1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2019 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 6,82% của quý I và 6,73% của quý II năm nay, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,53%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,05% và khu vực dịch vụ tăng 7,11%. Tăng trưởng của quý III năm nay tuy thấp hơn mức tăng 7,38% của quý III/2017 nhưng cao hơn mức tăng của quý III các năm 2012-2018[1]. Trên góc độ sử dụng GDP quý III/2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,46% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,44%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,36%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10,19%.

Tính chung 9 tháng năm 2019, GDP ước tính tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 9 tháng trong 9 năm gần đây[2]. Kết quả tăng trưởng khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2019. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,02% (cùng kỳ năm 2018 tăng 3,7%), đóng góp 4,8% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,36%, đóng góp 52,6%; khu vực dịch vụ tăng 6,85%, đóng góp 42,6%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đạt mức tăng trưởng thấp do thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng, kết quả sản xuất ngành chăn nuôi thiệt hại nặng nề bởi dịch tả lợn châu Phi, nông sản gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ và giá xuất khẩu. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 0,74%, chỉ cao hơn mức tăng 0,02% của cùng kỳ năm 2016 trong giai đoạn 2012-2019, đóng góp 0,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản đạt kết quả khá với mức tăng 6,12%, đóng góp 0,21 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 3,98% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 9 tháng duy trì mức tăng trưởng khá 9,56%, đóng góp 3,16 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng của khu vực này, là động lực chính của tăng trưởng toàn nền kinh tế với mức tăng cao 11,37%, đóng góp 2,42 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,68%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm. Ngành xây dựng 9 tháng duy trì mức tăng trưởng khá với tốc độ 8,33%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ 9 tháng năm nay tăng 6,85%, cao hơn mức tăng 6,75% của cùng kỳ năm 2018. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm 9 tháng như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,89 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,19%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,15%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,82%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,20% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,98%; khu vực dịch vụ chiếm 42,74%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,08% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2018 là: 13,94%; 33,50%; 42,51%; 10,05%).

Trên góc độ sử dụng GDP 9 tháng năm 2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,20% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 7,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,41%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,78%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

      a) Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước đạt 3.123,9 nghìn ha, tăng 21,8 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; năng suất đạt 65,5 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha; sản lượng toàn vụ đạt 20,5 triệu tấn, giảm 133,1 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Chín, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.558,1 nghìn ha, bằng 96,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.075,9 nghìn ha, bằng 97,4%; các địa phương phía Nam đạt 482,2 nghìn ha, bằng 94,5%. Diện tích gieo cấy lúa mùa miền Bắc năm nay đạt thấp do các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác, năng suất ước tính đạt 50,2 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước.

Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 2.009,3 nghìn ha, giảm 43,7 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước. Tính đến ngày 15/9/2019, các địa phương đã thu hoạch được 1.859 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 92,5% diện tích gieo cấy và bằng 98% cùng kỳ năm trước. Năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 54,8 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2018; sản lượng toàn vụ ước tính đạt 11 triệu tấn, giảm 197 nghìn tấn.

Đến giữa tháng Chín, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 607,1 nghìn ha lúa thu đông, bằng 104% cùng kỳ năm trước do năm nay nước lũ lên muộn và chậm nên tiến độ xuống giống vụ thu đông năm nay nhanh hơn năm trước.

Chăn nuôi lợn vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, đàn lợn cả nước tính đến tháng 9/2019 giảm 19% so với cùng thời điểm năm 2018; đàn trâu giảm 2,8%; đàn bò tăng 2,4%; đàn gia cầm tăng 10,5%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 2,5 triệu tấn, giảm 9% (quý III đạt 709,3 nghìn tấn, giảm 17%); sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước tính đạt 70,5 nghìn tấn, tăng 3,1% (quý III đạt 19,3 nghìn tấn, tăng 3,4%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 264,9 nghìn tấn, tăng 4,2% (quý III đạt 72,4 nghìn tấn, tăng 5,3%); sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước tính đạt 931,4 nghìn tấn, tăng 13,5% (quý III đạt 253 nghìn tấn, tăng 19,2%); sản lượng trứng gia cầm đạt 9,2 tỷ quả, tăng 10% (quý III đạt 2,4 tỷ quả, tăng 11,5%); sản lượng sữa bò đạt 768,7 nghìn tấn, tăng 9,3% (quý III đạt 260,4 nghìn tấn, tăng 11,6%).

        b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung quý III/2019 của cả nước ước tính đạt 66,5 nghìn ha, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 26,3 triệu cây, giảm 2,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.393 nghìn m3, tăng 4,8%; sản lượng củi khai thác đạt 4,8 triệu ste, giảm 0,8%. Tính chung 9 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 176,5 nghìn ha, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 60,7 triệu cây, giảm 2,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 11.413 nghìn m3, tăng 4,5%; sản lượng củi khai thác đạt 14 triệu ste, giảm 1,6%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý III/2019 là 2.374,3 ha, gấp 5,4 lần cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 3.059,7 ha, gấp 3,2 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2.641,7 ha, gấp gần 5 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 418 ha, giảm 2,5%.

       c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý III/2019 ước tính đạt 2.190,6 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 5.964,9 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.114 nghìn tấn, tăng 6,2%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.850,9 nghìn tấn, tăng 4,5%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2019 ước tính tăng 9,56% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 9%; quý II tăng 9,24%; quý III tăng 10,29%), là mức tăng cao nhất trong 4 năm trở lại đây[3]. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng của toàn ngành với mức tăng 11,37% (quý I tăng 11,52%; quý II tăng 10,9%; quý III tăng 11,68%), đóng góp 2,42 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,7%, đóng góp 0,5 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,43%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 2,68% sau 3 năm giảm liên tục[4], đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng năm 2019 tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 12,2%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2019 tăng 17,2% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 13,8%); tỷ lệ tồn kho bình quân 9 tháng là 72,1% (cùng kỳ năm trước là 63,8%).

