1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

a. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa và rau màu vụ đông xuân. Tính đến trung tuần tháng Hai, cả nước gieo cấy được 2393,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,2% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 480,6 nghìn ha, bằng 100,3%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1912,5 nghìn ha, bằng 100,2%.

Tại các địa phương phía Bắc, do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại cuối tháng Một và đầu tháng Hai nên có gần 50 nghìn ha mạ, lúa và hoa màu bị thiệt hại, trong đó hơn 30 nghìn ha phải gieo cấy lại. Một số địa phương có diện tích bị thiệt hại nhiều: Nghệ An 21,7 nghìn ha; Thanh Hóa 13,7 nghìn ha; Hà Tĩnh 12,4 nghìn ha; Lào Cai gần 1 nghìn ha. Hiện nay các địa phương đang khẩn trương khôi phục lại diện tích lúa bị chết và chăm sóc cho trà lúa sớm, đồng thời tiếp tục gieo trồng lúa và hoa màu vụ đông xuân trên phần diện tích còn lại cho kịp thời vụ.

Các địa phương phía Nam đã cơ bản kết thúc gieo cấy lúa đông xuân. Hiện nay lúa đông xuân đang trong giai đoạn đẻ nhánh làm đòng, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch được 321,2 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 100,5% cùng kỳ năm trước. Tình trạng xâm ngập mặn đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến diện tích trà lúa chính vụ. Tính đến trung tuần tháng Hai đã có 24,5 nghìn ha lúa bị nhiễm mặn (mất trắng 6 nghìn ha), trong đó Bến Tre 10 nghìn ha; Long An 7 nghìn ha; Kiên Giang 6,5 nghìn ha; Tiền Giang 1 nghìn ha.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, tính đến thời điểm trên, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 242,8 nghìn ha ngô, bằng 98,1% cùng kỳ năm 2015; 57,1 nghìn ha khoai lang, bằng 98,2%; 33,8 nghìn ha đậu tương, bằng 89,2%; 77,2 nghìn ha lạc, bằng 88,7%; 412,1 nghìn ha rau đậu, bằng 104,2%.

Thời tiết rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc trong những ngày cuối tháng Một đã ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi trâu, bò tại các địa phương[1]. Đàn trâu cả nước tháng Hai ước tính giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 0,5%-1%; đàn lợn tăng 3%-3,5%; đàn gia cầm tăng 8%-8,5%.

Tính đến thời điểm 21/02/2016, cả nước không còn dịch lợn tai xanh; các dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở một số địa phương: Dịch cúm gia cầm ở Nghệ An; dịch lở mồm long móng ở Bắc Kạn, Hà Tĩnh, Quảng Trị.

b. Lâm nghiệp

Trong tháng, các địa phương tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây giống và chuẩn bị cho trồng rừng vụ xuân năm nay. Diện tích rừng trồng tập trung hai tháng đầu năm ước tính đạt 3448 ha, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 20,5 triệu cây, giảm 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 749 nghìn m3, tăng 2,9%; sản lượng củi khai thác đạt 3,1 triệu ste, tương đương cùng kỳ năm 2015.

Mặc dù công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, nhưng do thời tiết khô hanh nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong tháng, cả nước có 50,8 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị cháy là 32 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 18,8 ha. Tính chung 2 tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại là 65,1 ha, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 32 ha, tăng 25%; diện tích rừng bị chặt phá là 33,1 ha, tăng 36,2%.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Hai ước tính đạt 401,8 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 302,1 nghìn tấn, tăng 2,3%; tôm đạt 41,4 nghìn tấn, tăng 1,7%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 159,3 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 112,5 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 29,3 nghìn tấn, tăng 1,7%.

Nuôi cá tra tiếp tục gặp khó khăn do giá cá tra nguyên liệu giảm mạnh, xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010[2]. Sản lượng cá tra công nghiệp tháng Hai ước tính đạt 71 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 24,6 nghìn tấn, giảm 0,4%; An Giang đạt 17 nghìn tấn, giảm 5,6%; Bến Tre đạt 14 nghìn tấn, tăng 26%. Nuôi tôm trong kỳ chủ yếu tập trung vào việc cải tạo diện tích thả nuôi để chuẩn bị xuống giống vụ tới. Sản lượng tôm sú trong tháng ước tính đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 10,5 nghìn tấn, giảm 6%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Hai ước tính đạt 242,5 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 189,6 nghìn tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 12,1 nghìn tấn, tăng 1,7%. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 228,6 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước trong đó cá đạt 179,2 nghìn tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 11,6 nghìn tấn, tăng 1,8%. Sản lượng cá ngừ đại dương ước tính đạt 2,5 nghìn tấn, tăng 5%.

