1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV năm 2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,90%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65% và khu vực dịch vụ tăng 7,61%. Tăng trưởng quý IV/2018 thấp hơn tốc độ tăng trưởng quý IV/2017 nhưng cao hơn tăng trưởng quý IV các năm 2011-2016[1]. Xét về góc độ sử dụng GDP quý IV năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 9,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10,69%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,50%.

GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây[2], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012-2018[3], khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bán sản phẩm ổn định cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng là động lực chính thúc đẩy sản xuất của khu vực này. Trong đó, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,89%, là mức tăng cao nhất của giai đoạn 2012-2018[4], đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,46%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6,01% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2018 duy trì mức tăng trưởng khá với 8,79%, đóng góp 2,85 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng của khu vực này và là động lực chính của tăng trưởng với mức tăng cao 12,98%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm 2012-2016[5], đóng góp 2,55 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm (giảm 3,11%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế nhưng mức giảm đã được thu hẹp đáng kể so với mức giảm 7,1% của năm trước. Ngành xây dựng năm nay duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 9,16%, đóng góp 0,65 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ năm nay tăng 7,03%, tuy thấp hơn mức tăng 7,44% của năm trước nhưng cao hơn so với các năm 2012-2016[6]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm năm 2018 như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,92 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,21%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,78%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,85%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,33%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm.

Quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017. Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,98% (cơ cấu tương ứng của năm 2017 là: 15,34%; 33,40%; 41,26%; 10,0%).

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%.

Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện: Năm 2018, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,50%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD/lao động, tăng 346 USD so với năm 2017)[7]; năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2016 và xấp xỉ mức tăng 6,02% của năm 2017 do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2018 tăng cao.

Hiệu quả đầu tư được cải thiện với nhiều năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017 và 5,97 năm 2018, bình quân giai đoạn 2016-2018 hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

      a) Nông nghiệp

Sản lượng lúa năm 2018 ước tính đạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24 triệu tấn so với năm 2017; năng suất đạt 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha; diện tích đạt 7,57 triệu ha, giảm 134,8 nghìn ha.

Trong sản xuất lúa, vụ đông xuân năm nay cả nước gieo cấy được 3,1 triệu ha, giảm 15 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất. Năng suất toàn vụ ước tính đạt 66,4 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha; sản lượng đạt 20,6 triệu tấn, tăng 1,19 triệu tấn.

Diện tích gieo cấy lúa hè thu năm 2018 đạt 2,05 triệu ha, giảm 0,7% so với vụ hè thu năm 2017, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long mặc dù diện tích giảm nhưng do năng suất đạt 54,8 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha nên sản lượng đạt 8,8 triệu tấn, tăng 15,1 nghìn tấn.

Diện tích lúa thu đông tại Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 732,1 nghìn ha, giảm 78,1 nghìn ha so với năm 2017; năng suất ước tính đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha; sản lượng đạt 3,9 triệu tấn, giảm 343,2 nghìn tấn.

Diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1,68 triệu ha, giảm 28,1 nghìn ha so với vụ mùa năm trước; năng suất ước tính đạt 49,1 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 8,26 triệu tấn, tăng 403 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm: Sản lượng ngô đạt 4,91 triệu tấn, giảm 203,7 nghìn tấn so với năm 2017 do diện tích gieo trồng giảm 60,5 nghìn ha (năng suất ngô tăng 0,7 tạ/ha). Sản lượng khoai lang đạt 1,37 triệu tấn, tăng 15,8 nghìn tấn (diện tích giảm 3,9 nghìn ha); mía đạt 17,84 triệu tấn, giảm 519,9 nghìn tấn (diện tích giảm 12 nghìn ha); sản lượng sắn đạt 9,94 triệu tấn, giảm 327,8 nghìn tấn (diện tích giảm 17,3 nghìn ha); lạc đạt 458,7 nghìn tấn, giảm 0,9 nghìn tấn (diện tích giảm 9,9 nghìn ha); đậu tương đạt 80,8 nghìn tấn, giảm 20,9 nghìn tấn (diện tích giảm 15,3 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 17,09 triệu tấn, tăng 622,5 nghìn tấn (diện tích tăng 23,3 nghìn ha); sản lượng đậu các loại đạt 155 nghìn tấn, giảm 8,1 nghìn tấn (diện tích giảm 7,1 nghìn ha).

