất chết thô là 6,83‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 14,52‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 21,80‰. Tỷ suất chết tiếp tục ở mức thấp thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khỏe, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong thời gian qua.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/10/2016 ước tính là 54,44 triệu người, tăng 122,7 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2015, bao gồm: Lao động nam 28,02 triệu người, chiếm 51,5%; lao động nữ 26,42 triệu người, chiếm 48,5%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,54 triệu người, chiếm 32,2%; khu vực nông thôn là 36,90 triệu người, chiếm 67,8%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm trên ước tính 47,88 triệu người, giảm 233,2 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển tại miền Trung, trong đó lao động nam 25,82 triệu người, chiếm 53,9%; lao động nữ 22,06 triệu người, chiếm 46,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,02 triệu người, chiếm 33,5%; khu vực nông thôn là 31,86 triệu người, chiếm 66,5%.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 9 tháng năm nay ước tính 53,27 triệu người, bao gồm 22,32 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 41,9% tổng số lao động của cả nước; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,16 triệu người, chiếm 24,7%; khu vực dịch vụ 17,79 triệu người, chiếm 33,4%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2016 là 2,25%; quý II là 2,29%; ước tính quý III là 2,34%. Tính chung 9 tháng năm nay, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,29%, trong đó khu vực thành thị là 3,23%; khu vực nông thôn là 1,82%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) 9 tháng đầu năm là 7,04%, trong đó khu vực thành thị là 11,65%; khu vực nông thôn là 5,27%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I là 1,76%; quý II là 1,55%; quý III ước tính là 1,68%. Tính chung 9 tháng năm 2016, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 1,66%, trong đó khu vực thành thị là 0,70%; khu vực nông thôn là 2,11%.

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[20] quý II là 56,1%; quý III ước tính là 55,8%. Tính chung 9 tháng năm 2016 cả nước có 55,9% lao động có việc làm phi chính thức, trong đó khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 63,9%.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong 9 tháng năm 2016, cả nước có 251,2 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 1040,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 15,4%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thiếu đói tăng so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán và tình trạng xâm nhập mặn nghiêm trọng tại một số khu vực, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,8 nghìn tấn lương thực, riêng tháng 9 hỗ trợ 775 tấn lương thực. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 ước tính 5,8%-6,0%. Nếu theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020[21], tỷ lệ hộ nghèo ước tính khoảng 10,4%.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 9 tháng năm 2016 là 4677 tỷ đồng, bao gồm: 2964 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1173 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 540 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có hơn 8,7 triệu bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại 04 tỉnh miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế làm hải sản chết bất thường, gây thiệt hại lớn về kinh tế – xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân địa phương. Để hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng sự cố trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 09/5/2016 về việc hỗ trợ khẩn cấp cho người dân tại các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế bị ảnh hưởng do hải sản chết bất thường, đồng thời chỉ đạo các ngành, các cấp khẩn trương khắc phục hậu quả sự cố, hỗ trợ người dân kịp thời và đạt hiệu quả. Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương xác định thiệt hại, xây dựng định mức bồi thường, hỗ trợ để người dân tại 04 tỉnh sớm ổn định sản xuất và đời sống.

3. Giáo dục, đào tạo

Tính đến cuối tháng 9/2016, cả nước có 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 12 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

Tại thời điểm khai giảng năm học 2016-2017, cả nước có trên 4,9 triệu trẻ em đi học mầm non, bao gồm 0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,2 triệu trẻ em đi học mẫu giáo; 15,7 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 7,7 triệu học sinh tiểu học; 5,5 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,5 triệu học sinh trung học phổ thông.

Theo báo cáo sơ bộ, năm học 2015 – 2016 cả nước có 887,4 nghìn thí sinh tham dự kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, giảm 11,8% so với năm học trước. Đáng lưu ý là trong năm học này có 286,1 nghìn thí sinh đăng ký dự thi chỉ lấy kết quả xét tuyển tốt nghiệp trung học phổ thông, chiếm 32,2% tổng số thí sinh (tăng 4 điểm phần trăm so với năm học trước). Điều này chứng tỏ công tác hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông đã có chuyển biến, là tín hiệu tích cực cho thấy học sinh không còn xem đại học là con đường duy nhất.