Tính chung 2 tháng đầu năm nay, sản lượng thủy sản ước tính đạt 830,3 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 350,8 nghìn tấn, tăng 2,2%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 479,5 nghìn tấn, tăng 3,8%.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Hai ước tính tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước và giảm 22,3% so với tháng trước (do tháng Hai năm nay có nhiều ngày nghỉ Tết Nguyên đán). Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước[3], trong đó: Ngành chế biến, chế tạo tăng 8,5%, đóng góp 6,0 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 12,8%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 1,7%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 25,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 14,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,1%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan cùng tăng 10,3%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 9,8%; sản xuất thuốc, hóa dược, dược liệu và sản xuất chế biến thực phẩm cùng tăng 9,7%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai thác than cứng và than non tăng 1,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 1,1%; sản xuất thuốc lá tăng 0,3%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,5%, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngành khai khoáng giảm sút so với cùng kỳ năm trước.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 38,8%; thép thanh, thép góc tăng 28,3%; ti vi tăng 27,7%; thép cán tăng 23%; thức ăn cho gia súc tăng 19,9%; sữa bột tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản tăng 17,1%; sắt thép thô tăng 16,7%; xi măng tăng 15,8%; điện sản xuất tăng 13,6%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 13,4%. Một số sản phẩm giảm: Sơn hóa học giảm 0,1%; giày, dép da giảm 0,2%; xe máy giảm 0,6%; đường kính giảm 0,9%; điện thoại di động giảm 3,5%; dầu thô khai thác giảm 3,8%; bột ngọt giảm 3,9%; phân urê giảm 4,8%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Quảng Nam tăng 65,6%; Thái Nguyên tăng 29,9%; Hải Phòng tăng 14,7%; Cần Thơ tăng 13,4%; Đà Nẵng tăng 9,6%; Hải Dương tăng 9,2%; Hà Nội tăng 8,5%; Đồng Nai tăng 8,4%; thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương cùng tăng 5,7%; Vĩnh Phúc tăng 5,5%; Quảng Ninh tăng 5%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 3,5%; Bắc Ninh tăng 1,1%; Quảng Ngãi tăng 0,4%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01/2016 giảm 3,8% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 24,5%; sản xuất đồ uống tăng 23,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 19,9%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 18,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 15%; sản xuất thiết bị điện tăng 13,1%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ: Dệt giảm 2,8%; sản xuất thuốc lá giảm 3,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính giảm 4,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 4,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất giảm 5,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 8,9%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/02/2016 tăng 8,9% so với cùng thời điểm năm 2015, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 1,1%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 1,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 3,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 6,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 11,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 54,5%; sản xuất thuốc lá giảm 64,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều mức tăng chung: Sản xuất đồ uống tăng 56,1%; sản xuất kim loại tăng 34,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 32,2%; sản xuất trang phục tăng 25,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 24,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 19,7%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,6%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/02/2016 tăng 6,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8,6%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,8%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 1,3%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,7%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/02/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 36,3%; Vĩnh Phúc tăng 16,1%; Quảng Nam tăng 11%; Bình Dương tăng 6,1%; Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 5,8%; Hải Dương tăng 5%; Đồng Nai và Bắc Ninh cùng tăng 4,9%; Quảng Ninh tăng 3,6%; Đà Nẵng tăng 3,2%; Hải Phòng tăng 2,9%; Quảng Ngãi tăng 2,6%; Cần Thơ tăng 1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,5%.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp[4]

Trong tháng Hai, cả nước có 5584 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 53,8 nghìn tỷ đồng, giảm 19% về số doanh nghiệp và tăng 17,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 44,9%.

