1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc lúa đông xuân ở các địa phương phía Bắc; thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và xuống giống lúa hè thu tại các địa phương phía Nam. Tính đến ngày 15/5, các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy lúa đông xuân, diện tích ước tính đạt 1155,2 nghìn ha, bằng 99,4% vụ đông xuân năm trước. Theo báo cáo sơ bộ, sản lượng lúa đông xuân năm nay của các địa phương phía bắc ước tính đạt 7,1 triệu tấn, giảm 53,4 nghìn tấn so với vụ đông xuân 2015, chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài vào đầu vụ và sâu bệnh phát sinh gây hại ở một số địa phương.

Đến trung tuần tháng Năm, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1868,4 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 97,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1555,6 nghìn ha, bằng 99,6%. Công tác thu hoạch lúa đông xuân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn tất với sản lượng ước tính đạt 10 triệu tấn, giảm 1,1 triệu tấn so với vụ đông xuân 2015. Vụ lúa đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long năm nay bị ảnh hưởng lớn do tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn. Một số địa phương có sản lượng lúa giảm mạnh so với vụ đông xuân 2015 là: Kiên Giang giảm 374,2 nghìn tấn; Trà Vinh giảm 196,6 nghìn tấn; Long An giảm 163,2 nghìn tấn; Vĩnh Long giảm 46,5 nghìn tấn; riêng Bến Tre là tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất, sản lượng lúa đông xuân chỉ đạt 800 tấn, bằng 1% so với vụ đông xuân năm trước do 98% diện tích xuống giống bị mất trắng vì nhiễm mặn.

Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 1022,3 nghìn ha lúa hè thu, bằng 89,4% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ 945,4 nghìn ha, bằng 88,3%. Do thời tiết nắng hạn và tình trạng nhiễm mặn kéo dài nên tiến độ gieo cấy lúa vụ hè thu năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước.

Gieo trồng hoa màu nhìn chung đạt thấp. Tính đến giữa tháng Năm, trên cả nước đã gieo trồng được 665,2 nghìn ha ngô, bằng 92,9% cùng kỳ năm trước; 81,4 nghìn ha khoai lang, bằng 92,1%; 145,6 nghìn ha lạc, bằng 90,6%; 42,1 nghìn ha đậu tương, bằng 73,6%; 591,9 nghìn ha rau, đậu, bằng 101%.

Chăn nuôi trâu, bò ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ gặp khó khăn do ảnh hưởng của hạn hán, lượng nước và nguồn thức ăn khan hiếm. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1,5%-2% so với cùng kỳ năm 2015; đàn bò tăng 1%-1,5%; đàn lợn và đàn gia cầm cùng tăng khoảng 3%-3,5%.

Tính đến ngày 22/5/2016, cả nước không còn dịch cúm gia cầm; các dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở một số địa phương là: dịch lở mồm long móng ở Thanh Hóa; dịch lợn tai xanh ở Quảng Trị.

b. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung tháng Năm ước tính đạt 22,4 nghìn ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 11 triệu cây, tăng 1,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 748 nghìn m3, tăng 10%; sản lượng củi khai thác đạt 1,9 triệu ste, tương đương với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 56,7 nghìn ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2015; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 88,3 triệu cây, tăng 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2854 nghìn m3, tăng 7,4%[1]; sản lượng củi khai thác 12,5 triệu ste, tăng 1%.

Mặc dù công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng đã được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng do thời tiết khô hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong tháng Năm, cả nước có 814 ha rừng bị thiệt hại, gấp 3 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 713 ha; diện tích rừng bị phá là 101 ha. Tính chung 5 tháng đầu năm 2016, diện tích rừng bị thiệt hại là 2255 ha, gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2015, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1863 ha, gấp 2,5 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 392 ha, tăng 22%. Theo thông tin cảnh báo cháy rừng từ cơ quan chức năng, tính đến ngày 24/5/2016 cả nước có 2 tỉnh[2] có khu vực nguy cơ cháy rừng cấp V – cấp cực kỳ nguy hiểm. Do đó, các địa phương cần chủ động tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng.

c. Thủy sản

Sản lượng thuỷ sản tháng Năm ước tính đạt 614,2 nghìn tấn, tương đương với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 460,8 nghìn tấn, giảm 0,4%; tôm đạt 67,1 nghìn tấn, giảm 1,5%; thủy sản khác đạt 86,3 nghìn tấn, tăng 3,5%.

Nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng, các ao, đầm bị xâm nhập mặn nặng ở Đồng bằng sông Cửu Long, môi trường nước biến đổi làm cho thủy sản bị dịch bệnh, gây tổn thất lớn cho người nuôi. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 366,3 nghìn tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 284,3 nghìn tấn, giảm 1,1%; tôm đạt 50 nghìn tấn, giảm 2,5%; thủy sản khác đạt 32 nghìn tấn, tăng 4,6%.

Nuôi cá tra tiếp tục đối mặt với tình trạng sức mua chững lại, giá giảm[3], người nuôi không có lãi nên vẫn bỏ trống ao, đầm. Sản lượng cá tra thu hoạch trong tháng ước tính đạt 91 nghìn tấn, giảm 10,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có sản lượng giảm mạnh: An Giang đạt 17,2 nghìn tấn, giảm 20,9%; Bến Tre 15 nghìn tấn, giảm 46,8%; Cần Thơ 13,6 nghìn tấn, giảm 4%.

Nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn, tôm nuôi chậm lớn, dễ mắc bệnh. Hiện nay nhiều hộ nuôi vẫn chưa thả giống, chờ thời tiết thuận lợi và chỉ đạo của cơ quan chuyên môn để tránh gặp rủi ro. Sản lượng tôm sú và tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 36,8 nghìn tấn, giảm 10,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương trọng điểm về tôm nước lợ đều bị giảm về sản lượng: Cà Mau đạt 11,1 nghìn tấn tôm thẻ chân trắng, giảm 68,8%; Sóc Trăng đạt 2,3 nghìn tấn tôm sú, giảm 35,4%; Kiên Giang đạt 3,2 nghìn tấn tôm sú
và 0,5 nghìn tấn tôm thẻ chân trắng, giảm lần lượt là 26,2% và 4,2%; Bạc Liêu đạt 1,4 nghìn tấn tôm sú và 5,9 nghìn tấn tôm thẻ chân trắng, giảm 43,3% và giảm 48,6%.

Vào cuối tháng Tư, một số địa phương thuộc vùng biển Bắc Trung bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế) xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt trôi dạt vào bờ đã ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng, hải sản khai thác khó tiêu thụ, nhiều ngư dân phải dừng đánh bắt ở vùng biển ven bờ. Sản lượng thủy sản khai thác tháng Năm ước tính đạt 247,9 nghìn tấn, tăng 1,3% so với tháng 5/2015, trong đó sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 233 nghìn tấn, tăng 1,5%, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ các năm gần đây[4].

 Tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2454,9 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1152,1 nghìn tấn, tăng 0,5%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1302,8 nghìn tấn, tăng 3,1% (Sản lượng khai thác biển đạt 1239,6 nghìn tấn, tăng 3,2%, trong đó sản lượng cá ngừ đại dương đạt 10,4 nghìn tấn, giảm 3,3%).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm ước tính tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 4,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 9,4% của cùng kỳ năm 2015[5]. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 6,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 1,2%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất
5 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 18,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 17,5%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 17%; dệt tăng 16,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,2%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 14,9%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 12%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 6,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 2,9%; khai thác than tăng 2,8%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,3%; sản xuất thuốc lá tăng 1,8%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,4%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 5 tháng đầu năm ước tính tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 42%; ô tô tăng 28,6%; thép thanh, thép góc tăng 22,5%; thép cán tăng 20,8%; thức ăn cho gia súc tăng 17,5%; xi măng tăng 16,1%; sắt, thép thô tăng 14,6%. Một số sản phẩm tăng khá: Bột ngọt tăng 13,6%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 13,1%; điện sản xuất tăng 11,7%; sữa bột tăng 10,5%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Than đá tăng 2,7%; thuốc lá điếu tăng 1,8%; xe máy giảm 2,3%; giày, dép da giảm 2,9%; đường kính giảm 3,4%; dầu mỏ thô
khai thác giảm 4,5%; phân u rê giảm 8,5%; điện thoại di động giảm 9,8%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 10,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 39,9%; Quảng Nam tăng 37,9%; Cần Thơ tăng 19,8%; Hải Phòng tăng 13,7%; Bắc Ninh tăng 13,5%; Đà Nẵng tăng 10,6%; Hải Dương tăng 8,5%; Đồng Nai tăng 8,2%; Bình Dương tăng 7,7%; Hà Nội tăng 7,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,4%; Vĩnh Phúc tăng 5,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 4,4%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2016 giảm 1,2% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2015. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 4 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Dệt tăng 21,4%; sản xuất kim loại tăng 18,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 12,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học tăng 12,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 11,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 11,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,8%; sản xuất thuốc lá giảm 2,2%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất giảm 2,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 3,2%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/5/2016 tăng 8,7% so với cùng thời điểm năm 2015 (thấp hơn mức tăng 11,5% của cùng thời điểm năm trước), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,5%; sản xuất đồ uống tăng 1%; sản xuất da, các sản phẩm có liên quan và sản xuất giường, tủ, bàn ghế cùng giảm 0,9%; sản xuất kim loại giảm 5,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 16,6%; sản xuất thiết bị điện giảm 22,5%; sản xuất thuốc lá giảm 42,4%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 48,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học tăng 104,9%[6]; sản xuất xe có động cơ tăng 65,5%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 36,1%; sản xuất trang phục tăng 29,5%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21,5%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 19,9%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 4 tháng đầu năm 2016 là 72,9%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 134,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 118,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 114,9%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2016 tăng 6,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,7%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 6,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,2%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 35,3%; Vĩnh Phúc tăng 13,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 9,1%; Đồng Nai tăng 8,2%; Bình Dương tăng 6%; Hải Phòng tăng 4,5%; Quảng Nam tăng 4,4%; Hải Dương tăng 4,3%; Đà Nẵng tăng 3,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1%; Hà Nội tăng 0,8%; Cần Thơ tăng 0,1%; Quảng Ngãi giảm 6,8%.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp[7]

 Trong tháng Năm, cả nước có 10019 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 101,2 nghìn tỷ đồng, giảm 8,5% về số doanh nghiệp và tăng 62,6% về số vốn đăng ký so với tháng trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 77,8%. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 28,1%; số vốn đăng ký tăng 78,1%. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Năm là 104,7 nghìn người, giảm 0,3% so với tháng Tư.

Trong tháng, cả nước có 1668 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 14,7% so với tháng trước; có 4204 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động (bao gồm 1519 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 2685 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký), giảm 28,1%; có 884 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, tăng 5,2%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, cả nước có 44740 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 349,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1% về số doanh nghiệp và tăng 59,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015[8]; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,8 tỷ đồng, tăng 28,4%. Nếu tính cả 655,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng vốn bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 5 tháng đầu năm là 1005,4 nghìn tỷ đồng. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới 5 tháng đầu năm 2016 là 531,9 nghìn người, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm là 12999 doanh nghiệp, tăng 75,6% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 5 tháng đầu năm nay là 4643 doanh nghiệp, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tới 93,5%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 1876 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (chiếm 40,4%); 1390 công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (chiếm 29,9%); 770 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,6%); 606 công ty cổ phần (chiếm 13,1%) và 01 công ty hợp danh.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong
5 tháng đầu năm nay là 28582 doanh nghiệp, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 10794 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 17788 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn, có 4026 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (chiếm 37,3%); 3778 công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (chiếm 35,0%); 1861 công ty cổ phần (chiếm 17,2%) và 1129 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,5%). Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số thuế hoặc không đăng ký, có 7175 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (chiếm 40,3%); 5592 công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (chiếm 31,5%); 3068 công ty cổ phần (chiếm 17,2%) và 1953 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 11%).