Công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2016-2017 đã có sự điều chỉnh nhằm đáp ứng tốt hơn cơ hội lựa chọn những ngành nghề phù hợp với nguyện vọng của thí sinh và đảm bảo quyền tự chủ tuyển sinh của các trường. Kỳ thi tuyển sinh năm học này đã có gần 300 trường có đề án tự chủ tuyển sinh, tăng 100 trường so với năm học trước. Sau đợt một, 127 trường đại học, học viện trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh được 277 nghìn thí sinh, đạt 91% chỉ tiêu đặt ra, trong đó 41 trường đã tuyển đủ chỉ tiêu.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 9/2016, cả nước có 1,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 47 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 116 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (06 trường hợp tử vong); 08 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Tính chung 9 tháng năm 2016, cả nước có hơn 25,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 255 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 686 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (17 trường hợp tử vong); 41 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (05 trường hợp tử vong). Dịch sốt xuất huyết tiếp tục bùng phát mạnh tại các tỉnh vùng Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long do đang trong mùa mưa, là môi trường thuận lợi cho muỗi lây truyền dịch phát triển. Trong tháng đã phát hiện thêm 11,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (03 trường hợp tử vong), nâng tổng số trường hợp mắc bệnh tính từ đầu năm đến nay là 68,7 nghìn người (21 trường hợp tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/9/2016 là 229,4 nghìn người, trong đó 86,8 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 88,4 nghìn người.

Trong tháng Chín đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 121 người bị ngộ độc. Tính từ 17/12/2015 đến 17/9/2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 100 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 3025 người bị ngộ độc, trong đó 9 trường hợp tử vong.

5. Hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa từ đầu năm đến nay tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước; chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Các hoạt động văn hóa được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm; tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong nhân dân. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa với chủ đề biển đảo tiếp tục được tổ chức tại nhiều địa phương nhằm tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, nâng cao nhận thức của nhân dân và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Công tác tổ chức và quản lý lễ hội được quan tâm thực hiện nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian, phù hợp với lịch sử và truyền thống văn hóa của dân tộc; tăng cường kiểm tra và kiên quyết xử lý những lễ hội có vi phạm, không đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.

Trong 9 tháng năm 2016, ngành Thể dục thể thao tiếp tục duy trì và đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe nhân dân”. Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức chương trình Bơi an toàn phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2016-2020 và Hội khỏe Phù Đổng lần thứ IX tại một số khu vực. Nhiều hoạt động thể dục, thể thao quần chúng được tổ chức tạo không khí vui tươi trong các dịp Lễ và Tết Nguyên đán. Tại Thế vận hội Paralympic Rio 2016, đoàn thể thao Người khuyết tật Việt Nam đã giành được 01 huy chương vàng; 01 huy chương bạc và 02 huy chương đồng, xếp thứ 55/83 trên bảng tổng sắp.

Hoạt động thể thao thành tích cao trong 9 tháng vừa qua đạt được nhiều kết quả nổi bật: Thể thao Việt Nam lần đầu tiên trong lịch sử giành 01 huy chương vàng và 01 huy chương bạc, xếp vị trí thứ 48/206 quốc gia, vùng lãnh thổ tại Thế vận hội Olympic Rio 2016; 01 huy chương vàng, 02 huy chương bạc và 05 huy chương đồng tại Giải vô địch cử tạ châu Á; 02 huy chương bạc và 01 huy chương đồng tại Cup Thể dục dụng cụ thế giới; 02 huy chương vàng, 03 huy chương bạc và 02 huy chương đồng tại giải vô địch Điền kinh trẻ Châu Á, đạt 3 chuẩn tham dự giải vô địch Điền kinh trẻ thế giới; 01 huy chương đồng tại Cup Bắn súng thế giới; 44 huy chương vàng, 21 huy chương bạc và 26 huy chương đồng tại giải Vô địch Vật Đông Nam Á; 01 huy chương vàng và 02 huy chương bạc tại giải vô địch Cờ vua châu Á; 12 huy chương vàng, 06 huy chương bạc và 04 huy chương đồng tại giải vô địch Pencak Silat châu Á; 14 huy chương vàng, 8 huy chương bạc và 11 huy chương đồng tại giải Vô địch Karatedo Đông Nam Á; 08 huy chương vàng, 02 huy chương bạc và 02 huy chương đồng tại giải Bắn cung Đông Nam Á.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng Chín (từ 16/8 đến 15/9), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1867 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 827 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1040 vụ va chạm giao thông, làm 682 người chết; 504 người bị thương và 1237 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 1,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 0,6%; số vụ va chạm giao thông tăng 3,5%); số người chết giảm 2,2%; số người bị thương tăng 5,2% và số người bị thương nhẹ tăng 1,7%.

Tính chung 9 tháng năm 2016, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 15411 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 7473 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 7938 vụ va chạm giao thông, làm 6440 người chết; 4285 người bị thương và 9188 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 9 tháng giảm 7,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,8%; số vụ va chạm giao thông giảm 12,5%); số người chết giảm 2%; số người bị thương giảm 2,7% và số người bị thương nhẹ giảm 15%. Bình quân 01 ngày trong 9 tháng năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 29 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 16 người bị thương và 33 người bị thương nhẹ.