Trong tháng, cả nước có 2544 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 69,2% so với cùng kỳ năm trước; có 4015 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 2039 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 1976 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký), giảm 8,6%; có 857 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, giảm 19,3%.

Tính chung 2 tháng đầu năm nay, cả nước có 13904 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 113 nghìn tỷ đồng, tăng 1% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 44,4%. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đầu năm là 198,5 nghìn người, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2015.

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 2 tháng đầu năm nay là 7416 doanh nghiệp, tăng 69,5% so với cùng kỳ năm trước[5]. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 2 tháng đầu năm là 2195 doanh nghiệp, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phần lớn là những doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm tới 93,4%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 905 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 41,2%); 654 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,8%); 266 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 12,1%) và 370 công ty cổ phần (chiếm 16,9%).

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong 2 tháng đầu năm nay là 16471 doanh nghiệp, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 7220  doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 9251 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Trong tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động có đăng ký, có 2546 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 35,2%); 2556 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 35,4%); 829 công ty cổ phần (chiếm 11,5%) và 1289 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 17,9%). Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số thuế hoặc không đăng ký có 3685 công ty TNHH 1 thành viên (chiếm 39,8%); 3005 công ty TNHH 2 thành viên (chiếm 32,5%); 1097 công ty cổ phần (chiếm 11,9%) và 1464 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 15,8%).

4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Hai ước tính đạt 10432 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 2235 tỷ đồng; vốn địa phương 8197 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 25,3 nghìn tỷ đồng, bằng 10,2% kế hoạch năm và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2015, gồm có:

– Vốn trung ương quản lý đạt 5,8 nghìn tỷ đồng, bằng 10,3% kế hoạch năm và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 1978 tỷ đồng, bằng 11,2% và tăng 16,5%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 594 tỷ đồng, bằng 9,3% và tăng 7,3%; Bộ Y tế 311 tỷ đồng, bằng 10,4% và tăng 52,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 249 tỷ đồng, bằng 8,2% và tăng 63,4%; Bộ Xây dựng 111 tỷ đồng, bằng 12,3% và giảm 29,2%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 89 tỷ đồng, bằng 10,5% và tăng 8,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 57 tỷ đồng, bằng 9,9% và tăng 0,9%; Bộ Công Thương 49 tỷ đồng, bằng 11,6% và tăng 18,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 27 tỷ đồng, bằng 10,7% và giảm 16,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 14 tỷ đồng, bằng 13,9% và giảm 39,7%.

– Vốn địa phương quản lý đạt 19,5 nghìn tỷ đồng, bằng 10,2% kế hoạch năm và tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 13999 tỷ đồng, bằng 9,8% và tăng 8,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 4443 tỷ đồng, bằng 10,8% và giảm 5,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1091 tỷ đồng, bằng 15% và giảm 2,1%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 3134 tỷ đồng, bằng 10,3% kế hoạch năm và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; Bà Rịa – Vũng Tàu 963 tỷ đồng, bằng 15,7% và giảm 4,9%; thành phố Hồ Chí Minh 812 tỷ đồng, bằng 3,4% và tăng 1,2%; Nghệ An 806 tỷ đồng, bằng 21,7% và tăng 9,7%; Thanh Hóa 755 tỷ đồng, bằng 19,2% và tăng 49,7%; Kiên Giang 629 tỷ đồng, bằng 18,9% và giảm 10%; Vĩnh Phúc 548 tỷ đồng, bằng 10,4% và tăng 27%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/02/2016 thu hút 291 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 1905,1 triệu USD, tăng 96,6% về số dự án và tăng 167,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2015. Đồng thời có 137 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp bổ sung vốn với 898,3 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 2803,4 triệu USD, tăng 135% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng đầu năm ước tính đạt 1,5 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2015.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 2 tháng đầu năm tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với số vốn đăng ký đạt 1995 triệu USD, chiếm 71,2% tổng vốn đăng ký; ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 210,6 triệu USD, chiếm 7,5%; các ngành còn lại đạt 597,8 triệu USD, chiếm 21,3%.

