1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân ở các địa phương phía Bắc; thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và gieo trồng lúa hè thu ở các địa phương phía Nam. Tính đến ngày 15/4, cả nước đã gieo cấy được 3072,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,3% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1147,6 nghìn ha, bằng 99,6%[1]; các địa phương phía Nam gieo cấy 1924,5 nghìn ha, bằng 99,1%.

Đến trung tuần tháng Tư, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1585,8 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm hơn 80% diện tích xuống giống và bằng 95,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1426,3 nghìn ha, chiếm 92% diện tích gieo cấy và bằng 93,2%. Dự kiến đến hết tháng Tư, vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch xong lúa đông xuân. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay đạt 67,2 tạ/ha, giảm 4 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 10,4 triệu tấn, giảm 700 nghìn tấn. Vụ lúa đông xuân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay bị ảnh hưởng lớn của tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn. Theo ước tính sơ bộ, diện tích lúa bị thiệt hại trên 70% sản lượng của cả vùng là 142,6 nghìn ha, chiếm 9,2% diện tích gieo cấy; bị thiệt hại từ 50%-70% sản lượng là 65,8 nghìn ha, chiếm 4,2%; bị thiệt hại từ 30%-50% sản lượng là 952 ha, chiếm 0,1%. Một số địa phương có sản lượng lúa đông xuân giảm nhiều so với năm trước: Kiên Giang giảm 312 nghìn tấn; Trà Vinh giảm 169 nghìn tấn; Long An giảm 105 nghìn tấn; Bến Tre giảm 86 nghìn tấn; Hậu Giang giảm 67 nghìn tấn.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, trên những diện tích lúa đông xuân đã thu hoạch bà con tranh thủ gieo sạ được 628,4 nghìn ha lúa hè thu sớm, bằng 97% cùng kỳ năm trước. Thời tiết diễn biến phức tạp, khả năng hạn hán và nhiễm mặn còn tiếp diễn, ngành nông nghiệp đã khuyến cáo các địa phương chỉ nên chọn 1-3 lúa giống chủ lực để kịp gieo trồng và thu hoạch lúa hè thu trong tháng Chín. Đối với diện tích lúa xuân hè thu hoạch muộn nên chuyển sang trồng màu hoặc nuôi thủy sản luân canh trên ruộng lúa.

Gieo trồng hoa màu nhìn chung đạt thấp. Tính đến giữa tháng Tư, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 439,8 nghìn ha ngô, bằng 93,9% cùng kỳ năm trước; 75,3 nghìn ha khoai lang, bằng 96,7%; 139,4 nghìn ha lạc, bằng 102,1%; 36,8 nghìn ha đậu tương, bằng 60,7%; 538,7 nghìn ha rau đậu, bằng 102,3%.

Chăn nuôi trâu, bò ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ gặp khó khăn do ảnh hưởng của hạn hán, lượng nước và nguồn thức ăn khan hiếm. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1,5%-2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 0,5%-1%; đàn lợn tăng 2%-2,5%; đàn gia cầm tăng 3%-3,5%.

Tính đến thời điểm 20/4/2016, cả nước không còn dịch lợn tai xanh, các dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở một số địa phương: Dịch cúm gia cầm ở Nghệ An; dịch lở mồm long móng ở Lai Châu, Quảng Bình, Lào Cai.

b. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung tháng Tư ước tính đạt 21,8 nghìn ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 17,5 triệu cây, xấp xỉ cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt 493 nghìn m3, tăng 3,6%; sản lượng củi khai thác đạt 2,9 triệu ste, tăng 0,7%. Tính chung 4 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 34,3 nghìn ha, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm 2015; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 77,3 triệu cây, tăng 0,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2106 nghìn m3, tăng 6,5%; sản lượng củi khai thác đạt 10,6 triệu ste, tăng 1,1%.

Do thời tiết khô hạn kéo dài nên mặc dù công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong tháng Tư, cả nước có 618 ha rừng bị thiệt hại, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 424 ha; diện tích rừng bị phá là 194 ha. Tính chung 4 tháng đầu năm 2016, diện tích rừng bị thiệt hại là 1441 ha, tăng 83,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1150 ha, gấp 2,2 lần cùng kỳ; diện tích rừng bị chặt phá là 291 ha, tăng 16%. Theo thông tin cảnh báo cháy rừng từ cơ quan chức năng, cả nước hiện có 17 tỉnh có khu vực nguy cơ cháy rừng cấp V – cấp cực kỳ nguy hiểm[2]. Do đó, các địa phương cần chủ động trong công tác phòng chống cháy rừng, trong đó tập trung thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng.

c. Thủy sản

Sản lượng thuỷ sản tháng Tư ước tính đạt 569 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 400,2 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 53,1 nghìn tấn, giảm 1,3%. Nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ và tác động của hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Tư ước tính đạt 236,2 nghìn tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 162,3 nghìn tấn, giảm 1%; tôm đạt 43,4 nghìn tấn, giảm 2,3%.

Nuôi cá tra tuy đã cải thiện hơn về giá[3], nhưng do giá cá tra liên tục ở mức thấp trong một thời gian dài, môi trường nước lại thay đổi nên diện tích nuôi cá tra vẫn đang có xu hướng thu hẹp. Diện tích nuôi thả cá tra công nghiệp trong tháng ước tính đạt 2890 ha, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Cần Thơ đạt 466 ha, giảm 14%; An Giang 420 ha, giảm 16%; Vĩnh Long 291 ha, giảm 35%; Đồng Tháp 1110 ha, xấp xỉ cùng kỳ năm trước. Sản lượng cá tra thu hoạch trong tháng ước tính đạt 68,8 nghìn tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có sản lượng sụt giảm mạnh: An Giang đạt 28 nghìn tấn, giảm 17%; Cần Thơ 11,3 nghìn tấn, giảm 7,5%; Tiền Giang 11 nghìn tấn, giảm 34,6%.

Nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn, tôm nuôi chậm lớn, dễ mắc bệnh. Diện tích thả nuôi tôm nước lợ trong tháng ước tính đạt 550 nghìn ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích tôm thẻ chân trắng giảm 14,8%; diện tích tôm sú tăng 3,3%. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Tư ước tính đạt 13,8 nghìn tấn, giảm 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng tôm thẻ chân trắng của Cà Mau đạt 4,2 nghìn tấn, giảm 16%; Trà Vinh đạt 1 nghìn tấn, giảm 33%; Kiên Giang đạt 445 tấn, giảm 19%. Sản lượng tôm sú thu hoạch trong tháng đạt 14,6 nghìn tấn, tăng 8,5%, trong đó một số tỉnh có sản lượng tăng cao: Cà Mau đạt 7,5 nghìn tấn, tăng 25%; Bạc Liêu 4 nghìn tấn, tăng 49%; Kiên Giang 2,3 nghìn tấn, gấp 2,5 lần cùng kỳ năm 2015.

Thời tiết trong tháng tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản trong khi giá xăng dầu giảm đã khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển. Sản lượng thủy sản khai thác tháng Tư ước tính đạt 332,8 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước (Sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 322,8 nghìn tấn, tăng 3,3%, trong đó sản lượng cá ngừ đại dương đạt 2295 tấn, tăng 17,2%).

Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 1804,7 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 785,8 nghìn tấn, tăng 1,1%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1054,9 nghìn tấn, tăng 3,5% (Sản lượng khai thác biển đạt 1006,6 nghìn tấn, tăng 3,7%, trong đó sản lượng cá ngừ đại dương đạt 8385 tấn, giảm 5,6%).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư ước tính tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 8,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2015[4]. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,6%, đóng góp 6,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,1%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 1,7%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 21,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 17,4%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 16,5%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 14,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,9%; dệt tăng 13,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 6,7%; khai thác than tăng 2,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,2%; sản xuất thuốc lá tăng 1,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 3%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 4 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 46,6%; thép thanh, thép góc tăng 27,6%; ô tô tăng 23,9%; thép cán tăng 21,9%; sắt, thép thô tăng 18,4%; thức ăn cho gia súc tăng 17,8%; xi măng tăng 15,8%; bột ngọt tăng 12,8%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 12,7%; điện sản xuất tăng 12,1%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Than đá tăng 2,9%; giày, dép da tăng 2,4%; thuốc lá điếu tăng 1,6%; xe máy giảm 0,1%; đường kính giảm 1,2%; dầu thô khai thác giảm 5,2%; phân u rê giảm 5,3%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 6,5%; điện thoại di động giảm 10%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 42,7%; Quảng Nam tăng 32,8%; Cần Thơ tăng 24%; Hải Phòng tăng 14,6%; Bắc Ninh tăng 14,5%; Đà Nẵng tăng 10,5%; Hải Dương tăng 9,1%; Hà Nội tăng 8,8%; Đồng Nai tăng 8,3%; Bình Dương tăng 7,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,2%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 5%; Vĩnh Phúc tăng 4,6%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2016 tăng 36,5% so với tháng trước[5] và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2015. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 3 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Dệt tăng 27,6%; sản xuất kim loại tăng 26,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 12,7%; sản xuất đồ uống tăng 12,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 11,3%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 6,9%; sản xuất trang phục tăng 6,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 4,4%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất giảm 0,2%; sản xuất thuốc lá giảm 3,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 5,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/4/2016 tăng 8,9% so với cùng thời điểm năm 2015 (thấp hơn mức tăng 11,3% của cùng kỳ năm trước), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,8%; sản xuất đồ uống tăng 2,3%; sản xuất thiết bị điện giảm 0,7%; sản xuất kim loại giảm 1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 1,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) giảm 16,3%; sản xuất thuốc lá giảm 38,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 46,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất xe có động cơ tăng 61,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 60,2%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 27,9%; sản xuất trang phục tăng 26,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 18,8%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 3 tháng đầu năm 2016 là 74,4%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 134,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 115%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 113,1%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2016 tăng 6% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,5%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 6,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,6%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 38%; Đồng Nai tăng 9,1%; Vĩnh Phúc tăng 6,6%; Bình Dương tăng 6,1%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 6%; Quảng Nam tăng 4,7%; Đà Nẵng tăng 4,3%; Hải Phòng tăng 2,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,7%; Bắc Ninh tăng 1,6%; Cần Thơ tăng 1,4%; Hà Nội tăng 1%; Hải Dương tăng 0,9%; Quảng Ngãi giảm 4,6%.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp[6]

Trong tháng Tư, cả nước có 10954 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 62,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% về số doanh nghiệp và giảm 14,7% về số vốn đăng ký so với tháng trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 5,7 tỷ đồng, giảm 23,2%. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 19,2%; số vốn đăng ký tăng 21,3%. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Tư là 105 nghìn người, giảm 15,1% so với tháng Ba.

Trong tháng, cả nước có 1955 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 0,2% so với tháng trước; có 5844 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động (bao gồm 1584 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 4260 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký), tăng 50,6%; có 840 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, tăng  16%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 34721 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 248,2 nghìn tỷ đồng, tăng 22,9% về số doanh nghiệp và tăng 52,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015[7]; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,1 tỷ đồng, tăng 24,2%. Nếu tính cả 553,3 tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng vốn bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm là 801,5 nghìn tỷ đồng. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới 4 tháng đầu năm 2016 là 427,2 nghìn người, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2015.

Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong 4 tháng đầu năm là 11331 doanh nghiệp, tăng 79,4% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 4 tháng đầu năm nay là 3759 doanh nghiệp, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tới 93,5%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 1524 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,5%); 1124 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,9%); 611 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 16,3%) và 500 công ty cổ phần (chiếm 13,3%).

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong 4 tháng đầu năm nay là 25135 doanh nghiệp, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 9450 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 15685 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn, có 3484 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 36,9%); 3316 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 35,1%); 1638 công ty cổ phần (chiếm 17,3%) và 1012 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,7%). Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số thuế hoặc không đăng ký, có 6342 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,4%); 4998 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 31,9%); 2620 công ty cổ phần (chiếm 16,7%) và 1724 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 11%) và 01 công ty hợp danh.

4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tư ước tính đạt 19429,4 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 4125 tỷ đồng; vốn địa phương 15304,4 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 62,3 nghìn tỷ đồng, bằng 25,3% kế hoạch năm và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2015, gồm có:

– Vốn trung ương quản lý đạt 13,4 nghìn tỷ đồng, bằng 23,9% kế hoạch năm và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 4692 tỷ đồng, bằng 26,5% và tăng 21,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1306 tỷ đồng, bằng 20,4% và tăng 4,9%; Bộ Y tế 782,5 tỷ đồng, bằng 26,1% và tăng 39,7%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 630,5 tỷ đồng, bằng 20,8% và tăng 56,3%; Bộ Xây dựng 235 tỷ đồng, bằng 26,1% và giảm 36,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 191 tỷ đồng, bằng 22,6% và tăng 9,8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 130 tỷ đồng, bằng 22,5% và giảm 5,5%; Bộ Công Thương 110 tỷ đồng, bằng 26,3% và tăng 17,5%; Bộ Khoa học và Công nghệ 70,2 tỷ đồng, bằng 27,9% và giảm 12,2%; Bộ Thông tin và Truyền thông 28,9 tỷ đồng, bằng 28,6% và giảm 41,7%.

– Vốn địa phương quản lý đạt 48,9 nghìn tỷ đồng, bằng 25,7% kế hoạch năm và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 35168,8 tỷ đồng, bằng 25,3% và tăng 14,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 11282,5 tỷ đồng, bằng 26,2% và tăng 3,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 2442 tỷ đồng, bằng 31,4% và giảm 4,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 7967,7 tỷ đồng, bằng 26,1% kế hoạch năm và tăng 36% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 4088,2 tỷ đồng, bằng 23,1% và tăng 6,2%; Nghệ An 1675,5 tỷ đồng, bằng 29% và tăng 11%; Bà Rịa – Vũng Tàu 1535,8 tỷ đồng, bằng 25,1% và giảm 0,7%; Bình Dương 1498,7 tỷ đồng, bằng 23,3% và tăng 63,9%; Thanh Hóa 1332 tỷ đồng, bằng 32,3% và tăng 16,7%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/4/2016 thu hút 697 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 5082,9 triệu USD, tăng 55,6% về số dự án và tăng 89,9% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Đồng thời có 314 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 1804 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 6886,9 triệu USD, tăng 85% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đầu năm ước tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong 4 tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 5246,6 triệu USD, chiếm 76,2% tổng vốn đăng ký; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 334,6 triệu USD, chiếm 4,9%; ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy đạt 242,5 triệu USD, chiếm 3,5%; các ngành còn lại đạt 1063,2 triệu USD, chiếm 15,4%.

Cả nước có 41 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 4 tháng tháng đầu năm, trong đó Hải Phòng có số vốn đăng ký lớn nhất với 1591,8 triệu USD, chiếm 31,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hà Nội 595,5 triệu USD, chiếm 11,7%; Bình Dương 329 triệu USD, chiếm 6,5%; Bắc Ninh 309,3 triệu USD, chiếm 6,1%; Đồng Nai 268,9 triệu USD, chiếm 5,3%; Tiền Giang 236,5 triệu USD, chiếm 4,7%; thành phố Hồ Chí Minh 222,6 triệu USD, chiếm 4,4%.

Trong số 45 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam 4 tháng đầu năm, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 2480,4 triệu USD, chiếm 48,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 502,1 triệu USD, chiếm 9,9%; Đài Loan 430,1 triệu USD, chiếm 8,5%; Nhật Bản 307 triệu USD, chiếm 6%; Ma-lai-xi-a 248,1 triệu USD, chiếm 4,9%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 195,6 triệu USD, chiếm 3,8%; Trung Quốc 177,5 triệu USD, chiếm 3,5%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2016 ước tính đạt 254,4 nghìn tỷ đồng, bằng 25,1% dự toán năm, trong đó cả 3 lĩnh vực thu chủ yếu đạt thấp so với dự toán năm: Thu nội địa ước tính đạt 209,3 nghìn tỷ đồng, bằng 26,7%; thu từ dầu thô 10,9 nghìn tỷ đồng, bằng 20,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 33,9 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7%. Thu từ dầu thô và từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt thấp chủ yếu do tác động của giá dầu thô và các sản phẩm hóa dầu xuất khẩu giảm mạnh[8]. Riêng thu nội địa, tiến độ đạt thấp chủ yếu do giảm thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước (đạt 43,9 nghìn tỷ đồng, bằng 17,1% dự toán năm) do tác động của giá dầu và khí giảm; thu từ cổ tức, lợi nhuận còn lại phát sinh thấp, đồng thời chưa thu vào ngân sách số tiền bán cổ phần sở hữu của Nhà nước tại một số doanh nghiệp[9]. Thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 46,7 nghìn tỷ đồng, bằng 32,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 44,1 nghìn tỷ đồng, bằng 27,7%; thu tiền sử dụng đất 22,4 nghìn tỷ đồng, bằng 44,9%; thuế thu nhập cá nhân 21,6 nghìn tỷ đồng, bằng 33,9%; thuế bảo vệ môi trường 10,6 nghìn tỷ đồng, bằng 27,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2016 ước tính đạt 318,2 nghìn tỷ đồng[10], bằng 25% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 53,8 nghìn tỷ đồng, bằng 21,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 53,5 nghìn tỷ đồng, bằng 21,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 222,2 nghìn tỷ đồng, bằng 27%; chi trả nợ và viện trợ 42,2 nghìn tỷ đồng, bằng 27,2%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tư ước tính đạt 279,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 214,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 30 nghìn tỷ đồng, tăng 6%; doanh thu hoạt động du lịch lữ hành đạt 2,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 33 nghìn tỷ đồng, tăng 6,9%.

Tính chung 4 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1138,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,5%, thấp hơn mức tăng 8,3% của cùng kỳ năm 2015. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm đạt 870,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,4% tổng mức và tăng 9%, trong đó một số ngành hàng tăng khá: Lương thực, thực phẩm tăng 13%; hàng may mặc tăng 10,6%; phương tiện đi lại tăng 10,1%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 9,2%; riêng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 1,3%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm ước tính đạt 127,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng mức và tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của một số địa phương tăng khá: Thanh Hóa tăng 15,1%; Ninh Bình tăng 10,3%; Hà Tĩnh tăng 9%; Hà Nội tăng 8,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,8%.

Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm ước tính đạt 9,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước giảm 3,5%), trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Lâm Đồng tăng 16,5%; Cần Thơ tăng 12%; Hà Nội tăng 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,5%. Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm đạt 131,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 8,6%.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 3/2016 đạt 15117 triệu USD, cao hơn 917 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 672 triệu USD[11]; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 75 triệu USD; dầu thô cao hơn 49 triệu USD; gạo cao hơn 45 triệu USD; cà phê cao hơn 40 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tư ước tính đạt 14,1 tỷ USD, giảm 6,7% so với tháng trước[12], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,1 tỷ USD, giảm 2,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10 tỷ USD, giảm 8,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tư tăng 4,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 3,8%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện tăng 22,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 15,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,6%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 52,9 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 15,1 tỷ USD, tăng 2,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,8 tỷ USD, tăng 7,3%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 11,5 tỷ USD, tăng 23,8%; hàng dệt may đạt 6,8 tỷ USD, tăng 6,2%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 5 tỷ USD, tăng 6,8%; giày dép đạt 3,7 tỷ USD, tăng 4,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 2,9 tỷ USD, tăng 15,8%; thủy sản đạt 1,9 tỷ USD, tăng 3,8%; cà phê đạt 1,1 tỷ USD, tăng 10,7%; túi xách, vali, mũ, ô dù đạt 1 tỷ USD, tăng 10,8%; gạo đạt 888 triệu USD, tăng 10,3%. Tuy nhiên, có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm: Phương tiện vận tải và phụ tùng ước tính đạt 1,9 tỷ USD, giảm 4,6%; dầu thô đạt 678 triệu USD, giảm 52,1% (lượng giảm 22,2%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 443 triệu USD, giảm 23,5% (lượng giảm 8,7); sắt thép đạt 483 triệu USD, giảm 16,2% (lượng tăng 16,9%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 4 tháng đầu năm, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 11,4 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là EU với 10,3 tỷ USD, tăng 10,4%; Trung Quốc đạt 5,8 tỷ USD, tăng 16,5%; Hàn Quốc đạt 3,3 tỷ USD, tăng 36,5%. Riêng xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 5,4 tỷ USD, giảm 13,5%; Nhật Bản đạt 4,5 tỷ USD, giảm 0,2%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 3/2016 đạt 14493 triệu USD, cao hơn 393 triệu USD so với số ước tính, trong đó vải cao hơn 78 triệu USD; xăng dầu cao hơn 76 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 63 triệu USD; sắt thép cao hơn 54 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 49 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 35 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép cao hơn 31 triệu USD; ô tô cao hơn 22 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tư năm nay ước tính đạt 14,0 tỷ USD, giảm 3,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,8 tỷ USD, tăng 0,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,2 tỷ USD, giảm 6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tư tăng 7,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,1%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 51,4 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 20,7 tỷ USD, giảm 0,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,7 tỷ USD, giảm 1,4%. Một số mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 3,2 tỷ USD, giảm 6,9%; hóa chất đạt 924 triệu USD, giảm 7,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 8,2 tỷ USD, giảm 8,9%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 956 triệu USD, giảm 17,7%; xăng dầu đạt 1,3 tỷ USD, giảm 33,3% (lượng tăng 10,9%). Kim ngạch nhập khẩu ô tô 4 tháng đầu năm đạt 1,7 tỷ USD, tương đương mức cùng kỳ năm trước, trong đó ôtô nguyên chiếc đạt 669 triệu USD, giảm 23,5%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 4 tháng đầu năm, nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với kim ngạch 14,7 tỷ USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước[13]; ASEAN đạt 7,5 tỷ USD, giảm 3,5%; Nhật Bản đạt 4,3 tỷ USD, giảm 8,8%; EU đạt 3 tỷ USD, giảm 9,5%; Hoa Kỳ đạt 2,4 tỷ USD, giảm 0,1%; riêng nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 9,5 tỷ USD, tăng 6,7%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Ba xuất siêu 624 triệu USD[14]; tháng Tư ước tính xuất siêu 100 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm xuất siêu 1,46 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 5,60 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,06 tỷ USD.

c. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2016 tăng 0,33% so với tháng trước, trong đó các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung: Giao thông tăng 1,73% chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh tăng vào thời điểm 21/3/2016 và thời điểm 05/4/2016 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 3,83%, tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,16%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,71% do giá gas điều chỉnh tăng tại thời điểm 01/4/2016 và giá sắt thép tăng 5%-8% do việc áp thuế phòng hộ đối với mặt hàng phôi thép và thép dài nhập khẩu[15]. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,45%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,47% do một số tỉnh thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính; giáo dục tăng 0,37% do trong tháng có hai địa phương[16] thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính Phủ. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm, trong đó: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,10%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,05%; bưu chính viễn thông và hàng ăn, dịch vụ ăn uống[17] không biến động; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2016 tăng 1,33% so với tháng 12/2015 và tăng 1,89% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm nay tăng 1,41% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá vàng tháng 4/2016 tăng 0,3% so với tháng trước; tăng 8,12% so với tháng 12/2015 và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2016 tăng 0,05% so với tháng trước; giảm 0,79% so với tháng 12/2015; tăng 3,55% so với cùng kỳ năm 2015.

Lạm phát cơ bản tháng 4/2016 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 1,76% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm 2016 tăng 1,76% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.

d. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 4 tháng đầu năm ước tính đạt 1187 triệu lượt khách, tăng 8,9% và 55,5 tỷ lượt khách.km, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2015. Vận tải hành khách đường bộ 4 tháng ước tính đạt 1117,9 triệu lượt khách, tăng 9% và 37,3 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 12,7 triệu lượt khách, tăng 32,5% và 15,9 tỷ lượt khách.km, tăng 12,8%; đường sắt đạt 3,3 triệu lượt khách, giảm 10% và 1,3 tỷ lượt khách.km, giảm 14,5%; đường biển đạt 1,9 triệu lượt khách, tăng 3,9% và 89,4 triệu lượt khách.km, tăng 3,5%.

Vận tải hàng hóa 4 tháng đầu năm ước tính đạt 406,6 triệu tấn, tăng 7,4% và 79,6 tỷ tấn.km, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 395,7 triệu tấn, tăng 7,5% và 36,3 tỷ tấn.km, tăng 4,8%; vận tải ngoài nước đạt 10,9 triệu tấn, tăng 3,6% và 43,3 tỷ tấn.km, tăng 1,7%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 315,6 triệu tấn, tăng 8,6% và 19,5 tỷ tấn.km, tăng 10,4%; đường sông đạt 69,2 triệu tấn, tăng 5,2% và 14,2 tỷ tấn.km, tăng 5%; đường biển đạt 19,9 triệu tấn, tăng 1,7% và 44,6 tỷ tấn.km, tăng 0,7%; đường sắt đạt 1,7 triệu tấn, giảm 27% và 1 tỷ tấn.km, giảm 31,4%.

e. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tư ước tính đạt 789,5 nghìn lượt người, giảm 3,8% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3248,6 nghìn lượt người, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 2648 nghìn lượt người, tăng 18,5%; đến bằng đường bộ đạt 550 nghìn lượt người, tăng 25,2%; đến bằng đường biển đạt 50,6 nghìn lượt người, giảm 38,9%.