4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Năm ước tính đạt 21070 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 4610 tỷ đồng; vốn địa phương 16460 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 83,3 nghìn tỷ đồng, bằng 33,8% kế hoạch năm và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2015, gồm có:

– Vốn trung ương quản lý đạt 18,2 nghìn tỷ đồng, bằng 32,5% kế hoạch năm và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 6557 tỷ đồng, bằng 37% và tăng 26,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1745 tỷ đồng, bằng 27,3% và tăng 7,2%; Bộ Y tế 1070 tỷ đồng, bằng 35,7% và tăng 39,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 890 tỷ đồng, bằng 29,4% và tăng 56,4%; Bộ Xây dựng 325 tỷ đồng, bằng 36,1% và giảm 38,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 258 tỷ đồng, bằng 30,6% và tăng 12,7%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 182 tỷ đồng, bằng 31,4% và giảm 0,5%; Bộ Công Thương 146 tỷ đồng, bằng 34,9% và tăng 14,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 96 tỷ đồng, bằng 38,3% và giảm 11,7%; Bộ Thông tin và Truyền thông 38 tỷ đồng, bằng 37,8% và giảm 42,8%.

– Vốn địa phương quản lý đạt 65,1 nghìn tỷ đồng, bằng 34,3% kế hoạch năm và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 46542 tỷ đồng, bằng 33,4% và tăng 13,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 15321 tỷ đồng, bằng 35,5% và tăng 5,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 3246 tỷ đồng, bằng 41,8% và giảm 3,9%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 10774 tỷ đồng, bằng 35,3% kế hoạch năm và tăng 37,5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 5836 tỷ đồng, bằng 32,9% và tăng 1,3%; Nghệ An 2112 tỷ đồng, bằng 36,6% và tăng 11,3%; Bà Rịa – Vũng Tàu 1877 tỷ đồng, bằng 30,6% và tăng 2,8%; Bình Dương 1862 tỷ đồng, bằng 28,9% và tăng 46%; Thanh Hóa 1680 tỷ đồng, bằng 40,7% và tăng 12,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/5/2016 thu hút 907 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7566,9 triệu USD, tăng 53,2% về số dự án và tăng 155,9% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Đồng thời có 425 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 2592,1 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 10159 triệu USD, tăng 136,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng đầu năm ước tính đạt 5,8 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong 5 tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 6617,6 triệu USD, chiếm 65,1% tổng vốn đăng ký; ngành thông tin và truyền thông đạt 1300,4 triệu USD, chiếm 12,8%; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 542,8 triệu USD, chiếm 5,4%; các ngành còn lại đạt 1698,2 triệu USD, chiếm 16,7%.

Cả nước có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 5 tháng đầu năm, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 1861,6 triệu USD, chiếm 24,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hải Phòng 1610,8 triệu USD, chiếm 21,3%; Bình Dương 570,2 triệu USD, chiếm 7,5%; thành phố Hồ Chí Minh 488,6 triệu USD, chiếm 6,5%; Bắc Ninh 330,1 triệu USD, chiếm 4,4%; Đồng Nai 289,7 triệu USD, chiếm 3,8%; Tiền Giang 259,7 triệu USD, chiếm 3,4%.

Trong số 54 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại
Việt Nam 5 tháng đầu năm, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 2888,4 triệu USD, chiếm 38,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Lúc-xăm-bua 1248 triệu USD, chiếm 16,5%; Xin-ga-po 686,9 triệu USD, chiếm 9,1%; Đài Loan 465,2 triệu USD, chiếm 6,1%; Nhật Bản 338,3 triệu USD, chiếm 4,5%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 306 triệu USD, chiếm 4%; Ma-lai-xi-a 249,7 triệu USD, chiếm 3,3%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2016 ước tính đạt 346,2 nghìn tỷ đồng, bằng 34,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 284,2 nghìn tỷ đồng, bằng 36,2%; thu từ dầu thô 13,9 nghìn tỷ đồng, bằng 25,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 47,8 nghìn tỷ đồng, bằng 27,8%. Trong thu nội địa, một số khoản thu đạt khá: Thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 61,9 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 60,1 nghìn tỷ đồng, bằng 37,8%; thuế thu nhập cá nhân 28,1 nghìn tỷ đồng, bằng 44,1%; thu tiền sử dụng đất 27,5 nghìn tỷ đồng, bằng 55%; thuế bảo vệ môi trường 14,5 nghìn tỷ đồng, bằng 37,8%. Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 65,8 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 25,7% dự toán năm.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2016 ước tính đạt 412,6 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 64,3 nghìn tỷ đồng, bằng 25,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 63,6 nghìn tỷ đồng, bằng 25,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 293,4 nghìn tỷ đồng, bằng 35,1%; chi trả nợ và viện trợ 55 nghìn tỷ đồng, bằng 35,4%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm ước tính đạt 286,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 218,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% và tăng 10,3%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 31,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,5 % và tăng 0,2%[9]; doanh thu hoạt động du lịch lữ hành đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,9% và tăng 1,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 33,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1% và tăng 9,4%.

Tính chung 5 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1427,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước[10], nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 7,8%. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm đạt 1091,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,5% tổng mức và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành hàng có mức tăng khá: Lương thực, thực phẩm tăng 13,6%; hàng may mặc tăng 10,9%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,6%; phương tiện đi lại tăng 8,3%; riêng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 1,3%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 5 tháng đầu năm ước tính đạt 158,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,1% tổng mức và tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Quảng Ninh tăng 10,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,8%; Hà Nội tăng 6,8%.

Doanh thu du lịch lữ hành 5 tháng đầu năm ước tính đạt 11,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Đồng Nai tăng 9,3%; Thừa Thiên Huế tăng 7,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7%; Thanh Hoá tăng 6,9%; Hà Nội tăng 2,7%. Doanh thu dịch vụ khác 5 tháng đầu năm đạt 165 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 8,8%.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 4/2016 đạt 14350 triệu USD, cao hơn 250 triệu USD so với số ước tính, trong đó giày dép cao hơn 120 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 48 triệu USD; cà phê cao hơn 44 triệu USD; thủy sản và sắt thép cùng cao hơn 40 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 132 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Năm ước tính đạt 14,6 tỷ USD, tăng 1,74% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 1,70%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,3 tỷ USD, tăng 1,76%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Năm tăng 7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 5,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 7,4%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Rau quả tăng 75,5%; cà phê tăng 34,1%; điện thoại và linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đều tăng 14,3%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 67,7 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 19,4 tỷ USD, tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 48,3 tỷ USD, tăng 7,7%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 14,4 tỷ USD, tăng 20,6%; hàng dệt may đạt 8,6 tỷ USD, tăng 6,1%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,3 tỷ USD, tăng 5,4%; giày dép đạt gần 5 tỷ USD, tăng 6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 3,6 tỷ USD, tăng 16,2%; thủy sản đạt 2,5 tỷ USD, tăng 5,6%; cà phê đạt 1,4 tỷ USD, tăng 15,8%; túi xách, vali, mũ, ô dù đạt 1,3 tỷ USD, tăng 12,1%; gạo đạt 1,1 tỷ USD, tăng 8,4%; rau quả đạt 1 tỷ USD, tăng 53,7%. Tuy nhiên, có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm: Dầu thô đạt 883 triệu USD, giảm 49,2% (lượng giảm 20,6%); sắt thép đạt 649 triệu USD, giảm 10,2% (lượng tăng 21,9%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 538 triệu USD, giảm 22,7% (lượng giảm 10,1%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 5 tháng đầu năm, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 14,6 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2015. Tiếp đến là EU với 13,3 tỷ USD, tăng 11%; Trung Quốc đạt 7,6 tỷ USD, tăng 18,9%; Hàn Quốc đạt 4,3 tỷ USD, tăng 39,5%. Riêng xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 6,8 tỷ USD, giảm 13,5%; Nhật Bản đạt 5,4 tỷ USD, giảm 2,2%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 4/2016 đạt 14073 triệu USD, cao hơn 73 triệu USD so với số ước tính, trong đó phương tiện vận tải khác và phụ tùng cao hơn 142 triệu USD; xăng dầu cao hơn 127 triệu USD; vải cao hơn 95 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 47 triệu USD;
điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 178 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu thấp hơn 38 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Năm ước tính đạt 15,0 tỷ USD, tăng 6,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,4 tỷ USD, tăng 7,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,6 tỷ USD, tăng 6,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Năm tăng 0,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 5,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,1%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 66,3 tỷ USD, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 27,2 tỷ USD, tăng 0,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,1 tỷ USD, giảm 1,9%. Một số mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 10,6 tỷ USD, tăng 12,4%; vải đạt 4,2 tỷ USD, tăng 4,1%; chất dẻo đạt 2,4 tỷ USD, tăng 3%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 2,1 tỷ USD, tăng 3,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,7 tỷ USD, tăng 18,4%; sản phẩm hóa chất đạt 1,4 tỷ USD, tăng 8,4%; tân dược đạt 1 tỷ USD, tăng 25,2%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 10,4 tỷ USD, giảm 8,6%; điện thoại và linh kiện đạt 4,2 tỷ USD, giảm 4,8%; ôtô đạt 2,3 tỷ USD, giảm 1,4%, trong đó ôtô nguyên chiếc đạt 927 triệu USD, giảm 23%; xăng dầu đạt 1,9 tỷ USD, giảm 21,2% (lượng tăng 27,6%); thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,2 tỷ USD, giảm 17,2%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 5 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 19,2 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng kỳ[11]; ASEAN đạt 9,4 tỷ USD, giảm 4,2%; Nhật Bản đạt 5,7 tỷ USD, giảm 6,4%; EU đạt 3,8 tỷ USD, giảm 3,7%; Hoa Kỳ đạt 3,2 tỷ USD, tăng 4,4%; Hàn Quốc đạt 12,1 tỷ USD, tăng 6,4%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tư xuất siêu 277 triệu USD[12]; tháng Năm ước tính nhập siêu 400 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm xuất siêu 1,36 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 7,74 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 9,10 tỷ USD.

c. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2016 tăng 0,54% so với tháng trước, trong đó các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung: Giao thông tăng 2,39% chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước điều chỉnh tăng vào thời điểm 20/4/2016 và thời điểm 05/5/2016 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 5,15%, tác động làm cho CPI chung tăng khoảng 0,21%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,88% do giá gas, giá dầu hỏa được điều chỉnh tăng trong tháng và giá các mặt hàng vật liệu xây dựng tăng (giá sắt thép tăng 1%-5%, xi măng tăng 1%-3%). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,36% (Lương thực tăng 0,68%[13]; thực phẩm tăng 0,38%[14]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,16%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,34%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; bưu chính viễn thông tăng 0,03%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2016 tăng 1,88% so với tháng 12/2015 và tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm nay tăng 1,59% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Lạm phát cơ bản tháng 5/2016 tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm 2016 tăng 1,78% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá vàng tháng 5/2016 tăng 1,45% so với tháng trước; tăng 9,69% so với tháng 12/2015 và tăng 3,97% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2016 giảm 0,1% so với tháng trước; giảm 0,89% so với tháng 12/2015; tăng 3,07% so với cùng kỳ năm 2015.

d. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 5 tháng đầu năm ước tính đạt 1502,2 triệu lượt khách, tăng 9,1% và 69,8 tỷ lượt khách.km, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, vận tải hành khách đường bộ ước tính đạt 1410,2 triệu lượt khách, tăng 9,2% và 47,1 tỷ lượt khách.km, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 17 triệu lượt khách, tăng 30,9% và 19,9 tỷ lượt khách.km, tăng 13,3%; đường sắt đạt 4,2 triệu lượt khách, giảm 10,4% và
1,5 tỷ lượt khách.km, giảm 15,8%; đường biển đạt 2,5 triệu lượt khách, tăng 3,2% và 126,9 triệu lượt khách.km, tăng 2,2%.

Vận tải hàng hóa 5 tháng đầu năm ước tính đạt 512,4 triệu tấn, tăng 7,6% và 98,7 tỷ tấn.km, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 498,8 triệu tấn, tăng 7,8% và 44,6 tỷ tấn.km, tăng 5,2%; vận tải ngoài nước đạt 13,6 triệu tấn, tăng 1,5% và 54,1 tỷ tấn.km, tăng 1,3%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 397,3 triệu tấn, tăng 8,9% và 23,9 tỷ tấn.km, tăng 11,2%; đường sông đạt 88,4 triệu tấn, tăng 5% và 18,3 tỷ tấn.km, tăng 4,7%; đường biển đạt 24,5 triệu tấn, tăng 1,3% và 55 tỷ tấn.km, tăng 0,2%; đường sắt đạt 2,1 triệu tấn, giảm 23,3% và 1,2 tỷ tấn.km, giảm 27,7%.

e. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Năm ước tính đạt 757,2 nghìn lượt người, giảm 4,1% so với tháng trước và tăng 30,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4005,9 nghìn lượt người, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3292 nghìn lượt người, tăng 22,2%; đến bằng đường bộ đạt 647,9 nghìn lượt người, tăng 16,6%; đến bằng đường biển đạt 66 nghìn lượt người, giảm 25,9%.

