I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sáu tháng đầu năm 2012 ước tính tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó quý I tăng 4,00%; quý II tăng 4,66%. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế sáu tháng đầu năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,81%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,81%, đóng góp 1,55 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,57%, đóng góp 2,35 điểm phần trăm.
Tăng trưởng kinh tế sáu tháng đầu năm nay đạt mức thấp do nhiều ngành, lĩnh vực gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhưng kết quả tăng thấp. Tuy nhiên, từ quý II nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt đối với khu vực công nghiệp và xây dựng: Giá trị tăng thêm của khu vực này quý I năm nay chỉ tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước, sang quý II đã tăng lên 4,52%, trong đó công nghiệp tăng từ 4,03% lên 5,40%.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản sáu tháng đầu năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp tăng 3%; lâm nghiệp tăng 5,7% và thuỷ sản tăng 5,8%.
a. Nông nghiệp
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3124,2 nghìn ha, tăng 27,4 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2011, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1157,7 nghìn ha, tăng 6,2 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1966,5 nghìn ha, tăng 21,2 nghìn ha. Năng suất lúa đông xuân năm nay ước tính đạt 64,8 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 20,3 triệu tấn, tăng 47,8 vạn tấn. Cũng đến trung tuần tháng Sáu, cả nước đã xuống giống được 1905,4 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,4% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long xuống giống 1653,7 nghìn ha, bằng 100,7%.
Một số cây trồng vụ đông xuân đã cơ bản thu hoạch xong, trong đó sản lượng ngô đạt 2,3 triệu tấn, giảm 2,8% so với năm trước; khoai lang đạt 848,3 nghìn tấn, tăng 5,3%; rau đạt 7,9 triệu tấn, tăng 4,2%; đậu tương đạt 81,5 nghìn tấn, giảm 47,3%; lạc đạt 350,1 nghìn tấn, giảm 2,2%. Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm đạt khá so với cùng kỳ năm trước do diện tích cho sản phẩm tăng, trong đó sản lượng chè đạt 388,1 nghìn tấn, tăng 2,2%; cao su đạt 277,6 nghìn tấn, tăng 6,3%; hồ tiêu đạt 104,1 nghìn tấn, tăng 3,1%; điều đạt 313,8 nghìn tấn, tăng 0,9%.
Tại thời điểm 01/4/2012, đàn trâu cả nước có 2,7 triệu con, giảm 5,1% so với cùng thời điểm năm 2011; đàn bò có 5,3 triệu con, giảm 7%; đàn lợn có 26,7 triệu con, tăng 1,5%; đàn gia cầm có 310,7 triệu con, tăng 5,8%. Sản lượng thịt trâu hơi đạt 50,4 nghìn tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ năm trước; thịt bò hơi đạt 174,8 nghìn tấn, giảm 1,5%; thịt lợn hơi đạt 1,9 triệu tấn, tăng 4,8%; thịt gia cầm đạt 439,3 nghìn tấn, tăng 13,7%. Sản lượng trứng gia cầm đạt 4,1 triệu quả, tăng 4,6%; sản lượng sữa đạt 2 triệu tấn, tăng 14,2%. Tính đến ngày 23/6/2012, dịch cúm gia cầm và dịch lở mồm long móng trên trâu, bò đã được khống chế; dịch tai xanh trên lợn chưa qua 21 ngày còn ở các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Điện Biên, Lạng Sơn, Đồng Nai, Bình Dương và Bạc Liêu.
b. Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng tập trung sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 53,8 nghìn ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 362,8 nghìn ha, giảm 7,8%; trồng cây phân tán đạt 108,7 triệu cây, tăng 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2248,8 nghìn m3, tăng 12%; củi khai thác 14,6 triệu ste, tăng 2,8%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong sáu tháng là 2211 ha, tăng 44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1618 ha, tăng 139,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 593 ha, giảm 30,9%.
c. Thủy sản
Sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 2649,2 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó cá đạt 2047 nghìn tấn, tăng 5,1%; tôm đạt 237,8 nghìn tấn, tăng 6,2%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng sáu tháng ước tính đạt 1386,8 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1110,3 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm đạt 169,6 nghìn tấn, tăng 7%. Sản lượng thuỷ sản khai thác sáu tháng đạt 1262,4 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 1185,9 nghìn tấn, tăng 4,7%.
3. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) sáu tháng đầu năm 2012 ước tính tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó công nghiệp khai thác mỏ tăng 3%, đóng góp 1,3 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến tăng 4,0%, đóng góp 2,3 điểm phần trăm; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 14,2%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm. Chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng năm nay thấp hơn nhiều mức tăng 9,7% của cùng kỳ năm 2011 và mức tăng 8,9% của cùng kỳ năm 2010. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp các tháng của quý II bước đầu có chuyển biến theo hướng tích cực. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất tháng Ba năm nay tăng 6,5%; tháng Tư tăng 7,5%; tháng Năm tăng 6,8% và tháng Sáu tăng 8%.
Một số ngành công nghiệp có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Đóng và sửa chữa tàu tăng 68,5%; chế biến và bảo quản rau quả tăng 35,3%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 20,2%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 15,3%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 14,6%; sản xuất đường tăng 13,4%; sản xuất, tập trung và phân phối điện tăng 14,8%. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng khá là: Sản xuất bia tăng 10,5%; chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 9,9%; khai thác, lọc và phân phối nước tăng 9,8%.
Các ngành có chỉ số sản xuất sáu tháng tăng thấp hoặc giảm là: Khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 7,5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 5,3%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 4,9%; sản xuất thuốc lá tăng 2,9%; sản xuất giày, dép giảm 1,2%; khai thác và thu gom than cứng giảm 2,7%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 3,4%; sản xuất sắt, thép giảm 4,1%; sản xuất xi măng giảm 5,9%; sản xuất xe có động cơ giảm 6,1%; sản xuất đồ uống không cồn giảm 10,8%.
Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn có chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm 2012 ở mức tăng thấp so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Dương tăng 7,2%; Bà Rịa -Vũng Tàu tăng 6,8%; Đồng Nai tăng 6,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,3%; Hải Phòng tăng 4,4%; Vĩnh Phúc tăng 4,4%; Đà Nẵng tăng 4,1%; Cần Thơ tăng 3,9%; Hà Nội tăng 3,2%; Hải Dương tăng 1,2%.
Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến năm tháng đầu năm chỉ tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức 17,5% của cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất đường tăng 38,6% so với cùng kỳ năm trước; chế biến và bảo quản rau quả tăng 37,7%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 24,7%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 17,4%; chế biến bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 15,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm, ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất là: Sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 7,1%; sản xuất thuốc lá, thuốc lào tăng 2,4%; sản xuất sắt, thép tăng 2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 5,2%; sản xuất xe có động cơ giảm 5,3%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 6,6%; sản xuất giày, dép giảm 6,8%; sản xuất xi măng giảm 9,9%; sản xuất đồ uống không cồn giảm 16%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 25%; sản xuất giấy nhăn và bao bì giảm 28,5%.
Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/6/2012 của ngành công nghiệp chế biến tăng 26% so với cùng thời điểm năm trước (Chỉ số tồn kho cùng thời điểm năm trước là 15,9%). Những ngành có chỉ số tồn kho tiếp tục tăng cao là: Sản xuất giấy nhăn và bao bì tăng 130%; sản xuất xe có động cơ tăng 116,7%; chế biến và bảo quản rau quả tăng 113,3%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 78,7%; sản xuất các sản phẩm khác từ plastic tăng 59,6%; sản xuất các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào tăng 41,4%; chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 30,5%; sản xuất xi măng tăng 29,3%; xay xát và sản xuất bột thô tăng 25,9%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất sản phẩm bơ sữa tăng 8,7%; sản xuất sợi và dệt vải giảm 4,6%; sản xuất giày, dép giảm 6,5%; sản xuất sắt, thép giảm 5,4%; sản xuất đường giảm 26%.
4. Hoạt động xây dựng
Gi¸ trÞ s¶n xuÊt x©y dùng sáu tháng đầu năm 2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 283,3 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 42,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 15%; khu vực ngoài Nhà nước 232 nghìn tỷ đồng, chiếm 81,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 8,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,1%. Giá trị sản xuất xây dựng sáu tháng đầu năm theo giá so sánh 1994 ước tính giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực Nhà nước giảm 6,8%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 0,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5%.
5. Hoạt động của doanh nghiệp
Theo kết quả điều tra chọn mẫu 9331 doanh nghiệp trên cả nước về thực trạng doanh nghiệp và tình hình khó khăn của khu vực doanh nghiệp, từ thời điểm 01/01/2011 đến 01/4/2012, số doanh nghiệp thực tế còn hoạt động chiếm 91,6%; số doanh nghiệp phá sản, giải thể và doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể (gọi chung là doanh nghiệp phá sản, giải thể) chiếm 8,4%, trong đó số doanh nghiệp đã hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 4,1%; số doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chờ hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 4,3%.
Trong ba loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp ngoài nhà nước phá sản, giải thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,1%, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 2,7% và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 2,4%.
Trong tổng số 784 doanh nghiệp phá sản, giải thể thuộc mẫu điều tra, có đến 69,9% doanh nghiệp phá sản, giải thể là do sản xuất kinh doanh thua lỗ; 28,2% doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinh doanh; 14,7% doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm; 11,7% doanh nghiệp khó khăn về địa điểm sản xuất kinh doanh; 4,6% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh nghiệp mới hoặc chuyển đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh và 4,6% doanh nghiệp đóng cửa để sáp nhập với doanh nghiệp khác. Kết quả điều tra còn cho thấy yếu tố gây cản trở lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lãi suất vay vốn quá cao.
6. Hoạt động dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 1137,4 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 6,5%. Trong đó: Kinh doanh thương nghiệp đạt 880,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 77,4% tổng mức và tăng 18,9%; khách sạn nhà hàng đạt 132,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% và tăng 20,2%; dịch vụ đạt 112,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,9% và tăng 22,3%; du lịch đạt 11,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 26,6%.
b. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 1657,4 triệu lượt khách, tăng 13% và 68,1 tỷ lượt khách.km, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2011, bao gồm: Vận tải đường bộ đạt 1536,3 triệu lượt khách, tăng 14% và 52,5 tỷ lượt khách.km, tăng 12,1%; đường hàng không đạt 6,8 triệu lượt khách, tăng 2,5% và 11 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3%; đường sắt đạt 6,1 triệu lượt khách, tăng 2,9% và 2,3 tỷ lượt khách.km, tăng 2,9%; đường biển đạt 3 triệu lượt khách, tăng 1,5% và 170,1 triệu lượt khách.km, tăng 1,9%.
Vận tải hàng hóa sáu tháng đầu năm ước tính đạt 433,6 triệu tấn, tăng 10,1% và 92 tỷ tấn.km, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 414,8 triệu tấn, tăng 12,5% và 33,5 tỷ tấn.km, tăng 1,8%; vận tải ngoài nước đạt 18,8 triệu tấn, giảm 11,3% và 58,5 tỷ tấn.km, giảm 12,1%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 341,5 triệu tấn, tăng 12,6% và 18,3 tỷ tấn.km, tăng 9,7%; đường sông đạt 66,4 triệu tấn, tăng 6% và 6,9 tỷ tấn.km, tăng 6,3%; đường biển đạt 22,1 triệu tấn, giảm 13,5% và 64,6 tỷ tấn.km, giảm 14,2%; đường sắt đạt 3,5 triệu tấn, giảm 6% và 2 tỷ tấn.km, giảm 5%.
c. Bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại phát triển mới sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 5498,9 nghìn thuê bao, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2011, bao gồm: 13,7 nghìn thuê bao cố định, bằng 41,7% cùng kỳ và 5485,2 nghìn thuê bao di động, tăng 18,4%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 6/2012 ước tính đạt 135,9 triệu thuê bao, tăng 2,3% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 15,2 triệu thuê bao cố định, giảm 1,8% và 120,7 triệu thuê bao di động, tăng 2,8%.
Số thuê bao internet trên cả nước tính đến cuối tháng 6/2012 ước tính đạt 4,4 triệu thuê bao, tăng 26,5% so với cùng thời điểm năm trước. Số người sử dụng internet tại thời điểm cuối tháng Sáu năm 2012 ước tính đạt 32,4 triệu người, tăng 10,4% so với cùng thời điểm năm 2011. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông sáu tháng đầu năm nay ước tính đạt 74,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2011.
d. Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 3363,4 nghìn lượt người, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1999,2 nghìn lượt người, tăng 12,7%; đến vì công việc 581,9 nghìn lượt người, tăng 18%; thăm thân nhân đạt 595,7 nghìn lượt người, tăng 16,1%. Khách đến từ Trung Quốc đạt 682,3 nghìn lượt người, tăng 3%; Hàn Quốc 369,9 nghìn lượt người, tăng 41,3%; Nhật Bản 289 nghìn lượt người, tăng 22,8%; Hoa Kỳ 244,9 nghìn lượt người, tăng 2,6%; Đài Loan 222,5 nghìn lượt người, tăng 23,8%; Ma-lai-xi-a 145,5 nghìn lượt người, tăng 25,6%; Pháp 112,9 nghìn lượt người, tăng 10,7%; Thái Lan 104,1 nghìn lượt người, tăng 28,6%; Cam-pu-chia 164,4 nghìn lượt người, giảm 20,7%; Ôx-trây-li-a 149,5 nghìn lượt người, giảm 1,8%.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
1. Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện sáu tháng đầu năm 2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 431,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34,5% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 158,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,8% tổng vốn và tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 163 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,7% và tăng 18,1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 110 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,5% và tăng 4,2%.
Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm ước tính đạt 86,2 nghìn tỷ đồng, bằng 42,5% kế hoạch năm và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2011, bao gồm: Vốn trung ương quản lý đạt 22 nghìn tỷ đồng, bằng 43,3 kế hoạch năm và tăng 5,9%; vốn địa phương quản lý đạt 64,2 nghìn tỷ đồng, bằng 42,3% kế hoạch năm và tăng 3,7%.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2012 đạt 6384 triệu USD, bằng 72,3% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 452 dự án được cấp phép mới đạt 4762,1 triệu USD, bằng 75,3% số dự án và bằng 75,4% số vốn cùng kỳ năm 2011; vốn đăng ký bổ sung của 123 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 1621,9 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện sáu tháng đầu năm ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2011.
2. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2012 ước tính đạt 316,8 nghìn tỷ đồng, bằng 42,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa 203,2 nghìn tỷ đồng, bằng 41,1%; thu từ dầu thô 52,3 nghìn tỷ đồng, bằng 60,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 58,9 nghìn tỷ đồng, bằng 38,3%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 71,1 nghìn tỷ đồng, bằng 45,8% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 36,2 nghìn tỷ đồng, bằng 37,1%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 41,6 nghìn tỷ đồng, bằng 37,4%; thuế thu nhập cá nhân 23,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,4%; thuế bảo vệ môi trường 5,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42%; thu phí, lệ phí 3,2 nghìn tỷ đồng, bằng 36,2%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2012 ước tính đạt 376,8 nghìn tỷ đồng, bằng 41,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 73,6 nghìn tỷ đồng, bằng 40,9% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 71,1 nghìn tỷ đồng, bằng 40,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 255,9 nghìn tỷ đồng, bằng 42,6%; chi trả nợ và viện trợ 47,3 nghìn tỷ đồng, bằng 47,3%.
3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
a. Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 53,1 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 20,5 tỷ USD, tăng 4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 32,6 tỷ USD, tăng 37,3%.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 4,7 tỷ USD, tăng 129,8%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 3,4 tỷ USD, tăng 84,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 2,7 tỷ USD, tăng 43,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,2 tỷ USD, tăng 55,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,2 tỷ USD, tăng 24,4%. Một số mặt hàng chủ lực có kim ngạch tăng khá là: Hàng dệt may đạt 6,8 tỷ USD, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2011; dầu thô đạt 3,8 tỷ USD, tăng 12,5%; giày dép đạt 3,5 tỷ USD, tăng 17,4%; thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 10%; cà phê đạt 2,2 tỷ USD, tăng 17,2%. Riêng xuất khẩu gạo giảm cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2011 với 3,7 triệu tấn, giảm 9,4% và kim ngạch đạt 1,7 tỷ USD, giảm 15,3%.
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu của nước ta trong sáu tháng đầu năm, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,3 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2011; tiếp đến là EU đạt 9,1 tỷ USD, tăng 22,4%; ASEAN đạt 7,7 tỷ USD, tăng 22,8%; Nhật Bản đạt 6,4 tỷ USD, tăng 42,3%; Trung Quốc đạt 6,3 tỷ USD, tăng 31,9%; Hàn Quốc đạt 2,5 tỷ USD, tăng 9,7%.
b. Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu sáu tháng đầu năm ước tính đạt 53,8 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2011, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 25,8 tỷ USD, giảm mạnh ở mức 8,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28 tỷ USD, tăng 26,1%.
Trong sáu tháng đầu năm 2012, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 7,7 tỷ USD, tăng 6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 5,7 tỷ USD, tăng 97,7%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,5 tỷ USD, tăng 3%; hóa chất đạt 1,4 tỷ USD, tăng 7,6%; sản phẩm chất dẻo đạt 991 triệu USD, tăng 28,1%. Tuy nhiên, kim ngạch nhiều mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoá chất đạt 1,4 tỷ USD, tăng 7,6%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,5 tỷ USD, tăng 3%; vải 3,4 tỷ USD, bằng mức cùng kỳ năm trước; chất dẻo đạt 2,3 tỷ USD, giảm 1,7%; thép đạt 3,1 tỷ USD, giảm 1,6%. Riêng ôtô là loại hàng tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu nhiều nên đạt 1 tỷ USD, giảm 34,1% (trong đó ôtô nguyên chiếc đạt 285 triệu USD, giảm 54,7%).
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong sáu tháng đầu năm, Trung Quốc là thị trường lớn nhất với kim ngạch nhập khẩu đạt 13,2 tỷ USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2011; tiếp đến là ASEAN đạt 10,4 tỷ USD, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 7,2 tỷ USD, tăng 18,1%; Nhật Bản đạt 5,3 tỷ USD, tăng 12,7%; EU đạt 3,8 tỷ USD, tăng 6%; Hoa Kỳ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 10,9%.
Nhập siêu tháng Sáu ước tính đạt 150 triệu USD, bằng 1,5% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nhập siêu sáu tháng đầu năm 2012 ước tính 685 triệu USD, bằng 1,3% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.
4. Chỉ số giá
a. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2012 giảm 0,26% so với tháng trước, ba tháng liên tiếp trước đó chỉ tăng thấp ở mức dưới 0,2% theo hướng mức tăng giảm dần. Đây là tháng đầu tiên CPI giảm sau 38 tháng tăng liên tục. Trong chín năm qua, đây là lần đầu tiên chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu giảm so với tháng trước. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm là: Giao thông giảm 1,64%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 1,21%; văn hoá giải trí và du lịch giảm 0,27%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23% (lương thực giảm 0,78%; thực phẩm giảm 0,31%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,6%); bưu chính viễn thông giảm 0,02%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước là: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,62%; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình và nhóm thuốc và dịch vụ y tế cùng tăng 0,46%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,33%; giáo dục tăng 0,1%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2012 tăng 2,52% so với tháng 12/2011. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân sáu tháng đầu năm 2012 tăng 12,2% so với bình quân cùng kỳ năm 2011.