Năm 2018, diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm ước tính đạt 3.482,3 nghìn ha, tăng 2,3% so với năm 2017, trong đó diện tích cao su đạt 965,4 nghìn ha, giảm 0,4% so với năm trước, sản lượng cả năm đạt 1.141,9 nghìn tấn, tăng 4,3%; hồ tiêu diện tích đạt 149,9 nghìn ha, tăng 0,1%, sản lượng đạt 255,4 nghìn tấn, tăng 1,1%; cà phê diện tích đạt 688,4 nghìn ha, tăng 1,6%, sản lượng đạt 1.626,2 nghìn tấn, tăng 3,1%; điều diện tích đạt 301 nghìn ha, tăng 0,4%, sản lượng đạt 260,3 nghìn tấn, tăng 20,6%; chè diện tích đạt 123,7 nghìn ha, tăng 0,6%, sản lượng chè búp đạt 987,3 nghìn tấn, tăng 1,6%. Sản lượng cây ăn quả năm nay đạt khá do nhiều cây trồng tăng về diện tích và có thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định. Sản lượng cam, quýt, bưởi đạt 1.697,9 nghìn tấn, tăng 10,9% so với năm trước; xoài đạt 788,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; thanh long đạt 1.074,2 nghìn tấn, tăng 12,8%; dứa đạt 674 nghìn tấn, tăng 9,1%. Riêng sản lượng nhãn, vải đạt cao do điều kiện thời tiết thuận lợi.

Tính đến tháng 12/2018, đàn trâu cả nước giảm 2,8% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò tăng 2,7%, đàn lợn tăng 3,2%; đàn gia cầm tăng 6,1%. Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá. Sản lượng thịt trâu đạt 92,1 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt bò đạt 334,5 nghìn tấn, tăng 4%; sản lượng thịt lợn đạt 3,8 triệu tấn, tăng 2,2%; sản lượng thịt gia cầm đạt 1,1 triệu tấn, tăng 6,4%; sản lượng trứng gia cầm đạt 11,6 tỷ quả, tăng 9,5%. Sản lượng sữa bò cả năm 2018 đạt 936 nghìn tấn, tăng 6,2% so với năm 2017.

        b) Lâm nghiệp

Trong quý IV/2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 77,4 nghìn ha, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 26,6 triệu cây, giảm 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.723 nghìn m3, tăng 7,4%; sản lượng củi khai thác đạt 5 triệu ste, tăng 0,3%.

Tính chung cả năm 2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 238,6 nghìn ha, giảm 1,2% so với năm 2017; số cây lâm nghiệp trồng phân tán cả năm đạt 85,8 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng gỗ khai thác ước tính đạt 12,8 triệu m3, tăng 9,6%; sản lượng củi khai thác đạt 23,7 triệu ste, giảm 1,2%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 1.283,3 ha, giảm 17,8% so với năm 2017, trong đó diện tích rừng bị cháy là 739,1 ha, tăng 41,7%; diện tích rừng bị chặt phá là 544,2 ha, giảm 47,6%.

        c) Thủy sản

Sản lượng thuỷ sản cả năm ước tính đạt 7.756,5 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm trước (quý IV đạt 2.106,4 nghìn tấn, tăng 6,4%), trong đó cá đạt 5.602,8 nghìn tấn, tăng 6,7%; tôm đạt 966,1 nghìn tấn, tăng 7%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả năm ước tính đạt 4.153,8 nghìn tấn, tăng 6,7% so với năm 2017 (quý IV đạt 1.228,2 nghìn tấn, tăng 6,9%), trong đó cá đạt 2.902,5 nghìn tấn, tăng 6,9%; tôm đạt 804,3 nghìn tấn, tăng 8,1%. Diện tích nuôi cá tra năm 2018 ước tính đạt 22,4 nghìn ha, giảm 0,9% so với năm trước. Sản lượng tôm sú ước tính đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 492,3 nghìn tấn, tăng 10%.