Trong 5 tháng đầu năm, khách đến nước ta từ châu Á đạt 2810,9 nghìn lượt người, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính tăng khá: Trung Quốc đạt 1011,3 nghìn lượt người, tăng 44,4%; Hàn Quốc 631,3 nghìn lượt người, tăng 31,4%; Nhật Bản 301,7 nghìn lượt người, tăng 11,7%; Đài Loan 202 nghìn lượt người, tăng 15,2%; Ma-lai-xi-a 163,5 nghìn lượt người, tăng 18,4%; Thái Lan 119,7 nghìn lượt người, tăng 37,7%; Xin-ga-po 99,7 nghìn lượt người, tăng 15,2%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 697,2 nghìn lượt người, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga đạt 180,2 nghìn lượt người, tăng 23,3%; Pháp 112,3 nghìn lượt người, tăng 13%; Vương quốc Anh 112,1 nghìn lượt người, tăng 24,4%; Đức 80,2 nghìn lượt người, tăng 17,6%; Hà Lan đạt 23,9 nghìn lượt người, tăng 21,8%; I-ta-li-a 21,9 nghìn lượt người, tăng 30,1%; Thụy Điển 21,4 nghìn lượt người, tăng 26,5%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 328,8 nghìn lượt người, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 245,6 nghìn lượt người, tăng 14%. Khách đến từ châu Úc đạt 158 nghìn lượt người, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 143,9 nghìn lượt người, tăng 6,1%.

7. Một số tình hình xã hội

a. Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Năm, cả nước có 58,4 nghìn hộ thiếu đói, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng với 242,2 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tăng 19%. Tính chung 5 tháng đầu năm, cả nước có 176 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 723,1 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 6,3%. Thiếu đói xảy ra tập trung ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 12,2 nghìn tấn lương thực và 590 triệu đồng, riêng tháng Năm hỗ trợ khoảng 3,7 nghìn tấn lương thực.

b. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Năm, cả nước có 3,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 4,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (01 trường hợp tử vong); 38 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 65 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút. Tính chung 5 tháng đầu năm, cả nước có hơn 11,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 32,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (09 trường hợp tử vong); 100 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 143 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 19 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (01 trường hợp tử vong) và 02 trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika tại Khánh Hòa và thành phố Hồ Chí Minh.

Trong tháng đã phát hiện 93 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/5/2016 là 227,9 nghìn người, trong đó 85,4 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 87,1 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 09 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 469 người bị ngộ độc. Tính từ 17/12/2015 đến 17/5/2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 35 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 1855 người bị ngộ độc, trong đó 02 trường hợp tử vong.

c. Tai nạn giao thông

Từ thời điểm 16/4 đến 15/5/2016, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1748 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 869 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 879 vụ va chạm giao thông, làm 726 người chết; 437 người bị thương và 1054 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 0,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 8,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 6,1%); số người chết tăng 2,5%; số người bị thương tăng 15,6% và số người bị thương nhẹ giảm 4,7%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8374 vụ
tai nạn giao thông, bao gồm 4163 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4211 vụ va chạm giao thông, làm 3588 người chết; 2403 người bị thương và 4936 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 5 tháng đầu năm giảm 10,1% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3%; số vụ va chạm giao thông giảm 16,2%); số người chết giảm 3,9%; số người bị thương giảm 4,5% và số người bị thương nhẹ giảm 18,3%. Bình quân 01 ngày trong 5 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 28 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết; 16 người bị thương và 33 người bị thương nhẹ.

d. Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai[15] xảy ra trong tháng 5/2016 làm 7 người chết và 42 người bị thương; hơn 400 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 20,1 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái; 1,2 nghìn ha lúa và 2,2 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính gần 132 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, thiên tai xảy ra làm 14 người chết và 71 người bị thương; hơn 650 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 32,5 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái; 15,9 nghìn ha lúa, 12 nghìn ha hoa màu và
1,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 17 nghìn con gia súc, 11,5 nghìn gia cầm và gần 730 tấn thủy sản các loại bị chết. Tổng giá trị thiệt hại trong 5 tháng đầu năm 2016 ước tính gần 1,3 nghìn tỷ đồng.