Cả nước có 32 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 2 tháng đầu năm, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 242,4 triệu USD, chiếm 12,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bắc Giang 206,1 triệu USD, chiếm 10,8%; Bắc Ninh 200,6 triệu USD, chiếm 10,5%; Bà Rịa – Vũng Tàu 157,1 triệu USD, chiếm 8,2%; thành phố Hồ Chí Minh 155,9 triệu USD, chiếm 8,2%; Đồng Nai 142,7 triệu USD, chiếm 7,5%; Hà Tĩnh 139,1 triệu USD, chiếm 7,3%; Bình Dương 129,7 triệu USD, chiếm 6,8%.

Trong số 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 2 tháng đầu năm nay, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 435,2 triệu USD, chiếm 22,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Ma-lai-xi-a 233,2 triệu USD, chiếm 12,2%; Hàn Quốc 202,4 triệu USD, chiếm 10,6%; Nhật Bản 160,6 triệu USD, chiếm 8,4%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 153,5 triệu USD, chiếm 8,1%; Trung Quốc 141,1 triệu USD, chiếm 7,4%; Anh 141 triệu USD, chiếm 7,4%; Đài Loan 119,8 triệu USD, chiếm 6,3%.

5. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng Hai năm nay là thời điểm Tết Nguyên đán nên thị trường trong nước sôi động với sản phẩm hàng hóa phong phú, đa dạng. Giá cả thị trường những ngày trước, trong và sau Tết tăng nhẹ so với ngày thường, nhưng không có hiện tượng thiếu hàng, sốt giá do nguồn hàng được cung ứng dồi dào. Các cấp, các ngành đã thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 24/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn thị trường, giá cả, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016.

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai ước tính đạt 288 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 218,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 33,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%; doanh thu hoạt động du lịch lữ hành đạt 2,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,8%; doanh thu hoạt động khác đạt 33,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8,3%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 587 nghìn tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, loại trừ yếu tố giá tăng 8,3%. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 446,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành hàng tăng khá: Lương thực, thực phẩm tăng 12,5%; đồ dùng, dụng cụ; may mặc tăng 10,6%; trang thiết bị gia đình tăng 10,4%; phương tiện đi lại tăng 6,8%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 3%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm ước tính đạt 68,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của một số địa phương tăng khá: Bình Dương tăng 26,9%; Thanh Hóa tăng 22,2%; Hải Phòng tăng 15,7%; Hà Nội tăng 12,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,1%.

Doanh thu du lịch lữ hành 2 tháng đầu năm ước tính đạt 4,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu du lịch lữ hành của Bình Thuận tăng 26,1%; Bình Định tăng 13,3%; Hà Nội tăng 9,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,6%; Đà Nẵng tăng 4,5%.