Sản lượng thủy sản khai thác cả năm ước tính đạt 3.602,7 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2017 (quý IV đạt đạt 878,2 nghìn tấn, tăng 5,7%), trong đó cá đạt 2.700,3 nghìn tấn, tăng 6,4%, tôm đạt 161,8 nghìn tấn, tăng 1,8%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2018 ước tính tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 13,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,7%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,6%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,2% so với năm trước (quý I tăng 12,7%, quý II tăng 8,2%, quý III tăng 10,7% và quý IV tăng 9,4%), thấp hơn mức tăng 11,3% của năm 2017. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,3% (mặc dù thấp hơn mức tăng 14,7% của năm 2017 nhưng vẫn cao hơn mức tăng của các năm 2012-2016[8]), đóng góp 9,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng của dân cư với mức tăng 10%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2% (chủ yếu do khai thác dầu thô giảm 11,3%), làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong năm 2018, một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao so với năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 65,5%; sản xuất kim loại tăng 25,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 20%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 14%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,7%; dệt tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,3%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,3%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 3,1%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 2,8%; khai thác quặng kim loại tăng 1,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,4% (khai thác dầu thô giảm 11,3% và khai thác khí đốt tự nhiên tăng 1,1%).

Tính chung năm 2018, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,4% so với năm trước (năm 2017 tăng 10,2%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2018 tăng 14,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2017 tăng 9,5%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân năm 2018 là 64,4%, đạt mức tồn kho thấp nhất trong những năm gần đây[9].

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

      a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017[10]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 11,3 tỷ đồng, tăng 10,2%. Nếu tính cả 2.408,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm 2018 là 3.886,9 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 34.010 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,6% so với năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm nay lên gần 165,3 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới năm 2018 là 1.107,1 nghìn người, giảm 4,7% so với năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong năm 2018 là 90.651 doanh nghiệp, tăng 49,7% so với năm trước, bao gồm 27.126 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 25,1% và 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 63,4%[11]. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2018 là 16.314 doanh nghiệp, tăng 34,7% so với năm trước, trong đó 14.880 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,2% và tăng 34,2%.

      b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2018 cho thấy: Có 44,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2018 tốt hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý I/2019 so với quý IV/2018, có 47,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 14,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 37,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2018 ước tính đạt 4.395,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4% (năm 2017 tăng 9,3%), trong đó quý IV/2018 đạt 1.161,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4% so với quý trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2018 ước tính đạt 3.306,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,2% tổng mức và tăng 12,4% so với năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính đạt 539,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% và tăng 9,1%; doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 41 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% và tăng 14,1% so với năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 509,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% và tăng 9,8%.

Vận tải hành khách trong quý IV năm nay đạt 1.195,6 triệu lượt khách, tăng 11,3% so với quý IV năm trước và 52,9 tỷ lượt khách.km, tăng 11%; vận tải hàng hóa đạt 423,3 triệu tấn, tăng 10,1% và 80 tỷ tấn.km, tăng 7,1%.

Tính chung cả năm 2018, vận tải hành khách đạt 4.641,5 triệu lượt khách, tăng 10,7% so với năm trước và 207,1 tỷ lượt khách.km, tăng 10,9%; vận tải hàng hóa đạt 1.634,7 triệu tấn, tăng 10% và 306,4 tỷ tấn.km, tăng 7,6%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý IV/2018 ước tính đạt 107,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, tính chung cả năm 2018 đạt 395,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3%. Tính đến cuối năm 2018, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 129,9 triệu thuê bao, tăng 2,3% so với năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 125,6 triệu thuê bao, tăng 3,8%; số thuê bao Internet băng rộng cố định ước tính đạt gần 13 triệu thuê bao, tăng 19,2% so với năm 2017.