Trong những ngày vừa qua, một số khu vực trên cả nước đã có mưa với lượng mưa phổ biến từ 60mm đến 200mm nên tình hình hạn hán, xâm nhập mặn bắt đầu có dấu hiệu giảm nhiệt. Tuy nhiên, thiệt hại tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long rất nặng nề.
Tính đến ngày 20/5/2016, có 288,3 nghìn hộ thiếu nước sinh hoạt; 249,9 nghìn ha lúa, 19 nghìn ha hoa màu, 30,5 nghìn ha cây ăn quả, 149,7 nghìn ha cây công nghiệp và 6,9 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 15,2 nghìn tỷ đồng.

e. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Năm, cơ quan chức năng đã phát hiện 1074 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 393 vụ với tổng số tiền phạt là hơn 15,5 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2016 đã phát hiện 5448 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 2012 vụ với tổng số tiền phạt hơn 379,2 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 328 vụ cháy, nổ, làm 13 người chết và 41 người bị thương, thiệt hại ước tính 88 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 1552 vụ cháy, nổ, làm 34 người chết và 153 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 723 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác cao: Quảng Ngãi đạt 314 nghìn m3, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Nam 305 nghìn m3, tăng 8,2%; Tuyên Quang 267 nghìn m3, tăng 24%; Bình Định 261 nghìn m3, tăng 13,8%.

[2] Khánh Hòa và Ninh Thuận.

[3] Giá cá tra thu mua trong tháng Tư năm nay đạt 22.500 đồng/kg nhưng sang tháng Năm đã giảm khoảng 500-1000 đồng so với tháng Tư.

[4] Mức tăng tháng 5 của sản lượng thủy sản khai thác biển của một số năm: Năm 2011 tăng 3%; năm 2012 tăng 4,4%; năm 2013 tăng 2,2%; năm 2014 tăng 4,5%; năm 2015 tăng 3,4%.

[5] Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2015 tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 7,4%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,4%.

[6] Chủ yếu do sản phẩm điện thoại di động chờ xuất khẩu theo hợp đồng.

[7] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[8] Số doanh nghiệp thành lập mới 5 tháng đầu năm 2015 tăng 15,5%; số vốn đăng ký tăng 26,3% so với cùng kỳ năm 2014.

[9]  Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trong tháng Năm tăng thấp so với cùng kỳ do hiện tượng cá chết hàng loạt xảy ra tại một số địa phương thuộc vùng biển Bắc Trung Bộ làm cho nhu cầu du lịch biển trong nước tại khu vực miền trung giảm đáng kể. Ước tính doanh thu của Quảng Bình giảm 20,1%; Hà Tĩnh giảm 18,2%; Nghệ An giảm 11,2%; Thanh Hóa giảm 6% so với cùng kỳ năm trước.

[10] Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm của các năm trước:  Năm 2014 đạt 1190,3 nghìn tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước; năm 2015 đạt 1308,6 nghìn tỷ  đồng, tăng 9,9%.

[11] Nhập siêu từ Trung Quốc 5 tháng đầu năm là 11,6 tỷ USD, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2015.

[12] Tháng Tư ước tính xuất siêu 100 triệu USD.

[13] Mặc dù đến giữa tháng 5 giá lúa gạo đã giảm trước thông tin Thái Lan tuyên bố xả kho gạo 11,4 triệu tấn trong tháng 5-6/2016 nhưng chỉ số giá lương thực vẫn tăng 0,68% do nhu cầu gạo cho các hợp đồng xuất khẩu đã ký và ảnh hưởng của tình trạng khô hạn ở miền Trung, Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

[14] Chủ yếu tăng ở nhóm hàng các loại thịt, nguyên nhân là: (i) Sau khi xảy ra hiện tượng cá chết tại các tỉnh miền Trung, người dân đã hạn chế sử dụng thủy hải sản; (ii) Lợn hơi được thu gom để xuất khẩu sang Trung Quốc.

[15] Chưa kể thiệt hại do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.