Trong 4 tháng đầu năm, khách đến nước ta từ châu Á đạt 2236,9 nghìn lượt người, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính tăng khá: Trung Quốc đạt 789,5 nghìn lượt người, tăng 47%; Hàn Quốc 519,3 nghìn lượt người, tăng 30,2%; Nhật Bản 245,4 nghìn lượt người, tăng 11,1%, Đài Loan 162,7 nghìn lượt người, tăng 15,9%; Ma-lai-xi-a 127,7 nghìn lượt người, tăng 17,3%; Thái Lan 94,4 nghìn lượt người, tăng 29,6%; Xin-ga-po 79,3 nghìn lượt người, tăng 13,3%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 587,9 nghìn lượt người, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga đạt 144 nghìn lượt người, tăng 16%; Vương quốc Anh 94,6 nghìn lượt người, tăng 23%; Pháp 93,5 nghìn lượt người, tăng 13,7%; Đức 70,4 nghìn lượt người, tăng 17,4%; Thụy Điển 19,8 nghìn lượt người, tăng 27,1%; Hà Lan 19,6 nghìn lượt người, tăng 20,9%; I-ta-li-a 18,8 nghìn lượt người, tăng 29,2%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 280 nghìn lượt người, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 209,5 nghìn lượt người, tăng 13,6%. Khách đến từ châu Úc đạt 134,9 nghìn lượt người, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 123,3 nghìn lượt người, tăng 5,6%.

7. Một số tình hình xã hội

a. Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Tư, cả nước có 14,2 nghìn hộ thiếu đói, giảm 57,7% so với cùng kỳ năm 2015, tương ứng với 61,5 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 56,8%. Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 105,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 427,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 10,4%. Thiếu đói xảy ra tập trung ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 8,5 nghìn tấn lương thực và khoảng 590 triệu đồng, riêng tháng Tư hỗ trợ trên 1 nghìn tấn lương thực.

b. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Tư, cả nước có 2,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 3,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); 16 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 19 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 09 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có hơn 8,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 28,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (08 trường hợp tử vong); 62 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 78 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 19 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (01 trường hợp tử vong). Việt Nam đã phát hiện 02 trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika đầu tiên tại Khánh Hòa và thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay sức khỏe của 2 bệnh nhân này tương đối ổn định. Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1085/QĐ-BYT ngày 30/3/2016 về việc thành lập 04 Đội đáp ứng nhanh phòng chống dịch bệnh do vi rút Zika tại các khu vực trên cả nước.

Trong tháng đã phát hiện gần 892 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/4/2016 là 228 nghìn người, trong đó 85,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 87 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 09 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 375 người bị ngộ độc. Tính từ 17/12/2015 đến 17/4/2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 26 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 1386 người bị ngộ độc, trong đó 02 trường hợp tử vong.

c. Tai nạn giao thông

Từ thời điểm 16/3 đến 15/4/2016, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1642 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 772 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 870 vụ va chạm giao thông, làm 669 người chết; 331 người bị thương và 995 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 5,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,7%; số vụ va chạm giao thông giảm 5,6%); số người chết giảm 1,9%; số người bị thương giảm 32,6% và số người bị thương nhẹ giảm 8,8%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 6627 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 3295 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3332 vụ va chạm giao thông, làm 2862 người chết; 1966 người bị thương và 3882 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 4 tháng đầu năm giảm 12,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 5,7%; số vụ va chạm giao thông giảm 18,5%); số người chết giảm 5,5%; số người bị thương giảm 8% và số người bị thương nhẹ giảm 21,4%. Bình quân 01 ngày trong 4 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 27 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 16 người bị thương và 32 người bị thương nhẹ.

d. Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai[18]xảy ra trong tháng 4/2016 làm 5 người chết và 22 người bị thương; 8,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 1,4 nghìn ha lúa; 2 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính gần 76 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, thiên tai xảy ra làm 5 người chết và 24 người bị thương; 8,3 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 14,6 nghìn ha lúa; 9,2 nghìn ha hoa màu và 1,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 16,6 nghìn con gia súc; 7,6 nghìn gia cầm và gần 730 tấn thủy sản các loại bị chết. Tổng giá trị thiệt hại trong 4 tháng đầu năm 2016 ước tính hơn 1,1 nghìn tỷ đồng.

Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Đến thời điểm 24/4/2016, đã có 15 tỉnh công bố tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn[19]. Tính đến thời điểm hiện nay, có 424,1 nghìn hộ thiếu nước sinh hoạt; 248,3 nghìn ha lúa, 18,9 nghìn ha hoa màu, 53,8 nghìn ha cây ăn quả, 105,2 nghìn ha cây công nghiệp và 5,7 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 6,4 nghìn tỷ đồng.

e. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Tư, cơ quan chức năng đã phát hiện 870 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 333 vụ với tổng số tiền phạt là hơn 14,8 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2016 đã phát hiện 4374 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 1619 vụ với tổng số tiền phạt hơn 363,7 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 285 vụ cháy, nổ, làm 8 người chết và 32 người bị thương, thiệt hại ước tính 125 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 1224 vụ cháy, nổ, làm 21 người chết và 112 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 635 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm so với cùng kỳ năm trước: Hưng Yên giảm 1,6 nghìn ha; Hà Nội giảm 1,5 nghìn ha; Hải Dương, Hà Nam và Thanh Hóa cùng giảm 1 nghìn ha.

[2] An Giang, Bình Định, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Cà Mau, Đăk Lăk, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Kiên Giang, Khánh Hòa, Long An, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Ngãi, Tây Ninh.

[3] Giá cá tra thu mua trong tháng đạt 22.500 đồng/kg, tăng 3.500 đồng so với tháng trước.

[4] Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2015 tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 7,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,1%.

[5] Tháng sau Tết so với tháng Tết.

[6] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[7] Số doanh nghiệp thành lập mới 4 tháng đầu năm 2015 tăng 9,7%; số vốn đăng ký tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2014.

[8] Giá dầu thanh toán bình quân đạt 36 USD/thùng, giảm 24 USD/thùng so với giá dự toán.

[9] Theo Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015 của Quốc hội về dự toán NSNN năm 2016 thực hiện thu vào NSNN 30 nghìn tỷ đồng tiền bán cổ phần sở hữu nhà nước tại một số doanh nghiệp để đầu tư phát triển.

[10] Trong đầu tháng Tư, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chi 484,7 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2016 hỗ trợ khắc phục hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn vụ Đông Xuân 2015-2016 (đợt 2) cho 21 địa phương và 2 công ty thủy nông trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[11] Do Samsung ra sản phẩm mới trong tháng Ba nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện thoại và linh kiện tăng cao so với số ước tính.

[12] Chủ yếu do tháng Tư số ngày làm việc ít hơn tháng Ba.

[13] Nhập siêu từ Trung Quốc 4 tháng đầu năm khoảng 8,9 tỷ USD, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm 2015.

[14] Tháng Ba ước tính xuất siêu 100 triệu USD.

[15] Theo Quyết định số 862/QĐ-BCT ngày 07/3/2016 của Bộ Công Thương.

[16] Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,73%; Quảng Ninh tăng 0,6%.

[17] Riêng chỉ số giá lương thực tăng 1,11% do nhu cầu gạo cho các hợp đồng xuất khẩu đã ký và ảnh hưởng của tình trạng khô hạn ở miền Trung, Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long.

[18]Chưa kể thiệt hại do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

[19] Trong đó, 6 tỉnh công bố thiên tai hạn hán: Gia Lai, Bình Thuận, Ninh Thuận, Kon Tum, Đắk Lắk và Đắk Nông; 6 tỉnh công bố thiên tai xâm nhập mặn: Bến Tre, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Tiền Giang và Long An; 3 tỉnh công bố thiên tai hạn hán và xâm nhập mặn: Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bạc Liêu.