1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

      a. Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Mười, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.747,6 nghìn ha, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.133 nghìn ha, bằng 98,4%; các địa phương phía Nam đạt 614,6 nghìn ha, bằng 99%. Đến thời điểm trên, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 780,1 nghìn ha lúa mùa, chiếm 68,8% diện tích gieo cấy và bằng 98,4% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng thu hoạch 367,3 nghìn ha, chiếm 68,6% diện tích gieo cấy và bằng 91,8%. Năng suất lúa mùa trên diện tích đã thu hoạch ước tính đạt 49,7 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với vụ mùa năm trước. Tại các tỉnh phía Nam có 84,5 nghìn ha lúa mùa sớm đã cho thu hoạch, chiếm 13,8% diện tích xuống giống và bằng 98,8% cùng kỳ năm 2016.

Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trong cả nước đã thu hoạch được 2.104,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 99,9% cùng kỳ năm trước; năng suất ước tính đạt 54,5 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng đạt 11,5 triệu tấn, tăng 127,5 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 9,04 triệu tấn, tăng 20,1 nghìn tấn.

Tính đến giữa tháng Mười, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 753,7 nghìn ha lúa thu đông, bằng 99,3% cùng kỳ năm trước. Đến nay toàn vùng đã thu hoạch được 370,4 nghìn ha lúa thu đông, chiếm 49,1% diện tích gieo cấy và bằng 90,3% cùng kỳ năm trước. Nếu thời tiết từ nay tới cuối vụ thuận lợi, ước tính năng suất toàn vụ đạt 52 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha so với vụ thu đông năm trước.

Tiến độ gieo trồng một số cây hoa màu vụ đông chậm hơn cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của mưa bão vào cuối tháng Chín và đầu tháng Mười. Tính đến thời điểm 15/10/2017, cả nước gieo trồng được 81,5 nghìn ha ngô, bằng 86,4% cùng kỳ năm trước; 10,7 nghìn ha khoai lang, bằng 64,1%; 6,1 nghìn ha đậu tương, bằng 35,7%; 4,8 nghìn ha lạc, bằng 92,3%; 70,9 nghìn ha rau, đậu, bằng 83,1%.

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định, riêng chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn do giá thịt lợn vẫn ở mức thấp trong khi chi phí chăn nuôi không giảm khiến nhiều hộ nhỏ lẻ ngừng nuôi, các gia trại và trang trại có xu hướng giảm quy mô đàn. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,8%; đàn gia cầm tăng 5,5%; đàn lợn giảm 5,4%. Tính đến thời điểm 25/10/2017, cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

      b. Lâm nghiệp

Trong 10 tháng năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 184 nghìn ha, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 88,8 triệu cây, tăng 0,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 8.832 nghìn m3, tăng 7,4%; sản lượng củi khai thác đạt 23,3 triệu ste, tăng 0,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong 10 tháng là 1.366 ha, giảm 59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 471 ha, giảm 79,5%; diện tích rừng bị chặt, phá là 895 ha, giảm 12,9%.

     c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười ước tính đạt 677,3 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 366,9 nghìn tấn, tăng 5,4%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 310,4 nghìn tấn, tăng 4,3%. Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 5.800,7 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.040,5 nghìn tấn, tăng 4,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.760,2 nghìn tấn, tăng 4,7% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.597 nghìn tấn, tăng 4,9%).

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 2,1%; ngành chế biến, chế tạo tăng mạnh 22,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 12%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8%. Tính chung 10 tháng năm 2017, IIP tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,3% của cùng kỳ năm 2016 và mức tăng 7,9% của 9 tháng năm nay. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đà tăng cao với mức tăng 13,6%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,3%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,5%; riêng ngành khai khoáng giảm 7,4%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng năm 2017 tăng 12% so với cùng kỳ năm 2016. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/10/2017 tăng 8,8% so với cùng thời điểm năm trước; tỷ lệ tồn kho bình quân 9 tháng là 65,6%.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Mười, cả nước có 11.158 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 119,2 nghìn tỷ đồng, tăng 29,6% về số doanh nghiệp và tăng 48% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,7 tỷ đồng, tăng 14,2%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là gần 90 nghìn người, tăng 40,5%.

Tính chung 10 tháng năm nay, cả nước có 105.125 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.021,9 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% về số doanh nghiệp và tăng 43,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,7 tỷ đồng, tăng 25,5%. Nếu tính cả 1.414,5 nghìn tỷ đồng của hơn 29,5 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm 2017 là hơn 2.436 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 22.765 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng lên gần 128 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng là 976,4 nghìn người, giảm 8% so với cùng kỳ năm trước. Trong 10 tháng, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 9.794 doanh nghiệp, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 52.782 doanh nghiệp, tăng 4,1%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm nay ước tính đạt 221 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% kế hoạch năm và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2016, gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 50,3 nghìn tỷ đồng, bằng 71,2% và tăng 4,2%; vốn địa phương quản lý đạt 170,7 nghìn tỷ đồng, bằng 72,9% và tăng 8,3%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/10/2017 thu hút 2.070 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 16,3 tỷ USD, tăng 0,4% về số dự án và tăng 32,9% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 1.001 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7,2 tỷ USD, tăng 35,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 10 tháng năm 2017 lên 23,5 tỷ USD, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong 10 tháng năm 2017 có 4.156 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,7 tỷ USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 10 tháng đạt 28,2 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng ước tính đạt 14,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2016.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2017 ước tính đạt 865,6 nghìn tỷ đồng, bằng 71,4% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 679,2 nghìn tỷ đồng, bằng 68,6%; thu từ dầu thô 35,2 nghìn tỷ đồng, bằng 91,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 148,8 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2017 ước tính đạt 960,3 nghìn tỷ đồng, bằng 69,1% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên 696 nghìn tỷ đồng, bằng 77,7%; chi trả nợ lãi 79,9 nghìn tỷ đồng, bằng 80,8%; riêng chi đầu tư phát triển đạt 180,7 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 50,6% dự toán năm (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản 177,1 nghìn tỷ đồng, bằng 50,3%). Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2017 ước tính đạt 133,9 nghìn tỷ đồng, bằng 81,7% dự toán năm.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm nay ước tính đạt 3.258 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4% (cùng kỳ năm 2016 tăng 9%).

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười ước tính đạt 19,4 tỷ USD, tăng 0,3% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 173,7 tỷ USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 48,2 tỷ USD, tăng 17,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 125,5 tỷ USD, tăng 22,1%. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười ước tính đạt 18,5 tỷ USD, tăng 1,4% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 172,5 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 64,6 tỷ USD, tăng 11,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 107,9 tỷ USD, tăng 29,2%. Cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười ước tính xuất siêu 900 triệu USD, tính chung 10 tháng năm 2017 xuất siêu 1,23 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 16,40 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,63 tỷ USD.

Vận tải hành khách 10 tháng năm 2017 đạt 3.363,1 triệu lượt khách, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và 151,8 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3%. Vận tải hàng hóa 10 tháng đạt 1.189,4 triệu tấn, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước và 221,3 tỷ tấn.km, tăng 6,4%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt 1.024,9 nghìn lượt người, tăng 5% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 10.473,2 nghìn lượt người, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm 2016.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2017 tăng 0,41% so với tháng trước; CPI bình quân 10 tháng năm nay tăng 3,71% so với bình quân cùng kỳ năm 2016; CPI tháng 10/2017 tăng 2,25% so với tháng 12/2016 và tăng 2,98% so với cùng kỳ năm 2016.

Lạm phát cơ bản tháng 10/2017 tăng 0,06% so với tháng trước và tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm 2017 tăng 1,44% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2017 giảm 0,88% so với tháng trước; tăng 5,18% so với tháng 12/2016; tăng 1,39% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2017 giảm 0,03% so với tháng trước; giảm 0,07% so với tháng 12/2016 và tăng 1,67% so với cùng kỳ năm 2016.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong 10 tháng năm 2017, cả nước có 165,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 34,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 678,1 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 35,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 21,3 nghìn tấn lương thực và hơn 1 tỷ đồng.

Tính chung 10 tháng, cả nước đã xảy ra 16.167 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 7.894 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.273 vụ va chạm giao thông, làm 6.827 người chết, 4.052 người bị thương và 9.229 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 27 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 13 người bị thương và 30 người bị thương nhẹ.

Trong tháng 10/2017, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ và sạt lở đất đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản cho nhiều địa phương trong cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 109 người chết, mất tích và 49 người bị thương; gần 3,1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 73,2 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 98,8 nghìn ha lúa và 53,1 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 6,1 nghìn tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, thiên tai làm 280 người chết, mất tích và 283 người bị thương; 4,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 308 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 163,7 nghìn ha lúa và 101,4 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 10 tháng ước tính khoảng 29 nghìn tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