b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Một năm nay đạt 13363 triệu USD, thấp hơn 437 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện thấp hơn 230 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 150 triệu USD; gạo thấp hơn 25 triệu USD; dầu thô thấp hơn 23 triệu USD; cao su thấp hơn 19 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Hai năm nay ước đạt 10,3 tỷ USD, giảm 22,9% so với tháng trước[6], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2,9 tỷ USD, giảm 30,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 7,4 tỷ USD, giảm 19,5%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch giảm nhiều so với tháng trước: Giày dép giảm 40,6%; thủy sản giảm 36,7%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 34%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác giảm 24,4%; dệt may giảm 20,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Hai tăng 8,4%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 23,7 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,1 tỷ USD, tăng 4,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 16,6 tỷ USD, tăng 2,3%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 4,3 tỷ USD, tăng 2,5%; hàng dệt may đạt 3,6 tỷ USD, tăng 12,4%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 2,4 tỷ USD, tăng 6,2%; giày dép đạt 1,9 tỷ USD, tăng 7,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1 tỷ USD, tăng 3,4%; thủy sản đạt 903 triệu USD, tăng 7,7%; gạo đạt 427 triệu USD, tăng 92,5%; rau quả đạt 319 triệu USD, tăng 39%. Tuy nhiên, một số mặt hàng có kim ngạch giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Dầu thô đạt 250 triệu USD, giảm 63%; sắt thép đạt 221 triệu USD, giảm 21,3%; sắn và sản phẩm của sắn đạt 172 triệu USD, giảm 28,8%; hạt tiêu đạt 160 triệu USD, giảm 21,1%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu trong 2 tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 5,1 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 4,7 tỷ USD, tăng 6,4%; ASEAN đạt 2,5 tỷ USD, giảm 12,3%; Trung Quốc đạt 2,3 tỷ USD, tăng 3,5%; Nhật Bản đạt 2,1 tỷ USD, tăng 4,1%; Hàn Quốc đạt 1,3 tỷ USD, tăng 15,1%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 01/2016 đạt 12598 triệu USD, thấp hơn 1402 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác thấp hơn 260 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 205 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 134 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu thấp hơn 117 triệu USD; vải thấp hơn 85 triệu USD; xăng dầu thấp hơn 41 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Hai ước tính đạt 10,2 tỷ USD, giảm 19% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 3,8 tỷ USD, giảm 29,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,4 tỷ USD, giảm 10,8%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm mạnh: Lúa mỳ giảm 57,5%; rau quả giảm 51%; bông giảm 35,6%; sản phẩm hóa chất giảm 35,4%; giấy các loại giảm 35,2%; tân dược giảm 34,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Hai giảm 0,9%.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 2 tháng đầu năm ước tính đạt 22,8 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,2 tỷ USD, giảm 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,6 tỷ USD, giảm 7,7%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 3,8 tỷ USD, giảm 13,6%; điện thoại và linh kiện đạt 1,5 tỷ USD, giảm 7,6%; sắt thép đạt 993 triệu USD, giảm 8,2%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 594 triệu USD, giảm 9,6%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so với cùng kỳ: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,8 tỷ USD, tăng 5,7%; vải đạt 1,4 tỷ USD, tăng 2%; kim loại thường khác đạt 632 triệu USD, tăng 23,1%; sản phẩm chất dẻo đạt 615 triệu USD, tăng 14,4%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 2 tháng đầu năm từ hầu hết các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc ước tính đạt 7 tỷ USD, giảm 5,6% (nhập siêu từ thị trường này khoảng 4,7 tỷ USD, giảm 9,6%); tiếp đến là Hàn Quốc đạt 3,9 tỷ USD, giảm 4,8%; ASEAN đạt 3,2 tỷ USD, giảm 7,6%; Nhật Bản đạt 1,9 tỷ USD, giảm 9,5%; EU đạt 1,3 tỷ USD, giảm 26,6%; Hoa Kỳ đạt 1 tỷ USD, giảm 4,2%.

Cán cân thương mại thực hiện tháng Một xuất siêu 765 triệu USD[7]. Tháng Hai ước tính xuất siêu 100 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 878 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 978 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm xuất siêu 865 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu gần 2,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 2,9 tỷ USD.

c. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2016 tăng 0,42% so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết tăng lên. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 8 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,98% (lương thực tăng 0,66%; thực phẩm tăng 2,45%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,71%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,45%; giáo dục tăng 0,26%[8]; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Giao thông giảm 3,96%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm vào thời điểm 19/01/2016 và thời điểm 03/02/2016 (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu giảm 8,81%, tác động làm CPI chung giảm khoảng 0,39%); nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,41%; bưu chính viễn thông giảm 0,16%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai năm nay tăng 0,42% so với tháng 12/2015 và tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 2 tháng đầu năm tăng 1,03% so với cùng kỳ năm 2015.

Chỉ số giá vàng tháng 02/2016 tăng 3,02% so với tháng trước; tăng 2,78% so với tháng 12/2015 và giảm 5,42% so với cùng kỳ năm 2015. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2016 giảm 0,64% so với tháng trước; giảm 0,46% so với tháng 12/2015 và tăng 4,82% so với cùng kỳ năm 2015.

Lạm phát cơ bản tháng 02/2016 tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản 2 tháng đầu năm nay tăng 1,82% so với cùng kỳ năm 2015.

d. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 2 tháng đầu năm ước tính đạt 590,1 triệu lượt khách, tăng 7,8% và 28,5 tỷ lượt khách.km, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2015. Vận tải hành khách đường bộ 2 tháng ước tính đạt 556,4 triệu lượt khách, tăng 8% và 18,6 tỷ lượt khách.km, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 5,5 triệu lượt khách, tăng 9,8% và 8,5 tỷ lượt khách.km, tăng 8,3%; đường sắt đạt 1,6 triệu lượt khách, giảm 7,4% và 0,9 tỷ lượt khách.km, tăng 14,4%; đường biển đạt 1 triệu lượt khách, tăng 4,9% và 44,8 triệu lượt khách.km, tăng 4,5%.