Khách quốc tế đến nước ta trong quý IV/2018 đạt 3.881,3 nghìn lượt người, tăng 11,7% so cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2018, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 15,5 triệu lượt người, tăng 19,9% so với năm trước (tăng 2,6 triệu lượt khách); trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 12,5 triệu lượt người, tăng 14,4%; đến bằng đường bộ đạt 2,8 triệu lượt người, tăng 59,6%; đến bằng đường biển đạt 215,3 nghìn lượt người, giảm 16,8%. Khách từ châu Á đạt 12.075,5 nghìn lượt người,  tăng 23,7% so với năm trước; khách đến từ châu Âu đạt 2.037,9 nghìn lượt người, tăng 8,1%; khách đến từ châu Mỹ đạt 903,8 nghìn lượt người, tăng 10,6% so với năm 2017; khách đến từ châu Úc đạt 437,8 nghìn lượt người, tăng 4%; khách đến từ châu Phi đạt 42,8 nghìn lượt người, tăng 19,2%.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/12/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 11,34% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm 2017 tăng 14,19%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 11,56% (cùng kỳ năm 2017 tăng 14,5%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 13,30% (cùng kỳ năm trước tăng 16,96%).

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2018 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, ước tính tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 26%, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 13%. Ước tính doanh thu bảo hiểm năm 2018 đạt 133,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bảo hiểm nhân thọ đạt 88 nghìn tỷ đồng, tăng 32,8%, bảo hiểm phi nhân thọ 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9%.

  1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 1.856,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước (quý IV đạt 606,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5%), bằng 33,5% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 619,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,3% tổng vốn và tăng 3,9% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 803,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% và tăng 18,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 434,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% và tăng 9,6%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2018 ước tính đạt 324,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,3% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với năm trước (năm 2017 bằng 93,9% và tăng 6,6%), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 59,3 nghìn tỷ đồng, bằng 89,9% kế hoạch năm và giảm 6,1% so với năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 265,6 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8% kế hoạch năm và tăng 17,7%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/12/2018 thu hút 3.046 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 17.976,2 triệu USD, tăng 17,6% về số dự án và giảm 15,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 1.169 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7.596,7 triệu USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong năm 2018 đạt 25.572,9 triệu USD, giảm 13,9% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2018 ước tính đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2017. Trong năm 2018 còn có 6.496 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 9,89 tỷ USD, tăng 59,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 1.113 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,25 tỷ USD và 5.383 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 5,64 tỷ USD.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2018 có 149 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 376,2 triệu USD; 35 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 56 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) năm 2018 đạt 432,2 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 24,5% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 82,9 triệu USD, chiếm 19,2%; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 52,3 triệu USD, chiếm 12,1%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 52,1 triệu USD, chiếm 12%. Trong năm nay có 38 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 81,5 triệu USD, chiếm 18,9% tổng vốn đầu tư; Ô-xtrây-li-a 55,5 triệu USD, chiếm 12,8%; Hoa Kỳ 53 triệu USD, chiếm 12,3%.

  1. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 1.012,3 nghìn tỷ đồng, bằng 92,1%; thu từ dầu thô 59,4 nghìn tỷ đồng, bằng 165,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 195,9 nghìn tỷ đồng, bằng 109,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,1 nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 874,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93%; chi đầu tư phát triển 260,2 nghìn tỷ đồng, bằng 65,1%; chi trả nợ lãi 102,2 nghìn tỷ đồng, bằng 90,8%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

      a) Xuất khẩu hàng hóa

Tính chung cả năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,20 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,52 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7% (giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017). Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 tăng 12,7% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD (Điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5%; hàng dệt may đạt 30,4 tỷ USD, tăng 16,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 29,4 tỷ USD, tăng 13,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD, tăng 28%; giày dép đạt 16,3 tỷ USD, tăng 11%). Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,1%; hàng dệt may 59,9%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản trong năm 2018 cũng tăng khá: Thủy sản đạt 8,8 tỷ USD, tăng 6,3%; rau quả đạt 3,8 tỷ USD, tăng 9,2%; cà phê đạt 3,5 tỷ USD, tăng 1,2% (lượng tăng 20,1%); gạo đạt 3,1 tỷ USD, tăng 16% (lượng tăng 4,6%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với năm trước: Hạt điều đạt 3,4 tỷ USD, giảm 3,9% (lượng tăng 6,2%); cao su đạt 2,1 tỷ USD, giảm 6,1% (lượng tăng 14,5%); hạt tiêu đạt 757 triệu USD, giảm 32,2% (lượng tăng 8,1%). Dầu thô tính chung cả năm 2018 tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 2,3 tỷ USD, giảm 21,2% (lượng giảm 39,5%).

         b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu cả năm 2018 ước tính đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm trước (quý IV đạt 64,37 tỷ USD, tăng 11,2%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 94,80 tỷ USD, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 142,71 tỷ USD, tăng 11,6%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu cả năm tăng 9,5% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó có 4 mặt hàng trên 10 tỷ USD. Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng so với năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 42,5 tỷ USD, tăng 12,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,7 tỷ USD, giảm 0,5%; điện thoại và linh kiện đạt 16 tỷ USD, giảm 2,6%; vải đạt 12,9 tỷ USD, tăng 13,5%; sắt thép đạt 9,9 tỷ USD, tăng 9%; chất dẻo đạt 9,1 tỷ USD, tăng 20%; xăng dầu đạt 7,6 tỷ USD, tăng 7,8%; kim loại thường đạt 7,3 tỷ USD, tăng 24,9%; sản phẩm chất dẻo đạt 5,9 tỷ USD, tăng 8,1%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 5,7 tỷ USD, tăng 5,7%; hóa chất đạt 5,2 tỷ USD, tăng 25,2%.

Cán cân thương mại cả năm 2018 tiếp tục xuất siêu 7,2 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,8 tỷ USD. Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực khi đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017[12].

        c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2018 ước tính đạt 14,8 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017 (quý IV đạt 3,7 tỷ USD, tăng 9,3%), trong đó dịch vụ du lịch đạt 10,1 tỷ USD (chiếm 68,1% tổng kim ngạch), tăng 13,4%; dịch vụ vận tải đạt 2,9 tỷ USD (chiếm 19,5%), tăng 14,6%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2018 ước tính đạt 18,5 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm trước (quý IV 4,6 tỷ USD, tăng 5,7%), trong đó dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 47,8% tổng kim ngạch), tăng 7,5%; dịch vụ du lịch đạt 5,7 tỷ USD (chiếm 31%), tăng 13,7%. Nhập siêu dịch vụ trong năm 2018 là 3,7 tỷ USD, bằng 24,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá

      a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 giảm 0,25% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông giảm nhiều nhất với 4,88% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 6/12/2018 và 21/12/2018 làm giá xăng, dầu giảm 10,77% (tác động CPI chung giảm 0,45%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,89% do giá gas trong tháng giảm 9,64%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Mười Hai tăng so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 5,76% (dịch vụ y tế tăng 7,53%) do giá dịch vụ y tế điều chỉnh tăng theo Thông tư số 39/2018/TT/BYT ngày 30/11/2018 (làm CPI chung tăng 0,29%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05% (lương thực tăng 0,17%; thực phẩm giảm 0,02%); nhóm bưu chính viễn thông và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch cùng tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Riêng nhóm giáo dục giá không đổi so với tháng trước.