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

     a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng 9/2019, cả nước có 11.787 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 140,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,5% về số doanh nghiệp và giảm 7,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,9 tỷ đồng, giảm 12,1%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 97,6 nghìn người, tăng 10,2%. Trong tháng, cả nước còn có 2.413 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 52% so với tháng trước; 1.521 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 26,8%; có 2.716 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 29,6%; 1.521 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 17,5%.

Trong quý III/2019, có 35,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 430,6 nghìn tỷ đồng, giảm 8,2% về số doanh nghiệp và giảm 11,2% về số vốn so với quý trước. Tính chung 9 tháng năm nay, cả nước có gần 102,3 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.290,8 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9% về số doanh nghiệp và tăng 34% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 26,6%. Nếu tính cả 1.730,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 9 tháng năm 2019 là 3.021,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 27,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng năm nay lên hơn 129,8 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đầu năm nay là 929,8 nghìn người, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 9 tháng năm nay là 21,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 28,2 nghìn doanh nghiệp, trong đó có 11,9 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 12,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 4,7%.

     b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2019 cho thấy: Có 43,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay tốt hơn quý trước; 18,3% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý IV/2019 có 52,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 12,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2019 ước tính đạt 1.246,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% so với quý trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 3.634,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,2% (cùng kỳ năm 2018 tăng 9,1%).

Vận tải hành khách quý III năm nay đạt 1.296,5 triệu lượt khách, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước và 63,2 tỷ lượt khách.km, tăng 10,1%. Tính chung 9 tháng năm 2019, vận tải hành khách đạt 3.792,5 triệu lượt khách, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và 177,2 tỷ lượt khách.km, tăng 9,8%. Vận tải hàng hóa quý III năm nay ước tính đạt 421,5 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 81,2 tỷ tấn.km, tăng 7,9%. Tính chung 9 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.244,5 triệu tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước và 237,9 tỷ tấn.km, tăng 7,5%

Doanh thu viễn thông quý III/2019 ước tính đạt 92,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,42% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,67%); ước tính 9 tháng năm 2019 đạt 277,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,23% (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,75%). Khách quốc tế đến nước ta trong 9 tháng năm 2019 ước tính đạt 12.870,5 nghìn lượt người, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến ngày 20/9/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,44% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,74%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 8,68% (cùng kỳ năm 2018 tăng 9,15%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 8,4% (cùng kỳ năm 2018 tăng 9,52%).

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý III/2019 ước tính tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng 20% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 22%, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý III/2019 theo giá hiện hành ước tính đạt 556,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1.378,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34,3% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 426,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 31% tổng vốn và tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 624,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,3% và tăng 16,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 327,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,7% và tăng 8,4%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2019 thu hút 2.759 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 10.973,4 triệu USD, tăng 26,4% về số dự án và giảm 22,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 1.037 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.789,8 triệu USD, giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 9 tháng năm nay đạt 15.763,2 triệu USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng còn có 6.502 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 10,4 tỷ USD, tăng 82,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 1.348 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 6,34 tỷ USD và 5.154 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,06 tỷ USD.

Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 9 tháng năm nay có 117 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 307,7 triệu USD; 27 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 124 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 9 tháng năm 2019 đạt 431,7 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2019 ước tính đạt 1.028,7 nghìn tỷ đồng, bằng 72,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 824,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3%; thu từ dầu thô 40,8 nghìn tỷ đồng, bằng 91,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 159,8 nghìn tỷ đồng, bằng 84,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2019 ước tính đạt 962,2 nghìn tỷ đồng, bằng 58,9% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 691,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2%; chi đầu tư phát triển 174,3 nghìn tỷ đồng, bằng 40,6%; chi trả nợ lãi 78,6 nghìn tỷ đồng, bằng 63%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

      a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 8/2019 đạt 25.885 triệu USD, cao hơn 1.385 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Chín, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 23,0 tỷ USD, giảm 11,1% so với tháng trước. Kim ngạch xuất khẩu quý III/2019 ước tính đạt 71,76 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 12,7% so với quý trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 194,30 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 59,57 tỷ USD, tăng 16,4%, chiếm 30,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,73 tỷ USD, tăng 5%, chiếm 69,3% (tỷ trọng giảm 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 8/2019 đạt 22.450 triệu USD, thấp hơn 350 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng 9/2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 22,5 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng trước. Kim ngạch nhập khẩu quý III/2019 đạt 67,48 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 6,3% so với quý trước. Tính chung 9 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 188,42 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 78,97 tỷ USD, tăng 14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 109,45 tỷ USD, tăng 5,5%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tám xuất siêu 3,4 tỷ USD[5];
8 tháng xuất siêu 5,4 tỷ USD; tháng Chín ước tính xuất siêu 0,5 tỷ USD. Tính chung 9 tháng năm 2019 ước tính xuất siêu 5,9 tỷ USD[6], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 25,3 tỷ USD.

         b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý III/2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 4,1 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2018; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,9 tỷ USD, giảm 1,7%.

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 9 tháng năm 2019 ước tính đạt 12 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó dịch vụ du lịch đạt 8,4 tỷ USD (chiếm 70,2% tổng kim ngạch), tăng 11%; dịch vụ vận tải đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 18,2%), tăng 1,3%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 9 tháng năm nay ước tính đạt 14,1 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 6,8 tