1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc. Năng suất thu hoạch lúa tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng lúa ước tính năm nay sẽ giảm. Chăn nuôi bò và gia cầm phát triển tốt, dịch tả lợn châu Phi tại nhiều địa phương được kiểm soát. Ngành thủy sản tiếp tục giữ đà tăng về sản lượng nuôi trồng và khai thác.

a) Nông nghiệp

Vụ lúa mùa năm 2019 cả nước gieo cấy được 1.621,9 nghìn ha, bằng 96,4% vụ mùa năm trước. Tính đến trung tuần tháng Mười, cả nước thu hoạch được 888,7 nghìn ha, chiếm 54,8% diện tích gieo cấy và bằng 101,7% cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa mùa năm nay ước tính đạt 49,9 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với năm trước; sản lượng lúa mùa ước tính đạt 8,09 triệu tấn, giảm 176,6 nghìn tấn so với vụ mùa trước.

Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trên cả nước đã cơ bản kết thúc sản xuất lúa hè thu với diện tích gieo trồng đạt 2.009,3 nghìn ha, giảm 43,7 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2018. Tính đến giữa tháng Mười, cả nước đã thu hoạch được 2.004,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 97,6% vụ hè thu năm trước; năng suất đạt 54,8 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với vụ hè thu trước nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu năm 2019 đạt 11,01 triệu tấn, giảm 197 nghìn tấn.

Đến giữa tháng Mười, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 713,2 nghìn ha lúa thu đông, bằng 98% cùng kỳ năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch 277,1 nghìn ha, chiếm 38,9% diện tích gieo cấy và bằng 113% cùng kỳ năm trước; năng suất ước tính đạt 54,4 tạ/hạ, tăng 0,2 tạ/ha.

Tính đến thời điểm 15/10/2019, cả nước gieo trồng được 74,9 nghìn ha ngô, bằng 101,6% cùng kỳ năm trước; 11,8 nghìn ha khoai lang, bằng 99,2%; 4,4 nghìn ha đậu tương, bằng 91,7%; 7,3 nghìn ha lạc, bằng 101,4%; 80,4 nghìn ha rau, đậu, bằng 103,9%.

Đàn lợn cả nước trong tháng giảm mạnh 20% so với cùng thời điểm năm trước; đàn trâu giảm 3,1%; đàn bò tăng 2,4%; đàn gia cầm tăng 11,5%. Tính đến ngày 22/10/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.296 xã thuộc 660 huyện của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng số lợn tiêu hủy gần 5,7 triệu con, tương đương với tổng trọng lượng hơn 327 nghìn tấn, trong đó có 3.681 xã thuộc 412 huyện của 56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dịch bệnh đã qua 30 ngày.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Mười, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 29 nghìn ha, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 206,7 nghìn ha, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 67,9 triệu cây, giảm 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt gần 13 triệu m3, tăng 4,6%; sản lượng củi khai thác đạt 15,6 triệu ste, giảm 1,4%.

Diện tích rừng bị thiệt hại tháng 10/2019 là 55,7 ha, tăng 49,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1,7 ha, giảm 63,9%; diện tích rừng bị chặt, phá là 54 ha, tăng 65,4%. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 3,2 nghìn ha, gấp 3 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2,7 nghìn ha, gấp gần 5 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 517 ha, tăng 2%.

c) Thủy sản

Trong tháng Mười, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 733,8 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 427,4 nghìn tấn, tăng 6,7%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 306,4 nghìn tấn, tăng 3,6%. Tính chung 10 tháng năm 2019, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.698,7 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.541,4 nghìn tấn, tăng 6,2%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.157,3 nghìn tấn, tăng 4,4%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2019 đạt mức tăng trưởng khá nhờ sự tăng trưởng tích cực của ngành chế biến, chế tạo và sự phát triển ổn định của ngành sản xuất và phân phối điện; ngành khai khoáng tăng nhẹ nhờ khai thác than tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10/2019 ước tính tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm nhẹ 0,2%; chế biến, chế tạo tăng khá 10,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,9%.

Tính chung 10 tháng năm 2019, IIP ước tính tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,3% của cùng kỳ năm 2018. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 1,2% (cùng kỳ năm trước giảm 2,3%), đóng góp 0,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8% (cùng kỳ năm trước tăng 12,5%), đóng góp 8,3 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,9%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Mười, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt mức cao với hơn 12 nghìn doanh nghiệp, đặc biệt số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng mạnh, gấp 3 lần tháng trước và tăng 109,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 10/2019, cả nước có 12.182 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 143,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 94,7 nghìn lao động, tăng 3,4% về số doanh nghiệp, tăng 2,5% về vốn đăng ký và giảm 3% về số lao động so với tháng 9/2019. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 11,8 tỷ đồng, giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước còn có 7.247 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, gấp 3 lần tháng trước và tăng 109,9% so với cùng kỳ năm trước; 2.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 37,1% và tăng 9,2%; 5.012 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 84,5% và tăng 97,9%; 1.410 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 7,3% và giảm 20,4%.

Tính chung 10 tháng năm 2019, cả nước có 114,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.434,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.024,5 nghìn lao động, tăng 4,4% về số doanh nghiệp, tăng 28,5% về vốn đăng ký và tăng 10,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng đạt 12,5 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.893,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 33,1 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm 2019 là 3.327,8 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 34,9 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 24,8% so với cùng kỳ năm 2018, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng 2019 lên 149,3 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có hơn 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Tính chung 10 tháng, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 26,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2018; số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể 34,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 34,8%, trong đó có 14,3 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 13,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 1,3%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước tháng Mười và 10 tháng năm 2019 vẫn đạt mức thấp so với các năm trong giai đoạn 2015-2019 mặc dù đã được đẩy mạnh theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trong khi đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục giữ đà phát triển với số vốn thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười ước tính đạt 37 nghìn tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 260,4 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2% kế hoạch năm và tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 bằng 70,3% và tăng 12,1%), gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 36,6 nghìn tỷ đồng, bằng 61,3% kế hoạch năm và giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 223,8 nghìn tỷ đồng, bằng 70,6% kế hoạch năm và tăng 10,8%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/10/2019 thu hút 3.094 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 12,8 tỷ USD, tăng 25,9% về số dự án và giảm 14,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 1.145 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5,4 tỷ USD, giảm 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 10 tháng năm nay đạt 18,3 tỷ USD, giảm 15,2% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng ước tính đạt 16,2 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong 10 tháng còn có 7.509 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 10,8 tỷ USD, tăng 70,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 1.673 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 6,5 tỷ USD và 5.836 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị gần 4,3 tỷ USD.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 10 tháng năm nay có 128 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 311,9 triệu USD, đồng thời có 28 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 100 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 10 tháng năm 2019 đạt 411,9 triệu USD.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Hoạt động thương mại dịch vụ trong nước giữ ổn định, nguồn cung hàng hóa được bảo đảm mặc dù giá hàng hóa trong tháng có biến động tăng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2019 ước tính đạt 427,05 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 217,05 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước đang dần khẳng định vị thế với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 16,2%, cao hơn nhiều tốc độ tăng 10 tháng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (3,9%). Cán cân thương mại hàng hóa 10 tháng ước tính xuất siêu 7 tỷ USD.

Hoạt động vận tải trong tháng Mười và 10 tháng năm 2019 tiếp tục duy trì mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là ngành đường bộ và đường hàng không. Về hoạt động du lịch, tháng Mười là tháng đầu tiên có lượng khách quốc tế đến nước ta đạt trên 1,6 triệu lượt người, trong đó khách đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm gần 56% lượng khách quốc tế đến Việt Nam.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 425,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.059,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 12,1%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,9%; cùng kỳ năm 2017 tăng 8,8%).

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 9/2019 đạt 23.357 triệu USD, cao hơn 357 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng 10/2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 22,40 tỷ USD, giảm 4,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,88 tỷ USD, giảm 2,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,52 tỷ USD, giảm 4,7%. Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 217,05 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 66,63 tỷ USD, tăng 16,2%, chiếm 30,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 150,42 tỷ USD, tăng 3,9%, chiếm 69,3% (tỷ trọng giảm 2,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Trong 10 tháng năm 2019 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; có 5 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,4%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 9/2019 đạt 21.749 triệu USD, thấp hơn 751 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Mười, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 22,50 tỷ USD, tăng 3,5% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,25 tỷ USD, tăng 5,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,25 tỷ USD, tăng 1,9%. Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 210 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 87,9 tỷ USD, tăng 13%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 122,1 tỷ USD, tăng 4,4%. Trong 10 tháng có 32 mặt hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 88,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; có 2 mặt hàng đạt trên 20 tỷ USD, chiếm 34,7%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 10 tháng năm 2019, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 191,3 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 91,1% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 18,7 tỷ USD, tăng 14,7% và chiếm 8,9% (tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2018).

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Chín xuất siêu 1,6 tỷ USD[1]; 9 tháng xuất siêu 7,1 tỷ USD; tháng Mười ước tính nhập siêu 100 triệu USD. Tính chung 10 tháng năm 2019 ước tính xuất siêu 7 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 21,3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 28,3 tỷ USD.

Vận tải hành khách tháng Mười ước tính đạt 438,9 triệu lượt khách, tăng 0,7% so với tháng trước và 20,6 tỷ lượt khách.km, tăng 0,6%. Tính chung 10 tháng năm 2019, vận tải hành khách đạt 4.230,5 triệu lượt khách, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước và 204,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,4%. Vận tải hàng hóa tháng 10/2019 ước tính đạt 143,2 triệu tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và 27,6 tỷ tấn.km, tăng 0,5%. Tính chung 10 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.387,7 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 265,5 tỷ tấn.km, tăng 7,4%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt 1.618,3 nghìn lượt người, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 14.488,8 nghìn lượt người, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi làm giảm nguồn cung thịt lợn; điều chỉnh tăng giá xăng, dầu theo giá thế giới; điều chỉnh tăng giá dịch vụ giáo dục nhằm tiệm cận với giá thị trường là những yếu tố chủ yếu làm chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2019 tăng 0,59% so với tháng trước, bình quân 10 tháng tăng 2,48% so với cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân 10 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2019 tăng 0,59% so với tháng trước, là mức tăng cao nhất của tháng 10 trong 3 năm gần đây. CPI bình quân 10 tháng năm 2019 tăng 2,48% so với bình quân cùng kỳ năm 2018; CPI tháng 10/2019 tăng 2,79% so với tháng 12/2018 và tăng 2,24% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 10/2019 tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm 2019 tăng 1,92% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2019 giảm 0,57% so với tháng trước; tăng 17,38% so với tháng 12/2018 và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2019 tăng 0,03% so với tháng trước; giảm 0,46% so với tháng 12/2018 và giảm 0,56% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong 10 tháng năm 2019, cả nước có khoảng 68 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 33,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với gần 275,6 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 32,8%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói hơn 3,9 nghìn tấn gạo.

Trong 10 tháng năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 14.251 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 7.542 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 6.709 vụ va chạm giao thông, làm 6.318 người chết, 4.110 người bị thương và 6.763 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 47 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 22 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 14 người bị thương và 22 người bị thương nhẹ.

Thiên tai xảy ra trong tháng 10/2019 chủ yếu chủ yếu là mưa lớn, lốc xoáy, sét đánh, sạt lở và triều cường tại một số địa phương làm 9 người chết, 6 người bị thương; 40 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 6,6 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; 2,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng ước tính 118,4 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, thiên tai làm 125 người chết và mất tích, 170 người bị thương; 1.461 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 66,1 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; hơn 65,1 nghìn ha lúa và 19,5 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai xảy ra trong 10 tháng ước tính hơn 4,7 nghìn tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tháng Chín ước tính xuất siêu 0,5 tỷ USD.