Tính chung quý IV/2018, CPI tăng 0,6% so với quý trước và tăng 3,44% so với quý IV/2017. CPI bình quân năm 2018 tăng 3,54% so với bình quân năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra. CPI tháng 12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2018 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017.

        b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 12/2018 tăng 0,41% so với tháng trước; giảm 0,41% so với cùng kỳ năm 2017; bình quân năm 2018 tăng 2,36% so với năm 2017. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2018 giảm 0,07% so với tháng trước và tăng 2,69% so với cùng kỳ năm 2017; bình quân năm 2018 tăng 1,29% so với năm 2017.

       c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2018 tăng 0,8% so với quý trước và tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,4% và tăng 2,8%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,23% và tăng 3,07%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,98% so với năm 2017; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 3,09%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,98%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa năm 2018 tăng 0,9% so với năm 2017 (quý IV giảm 0,44% so với quý trước và tăng 0,44% so với cùng kỳ năm trước); chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,82% so với năm 2017 (quý IV tăng 0,31% so với quý trước và tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước). Tỷ giá thương mại hàng hoá năm 2018 giảm 0,9% so với năm 2017 (quý IV giảm 0,74% so với quý trước và giảm 1,62% so với cùng kỳ năm trước).

  1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,67 triệu người, bao gồm dân số thành thị 33,83 triệu người, chiếm 35,7%; dân số nông thôn 60,84 triệu người, chiếm 64,3%; dân số nam 46,79 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,88 triệu người, chiếm 50,6%. Tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,05 con/phụ nữ và ở dưới mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 115,1 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 14,58‰; tỷ suất chết thô là 6,82‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 14,24‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 21,38‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2018 là 73,5 năm, trong đó nam là 70,9 năm và nữ là 76,2 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2018 là 55,4 triệu người, tăng 566,2 nghìn người so với năm 2017 (quý IV là 55,7 triệu người, tăng 530,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước); lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,7 triệu người, tăng 549,8 nghìn người.

Tỷ lệ thất nghiệp chung năm 2018 ước tính là 2,0%, trong đó khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%.

Trong năm 2018, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 1,46% (quý I/2018 là 1,52%; quý II là 1,43%; quý III là 1,45%; quý IV là 1,44%), trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,85%.

  1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư năm nay nhìn chung được cải thiện. Thu nhập bình quân một người một tháng năm 2018 ước tính đạt 3,76 triệu đồng (tăng 660 nghìn đồng so với năm 2016), bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 10,2%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017. Thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với năm 2017, năm 2018 cả nước có 105 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 42,1% tương ứng với 420 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 43,7%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và hơn 1,6 tỷ đồng.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 2018 là 4.977 tỷ đồng, bao gồm 2.792 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.487 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 698 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 23,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

  1. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2018-2019, cả nước có 5,3 triệu trẻ em bậc mầm non (0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); 16,6 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 8,4 triệu học sinh tiểu học; 5,6 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,6 triệu học sinh trung học phổ thông và 1,5 triệu sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp[13].

Hiện nay, cả nước có 1.954 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 394 trường cao đẳng, 515 trường trung cấp và 1.045 trung tâm giáo dục thường xuyên. Đào tạo nghề năm 2018 đã tuyển mới được 2.210 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 545 nghìn người; trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo nghề khác tuyển sinh được 1.665 nghìn người. Bên cạnh đó, trong năm 2018 đã có 800 nghìn lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề theo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

  1. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Tính chung năm 2018, cả nước có 125,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (16 trường hợp tử vong); 127,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 628 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 760 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (21 trường hợp tử vong); 33 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong); 673 trường hợp mắc bệnh ho gà (2 trường hợp tử vong); 77 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 2 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 72 trường hợp tử vong do bệnh dại và 84 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 3.174 người bị ngộ độc, trong đó 11 người tử vong.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/12/2018 là 208,8 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 94,9 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,16 nghìn người.

  1. Hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa năm 2018 tập trung chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Các sự kiện được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm và hiệu quả; thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, tổ chức phát động trẻ em toàn quốc học bơi phòng, chống tai nạn đuối nước, Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao các cấp và Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018. Trong hoạt động thể thao thành tích cao năm 2018, thể thao Việt Nam đã giành được 391 huy chương vàng, 296 huy chương bạc, 235 huy chương đồng. Tại Đại hội Thể thao người khuyết tật châu Á lần thứ 3, đoàn thể thao Việt Nam giành được 8 huy chương vàng, 8 huy chương bạc, 24 huy chương đồng xếp vị trí thứ 12/44 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự; tại Đại hội thể thao Châu Á (ASIAD) lần thứ 18 giành được 4 huy chương vàng, 16 huy chương bạc, 18 huy chương đồng, xếp thứ 17/45 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự.

  1. Tai nạn giao thông

Tính chung năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 18.232 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 9.446 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.786 vụ va chạm giao thông, làm 8.125 người chết; 5.124 người bị thương và 9.070 người bị thương nhẹ. So với năm trước, số vụ tai nạn giao thông năm nay giảm 9,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 14,8%); số người chết giảm 1,9%; số người bị thương giảm 8,3% và số người bị thương nhẹ giảm 20,8%. Bình quân 1 ngày trong năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông (giảm 5 vụ so với năm 2017), gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

  1. Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Thiên tai năm 2018 đã làm 218 người chết, mất tích và 157 người bị thương; 1.967 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 119 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái và ngập nước; hơn 260 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai năm 2018 ước tính 15,7 nghìn tỷ đồng.

Trong năm 2018, các cơ quan chức năng đã phát hiện 13.929 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 12.759 vụ với tổng số tiền phạt hơn 200 tỷ đồng. Trong năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 4.075 vụ cháy, nổ, làm 112 người chết và 263 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1,7 nghìn tỷ đồng.

 

[1] Tăng trưởng GDP quý IV một số năm: Năm 2011 tăng 6,71%; năm 2012 tăng 5,57%; năm 2013 tăng 6,05%; năm 2014 tăng 6,96%; năm 2015 tăng 7,01%; năm 2016 tăng 6,68%; năm 2017 tăng 7,65%; năm 2018 tăng 7,31%.

[2] Tăng trưởng GDP một số năm: Năm 2008 tăng 5,66%, năm 2009 tăng 5,4%; năm 2010 tăng 6,42%; năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012 tăng 5,25%; năm 2013 tăng 5,42%; năm 2014 tăng 5,98%; năm 2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017 tăng 6,81%; năm 2018 tăng 7,08%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản một số năm: Năm 2012 tăng 2,92%; năm 2013 tăng 2,63%; năm 2014 tăng 3,44%; năm 2015 tăng 2,41%; năm 2016 tăng 1,36%; năm 2017 tăng 2,90%; năm 2018 tăng 3,76%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp một số năm: Năm 2012 tăng 2,57%; năm 2013 tăng 2,19%; năm 2014 tăng 2,51%; năm 2015 tăng 2,03%; năm 2016 tăng 0,72%; năm 2017 tăng 2,07%; năm 2018 tăng 2,89%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của một số năm: Năm 2012 tăng 9,05%; năm 2013 tăng 7,22%; năm 2014 tăng 7,41%; năm 2015 tăng 10,60%; năm 2016 tăng 11,90%; năm 2017 tăng 14,40%; năm 2018 tăng 12,98%.

[6] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ của một số năm: Năm 2012 tăng 6,71%; năm 2013 tăng 6,72%; năm 2014 tăng 6,16%; năm 2015 tăng 6,33%; năm 2016 tăng 6,98%; năm 2017 tăng 7,44%; năm 2018 tăng 7,03%.

[7] Năng suất lao động năm 2017 đạt 4.166 USD/lao động, tăng 314 USD so với năm 2016.

[8] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo các năm 2012-2016 lần lượt là: 5,5%; 7,6%; 8,7%; 10,5%; 11,3%.

[9] Tỷ lệ tồn kho các năm 2016-2018 lần lượt là: 65,4%; 65,9% và 64,4%.

[10] Năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 15,2% so với năm trước; số vốn đăng ký tăng 45,4%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 26,2%.

[11] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể tăng cao trong đó có nguyên nhân từ tháng 4/2018 các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[12] Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 18,5% so với năm trước, chiếm 27,7% tổng kim ngạch xuất khẩu;  khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 23,1%, chiếm 72,3%.

[13] Chỉ tính sinh viên cao đẳng và trung cấp sư phạm.