7. Thiệt hại do thiên tai [22]

Trong 9 tháng năm 2016, rét đậm, rét hại kéo dài cùng với bão, áp thấp nhiệt đới và mưa lớn… ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư tại nhiều địa phương trên cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 125 người chết và mất tích; 266 người bị thương; hơn 3,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 95,9 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 227,3 nghìn ha lúa, 59,2 nghìn ha hoa màu và 23,9 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 37,5 nghìn con gia súc, 256,1 nghìn gia cầm và 862 tấn thủy sản các loại bị chết. Một số địa phương bị thiệt hại nhiều: Lào Cai 29 người chết và mất tích, 12 người bị thương, gần 2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái, 12,8 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; Thái Bình 46 người bị thương, 3,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái, 42 nghìn ha lúa, hoa màu và 9,8 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; Nam Định 19,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái, 83,3 nghìn ha lúa, hoa màu và 4,3 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 9 tháng ước tính 10,5 nghìn tỷ đồng, trong đó Thái Bình thiệt hại 2,6 nghìn tỷ đồng; Nam Định 2,4 nghìn tỷ đồng.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Chín, cơ quan chức năng đã phát hiện 1260 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 886 vụ với tổng số tiền phạt 11,3 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng năm 2016, đã phát hiện 10995 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 5444 vụ với tổng số tiền phạt hơn 428,8 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 187 vụ cháy, nổ làm 10 người chết và 7 người bị thương, thiệt hại ước tính 32,3 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng, cả nước xảy ra 2460 vụ cháy, nổ làm 90 người chết và 216 người bị thương, thiệt hại ước tính 1058 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế – xã hội nước ta trong 9 tháng mặc dù gặp khó khăn nhưng tiếp tục có chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; doanh nghiệp mới thành lập và quay lại hoạt động tăng cao; thu hút khách du lịch quốc tế đạt khá. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả quan trọng đạt được, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng chưa đạt như kỳ vọng, xuất nhập khẩu chưa có nhiều cải thiện, tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng còn lớn. Đời sống nhân dân ở các vùng bị thiên tai, vùng bị ô nhiễm môi trường còn gặp nhiều khó khăn.

Để hoàn thành tốt mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2016, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020, trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất, thúc đẩy khởi nghiệp, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, kiểm soát lạm phát; điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế. Tăng cường và thực hiện hiệu quả các biện pháp chống thất thu, nợ đọng thuế, tăng thu ngân sách nhà nước. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi ngân sách, triệt để tiết kiệm chi tiêu thường xuyên.

Hai là, tập trung thực hiện đẩy nhanh tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để thích nghi với biến đổi khí hậu. Đẩy nhanh nghiên cứu và đưa vào sử dụng các loại giống tốt, giống chất lượng; thực hiện các biện pháp thâm canh, ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương cần có các giải pháp trung và dài hạn xử lý vấn đề xâm nhập mặn, vấn đề hạn hán ở Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và Tây Nguyên vì đây không chỉ là hiện tượng của năm 2016. Đối với các tỉnh bị xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh bị hạn hán ở miền Trung và Tây Nguyên, cần nghiên cứu, quy hoạch lại cơ cấu sản xuất các ngành, nhất là trong sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hướng hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn. Đồng thời tiến hành tu bổ, nạo vét hệ thống kênh mương, công trình thủy lợi ngăn mặn, xây dựng các hồ chứa để giữ nước ngọt phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

Ba là, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu. Chú trọng các chính sách tài chính  giúp cộng đồng khởi nghiệp Việt Nam vươn lên và phát triển mạnh mẽ. Tạo điều kiện thuận lợi phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, gắn với các lợi thế về nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp, thuỷ sản. Tiếp tục đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước bảo đảm công khai, minh bạch.

Bốn là, khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu các nhóm hàng, mặt hàng có khả năng cạnh tranh, thị trường ổn định. Tăng cường và thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu. Cần nắm rõ các quy định về khung pháp lý của thị trường, nhất là vệ sinh, an toàn thực phẩm và các rào cản kỹ thuật để chủ động xây dựng các biện pháp khắc phục kịp thời. Chủ động triển khai thực hiện hiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Cộng đồng ASEAN, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các hiệp định thương mại tự do đã ký kết.

Năm là, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Tiếp tục thực hiện hỗ trợ vùng bị thiệt hại do thiên tai; khẩn trương thực hiện bồi thường, hỗ trợ người dân ở các tỉnh miền Trung bị thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Trong tháng 6/2016 Ngân hàng Thế giới đã hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2016 xuống còn 2,4% từ mức tăng 2,9% đã dự báo trong tháng 1/2016.