Chỉ số giá vàng tháng 6/2012 giảm 2,03% so với tháng trước; giảm 7,51% so với tháng 12/2011 và tăng 9,12% so với cùng kỳ năm 2011. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2012 tăng 0,2% so với tháng trước; giảm 0,8% so với tháng 12/2011 và tăng 1,18% so với cùng kỳ năm 2011.
b. Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
So với cùng kỳ năm 2011, chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản sáu tháng đầu năm 2012 tăng 14,03%; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp tăng 13,41%; chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 13,78%; chỉ số giá cước vận tải tăng 16,13%. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá sáu tháng đầu năm tăng 0,48% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá sáu tháng đầu năm tăng 3,21%.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 cả nước ước tính 52,7 triệu người, tăng 1,3 triệu người so với năm 2011, trong đó lao động nam chiếm 51,6%; lao động nữ chiếm 48,4%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 47,1 triệu người, tăng 0,6 triệu người, trong đó nam chiếm 53,7%; nữ chiếm 46,3%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế năm 2012 ước tính 51,6 triệu người, tăng 1,3 triệu người so với năm 2011, trong đó lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 48,0%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,9%; khu vực dịch vụ chiếm 31,1%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi sáu tháng đầu năm 2012 là 2,29%, trong đó khu vực thành thị là 3,62%, khu vực nông thôn là 1,65%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi sáu tháng đầu năm 2012 là 3,06%, trong đó khu vực thành thị là 1,92%, khu vực nông thôn là 3,60%.
2. Đời sống dân cư, bảo đảm an sinh xã hội
Được sự quan tâm của Chính phủ cùng với việc thực hiện tốt các chính sách an sinh, xã hội của các cấp, các ngành, các địa phương nên nhìn chung đời sống đại bộ phận dân cư tương đối ổn định. Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong sáu tháng đầu năm 2012 là 2,7 nghìn tỷ đồng, bao gồm: 636 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 352 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 1717 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Ở khu vực nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt từ đầu năm được cải thiện rõ rệt. Trong sáu tháng, cả nước có 359,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 30,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 1506,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 30,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 20,8 nghìn tấn lương thực và 24,4 tỷ đồng. Đối với người làm công ăn lương, mức lương tối thiểu tăng từ 830 nghìn đồng/tháng lên 1,05 triệu đồng/tháng từ 01/5/2012 áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước cũng phần nào cải thiện đời sống cho người lao động.
3. Giáo dục, đào tạo
Tính đến hết tháng 6/2012, cả nước có 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2011-2012 được tổ chức đúng kế hoạch. Theo báo cáo sơ bộ, cả nước có 963,0 nghìn thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp phổ thông năm nay, bao gồm: 857,5 nghìn thí sinh trung học phổ thông và 105,5 nghìn thí sinh bổ túc trung học. Tỷ lệ thí sinh đến dự thi đạt 99,7%, tăng 0,1% so với kỳ thi của năm học trước. Tổng số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm nay là 848,7 nghìn học sinh, đạt tỷ lệ 98,97%, trong đó 2,59% tốt nghiệp loại giỏi; 20,79% loại khá. Số học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học năm nay là 91,5 nghìn học sinh, đạt tỷ lệ 85,47%.
Năm học 2011-2012, cả nước có 419 trường đại học, cao đẳng và 294 trường trung cấp chuyên nghiệp. Số giáo viên đại học, cao đẳng là 84,2 nghìn người, tăng 12,9% so với năm học trước; số giáo viên trung cấp chuyên nghiệp là 19,9 nghìn người, tăng 10,3%. Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng năm học 2011-2012 là 2,2 triệu người, tăng 2,1%; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 618,9 nghìn học sinh, giảm 9,8%.
Năm 2012, cả nước có 136 trường cao đẳng nghề; 307 trường trung cấp nghề; 850 trung tâm dạy nghề và hơn 600 cơ sở khác có dạy nghề. Số giáo viên dạy nghề đầu năm 2012 là 46,5 nghìn người, giảm 7,1% so với cùng thời điểm năm trước; số học sinh học nghề là 1887,6 nghìn học sinh, tăng 17,7%. Tổng số học sinh học nghề được tuyển mới từ đầu năm là 1789 nghìn lượt người, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 258,6 nghìn lượt người; sơ cấp nghề 910,8 nghìn lượt người; số học sinh học nghề tốt nghiệp là 1673 nghìn lượt người, tăng 14,8%.
4. Tình hình dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm
Trong sáu tháng đầu năm, cả nước có 23,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 11 trường hợp tử vong; 238 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, có 2 trường hợp tử vong; 57,9 nghìn trường hợp mắc bệnh chân tay miệng, trong đó 29 trường hợp tử vong; hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân tính từ 19/4/2011 đến 13/6/2012 có 216 trường hợp mắc, 12 trường hợp tử vong tại 5 xã của huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Trong tháng Sáu đã phát hiện thêm 1,2 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến giữa tháng 6/2012 lên 256,4 nghìn người, trong đó 104,6 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 53,3 nghìn người tử vong do AIDS. So với tháng 5/2012, số bệnh nhân AIDS giảm 8,5% (49 trường hợp); số trường hợp tử vong do AIDS giảm 29,6% (58 trường hợp). Trong sáu tháng đầu năm đã xảy ra 58 vụ ngộ độc thực phẩm với 1901 người mắc, trong đó 14 trường hợp tử vong.
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Hoạt động văn hóa thông tin sáu tháng đầu năm tập trung chủ yếu vào công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và tổ chức các ngày lễ lớn của dân tộc. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa tại các địa phương tiếp tục được tăng cường. Trong năm tháng đầu năm, ngành văn hóa đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 4,8 nghìn lượt cơ sở kinh doanh, qua đó phát hiện 1,4 nghìn cơ sở vi phạm quy định, phạt cảnh cáo 18 cơ sở và số tiền phạt hành chính các cơ sở vi phạm là 12,5 tỷ đồng.
Hoạt động thể dục thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, thu hút hàng nghìn người tham gia. Trong thể thao thành tích cao, ngành Thể dục thể thao đã xây dựng kế hoạch và triệu tập 65 đội tuyển, đội tuyển trẻ các môn thể thao với 13 chuyên gia, 242 huấn luyện viên và 1296 vận động viên để chuẩn bị lực lượng tham dự Olympic London 2012, Đại hội thể thao Bãi biển châu Á lần thứ 3 tại Trung Quốc, SEA Games 27 năm 2013 và ASIAD 17 năm 2014.
6. Tai nạn giao thông
Sáu tháng đầu năm 2012, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4740 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4732 người và làm bị thương 4017 người. So với cùng kỳ năm 2011, số vụ tai nạn giao thông giảm 20,5%; số người chết giảm 19,3% và số người bị thương giảm 22,6%. Bình quân 1 ngày trong sáu tháng đầu năm nay, cả nước có 26 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người và làm bị thương 22 người.
7. Thiệt hại do thiên tai gây ra
Trong sáu tháng đầu năm, thiên tai xảy ra liên tiếp gây thiệt hại không nhỏ về người và tài sản cho các địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 75 người chết và mất tích; 147 người bị thương; hơn 1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và trên 26 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái; gần 73 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng, trong đó 10,4 nghìn ha mất trắng.
8. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
Trong sáu tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 889 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 34 người chết, 69 người bị thương, thiệt hại khoảng 446 tỷ đồng. Riêng tháng Sáu đã xảy ra 198 vụ cháy, nổ, làm 7 người chết, 15 người bị thương với giá trị thiệt hại trên 35 tỷ đồng. Cũng trong sáu tháng đầu năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện 1,6 nghìn vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường tại 38 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó 1,1 nghìn vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt gần 20 tỷ đồng.