Vận tải hàng hóa 2 tháng đầu năm ước tính đạt 201,1 triệu tấn, tăng 6,7% và 39,9 tỷ tấn.km, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 195,6 triệu tấn, tăng 6,9% và 18,4 tỷ tấn.km, tăng 6,4%; vận tải ngoài nước đạt 5,5 triệu tấn, tăng 2,1% và 21,5 tỷ tấn.km, tăng 0,8%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 156 triệu tấn, tăng 7,7% và 9,7 tỷ tấn.km, tăng 9,5%; đường sông đạt 34,2 triệu tấn, tăng 4,9% và 7 tỷ tấn.km, tăng 4,5%; đường biển đạt 10 triệu tấn, tăng 1,5% và 22,6 tỷ tấn.km, tăng 1,3%; đường sắt đạt 0,9 triệu tấn, giảm 22% và 0,5 tỷ tấn.km, giảm 26%.

e. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Hai ước tính đạt 833,6 nghìn lượt người, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến bằng đường hàng không tăng 1,2% và tăng 11,2%; bằng đường bộ tăng 16% và tăng 76,9%; bằng đường biển giảm 5,4% và tăng 56,7%. Khách đến từ một số thị trường chính đạt khá, trong đó khách đến từ Trung Quốc đạt 219 nghìn lượt người, tăng 48,4% so với tháng trước và tăng 72,6% so với cùng kỳ năm trước; Đài Loan 52,7 nghìn lượt người, tăng 56,4% và tăng 29,5%; Hoa Kỳ 60,1 nghìn lượt người, tăng 4,8% và tăng 8%; Vương quốc Anh 22,8 nghìn lượt người, tăng 4,4% và tăng 18,7%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 1638,7 nghìn lượt người, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 1326,7 nghìn lượt người, tăng 14,2%; đến bằng đường bộ đạt 287,8 nghìn lượt người, tăng 31,3%; đến bằng đường biển đạt 24,2 nghìn lượt người, giảm 21,7%.

Trong 2 tháng đầu năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 1107,4 nghìn lượt người, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách tăng: Trung Quốc 366,5 nghìn lượt người, tăng 48,8%; Hàn Quốc 291,6 nghìn lượt người, tăng 31%; Nhật Bản 123,1 nghìn lượt người, tăng 11,1%; Đài Loan 86,4 nghìn lượt người, tăng 23,8%;  Ma-lai-xi-a 59,9 nghìn lượt người, tăng 19,7%; Thái Lan 43,5 nghìn lượt người, tăng 24,3%. Một số quốc gia có lượng khách đến nước ta giảm: Cam-pu-chia 23,2 nghìn lượt người, giảm 64%; Lào 15,1 nghìn lượt người, giảm 1,7%.

Khách đến từ châu Âu trong 2 tháng đầu năm ước tính đạt 295,6 nghìn lượt người, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Nga đạt 73,9 nghìn lượt người, tăng 8,9%; Vương quốc Anh 44,7 nghìn lượt người, tăng 19,6%; Pháp 42,5 nghìn lượt người, tăng 8,1%; Đức 34,4 nghìn lượt người, tăng 14,4%; Thụy Điển 11,7 nghìn lượt người, tăng 16,4%; I-ta-li-a 10,3 nghìn lượt người, tăng 25,6%; Hà Lan đạt 10,1 nghìn lượt người, tăng 11,2%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 156,9 nghìn lượt người, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 117,5 nghìn lượt người, tăng 13,6%. Khách đến từ châu Úc đạt 74,4 nghìn lượt người, tăng 3,5%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 68,5 nghìn lượt người, tăng 5,8%. Khách đến từ châu Phi đạt 4,4 nghìn lượt người, tăng 6,2%.

6. Một số tình hình xã hội

a. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Trong tháng Hai, cả nước có 75,3 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 302 nghìn nhân khẩu thiếu đói. So với cùng kỳ năm 2015, số hộ thiếu đói tăng 62%; số nhân khẩu thiếu đói tăng 63%[9]. Tính chung 2 tháng đầu năm, cả nước có 80,6 nghìn lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 323,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 62%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 6,8 nghìn tấn lương thực và 572 triệu đồng, riêng tháng Hai hỗ trợ khoảng 3,8 nghìn tấn lương thực và 535 triệu đồng.