[2] Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng quý I tăng 0,2%; quý II giảm 5,3%; quý III giảm 6,8%.

[3] Tốc độ tăng khu vực I của 9 tháng năm 2011 là 3,95%; 2012: 2,75%; 2013: 2,38%; 2014: 2,94% và 2015 là 2,08%.

[4] Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2015 như sau: Khu vực I đóng góp 0,40 điểm phần trăm; khu vực II đóng góp 3,20 điểm phần trăm; khu vực III đóng góp 2,43 điểm phần trăm.

[5]  Trong đó diện tích chuyển đổi của Hưng Yên là 1269 ha; Hà Nội 247 ha; Hải Dương 182 ha; Thanh Hóa 178 ha, Hải Phòng 34 ha.

[6] Diện tích chuyển sang phục vụ công trình thủy lợi, dân sinh của Bắc Ninh là 650 ha; Hà Nội 357 ha; Hải Phòng 239 ha; Thanh Hóa 201 ha.

[7] Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của Hà Tĩnh giảm 3,66 nghìn tấn (giảm 14,4%); Quảng Bình giảm 6,0 nghìn tấn (giảm 13,4%); Quảng Trị giảm 4,8 nghìn tấn (giảm 27,1%); Thừa Thiên – Huế giảm 7,2 nghìn tấn (giảm 23,9%).

[8] 9 tháng năm 2015 ngành khai khoáng tăng 8,6%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%.

[9] Chỉ số sản xuất ngành chế biến chế tạo quí I tăng 9,4%; quí II tăng 11,1%; quí III tăng 11%; 6 tháng  tăng 10,2%; 7 tháng tăng 10,1%; 8 tháng tăng 10,2%; 9 tháng tăng 10,4%.  Ngành sản xuất và phân phối điện tăng lần lượt là: 12,4%; 10,2%; 13,2%; 11,2%; 11,8%; 12,3%; 12,1%.  Ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng lần lượt là: 8,8%; 6,1%; 7%; 6,9%; 6,9%; 6,8%; 6,9%.

[10] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[11] Trong 9 tháng năm 2016 còn có 1160,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn, nâng tổng số vốn đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 9 tháng đạt 1789,5 nghìn tỷ đồng.

[12] Chủ yếu do dự án Khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Formosa đã hoàn thành xây dựng giai đoạn 1 nhưng do sự cố môi trường biển ở các tỉnh miền Trung nên hiện nay chưa đi vào hoạt động chính thức.

[13] Ước tính đến 15/9/2016 thu cân đối ngân sách Trung ương mới đạt 57% dự toán; thu ngân sách địa phương đạt 77,8%.

[14] Xuất khẩu gạo 9 tháng năm 2016 sang hai thị trường lớn là Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a đều giảm so với cùng kỳ năm trước, thêm vào đó là thị trường Trung Quốc đòi hỏi cao hơn về chất lượng gạo nhập khẩu từ Việt Nam. Việc tìm kiếm thị trường mới như Hoa Kỳ, EU gặp khó khăn do gạo chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng của các thị trường này và sức cạnh tranh kém so với gạo của một số nước xuất khẩu gạo lớn khác. Xuất khẩu sang thị trường khu vực Châu Phi gặp khó khăn trong vận chuyển do khoảng cách địa lý nên giá thành cao.

[15] Nhập siêu từ Trung Quốc 9 tháng năm 2016 là 21,3 tỷ USD, giảm 12,5% so với cùng kỳ 2015.

[16] Ước tính xuất siêu 200 triệu USD.

[17] Trong đó giá lương thực tăng 0,16% do Việt Nam đã trúng thầu 150.000 tấn gạo xuất khẩu cho Phi-li-pin vào cuối tháng Tám; giá rau tươi tăng mạnh 10%-15% do ảnh hưởng của mùa mưa; giá thực phẩm tăng 0,1%.

[18] CPI bình quân 9 tháng so với cùng kỳ của một số năm như sau: Năm 2008 tăng 22,76%; năm 2009 tăng 7,64%; năm 2010 tăng 8,64%; năm 2011 tăng 18,16%; năm 2012 tăng 9,96%; năm 2013 tăng 6,83%; năm 2014 tăng 4,61%.

[19] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[20] Lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm những người không làm việc trong khu vực hộ nông nghiệp và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) lao động gia đình không được hưởng công hưởng hương; (ii) người chủ hoặc xã viên hợp tác xã của cơ sở chưa có đăng ký kinh doanh và (iii) người làm công ăn lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc.

[21] Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

  – Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống và (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt  từ 03/10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên;

  – Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống và (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt  từ 03/10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

[22] Chưa kể thiệt hại do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung Bộ,
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.