Công tác an sinh xã hội trong dịp Tết Nguyên đán được chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo. Theo báo cáo sơ bộ, đã có 7,4 triệu phần quà với tổng trị giá 2,9 nghìn tỷ đồng được trao cho các gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, các đối tượng chính sách và 914,3 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo ăn Tết.

b. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Hai, cả nước có 2,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 13,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); 21 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 27 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 05 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Việt Nam hiện chưa ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh do vi rút Zika[10]. Tính chung 2 tháng đầu năm, cả nước có gần 4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 18,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (04 trường hợp tử vong); 21 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 32 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 05 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 15/02/2016 là 227,2 nghìn người, trong đó 84,5 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 86,6 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 147 người bị ngộ độc. Tính từ 17/12/2015 đến 16/02/2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 784 người bị ngộ độc, trong đó 01 trường hợp tử vong.

c. Tai nạn giao thông

Từ thời điểm 16/01 đến 15/02/2016, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1904 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 985 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 919 vụ va chạm giao thông, làm 856 người chết; 749 người bị thương và 1068 người bị thương nhẹ (Riêng trong 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Bính Thân đã xảy ra 408 vụ tai nạn giao thông, làm chết 300 người và làm bị thương 380 người). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 1,7% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 9,7%; số vụ va chạm giao thông giảm 11,5%); số người chết tăng 8,9%; số người bị thương tăng 45,7% và số người bị thương nhẹ giảm 11,3%.

Tính chung 2 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 3618 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 1830 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1788 vụ va chạm giao thông, làm 1590 người chết; 1269 người bị thương và 2098 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông 2 tháng giảm 11,9% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,1%; số vụ va chạm giao thông giảm 20,8%); số người chết tăng 1,5%; số người bị thương tăng 15,7% và số người bị thương nhẹ giảm 21,4%. Bình quân 01 ngày trong 2 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, gồm 30 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 28 vụ va chạm giao thông, làm 26 người chết, 20 người bị thương và 34 người bị thương nhẹ.

d. Thiệt hại do thiên tai

Thời tiết rét đậm, rét hại cùng với mưa to và triều cường xảy ra trong tháng đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân ở một số địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 11,5 nghìn ha lúa; 6,6 nghìn ha hoa màu; 155,1 nghìn ha cây lâm nghiệp và 1,1 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; trên 13 nghìn con gia súc và hơn 720 tấn thủy sản các loại bị chết. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính trên 710 tỷ đồng.

e. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Hai, cơ quan chức năng đã phát hiện 1,6 nghìn vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 343 vụ với tổng số tiền phạt là hơn 12,5 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 400 vụ cháy, nổ làm 4 người chết và 49 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 100 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 642 vụ cháy, nổ làm 6 người chết và 59 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 153 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Số trâu, bò bị chết rét tính đến thời điểm 29/01/2016 là 9,4 nghìn con

[2] Giá cá tra nguyên liệu ở mức 18-18,5 nghìn đồng/kg, giảm 5-6 nghìn đồng/kg so với cùng kỳ năm 2015.

[3] Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm 2015 tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 9%; ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 13,3%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,5%.

[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[5] Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 2 tháng đầu năm 2015 tăng 20,2% so với cùng kỳ năm 2014.

[6] Chủ yếu do tháng Hai có nhiều ngày nghỉ Tết Nguyên đán.

[7] Ước tính tháng Một nhập siêu 200 triệu USD.

[8] Trong tháng 02/2016 có 4 tỉnh điều chỉnh tăng dịch vụ giáo dục theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ là Bắc Ninh, Sơn La, Bình Định và Bình Thuận.

[9] Số hộ và số nhân khẩu thiếu đói trong tháng tăng cao chủ yếu do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại cuối tháng Một và đầu tháng Hai năm nay.

[10] Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh do vi rút Zika hiện đang diễn biến phức tạp và lây lan  nhanh. Đến nay đã có hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận các trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika.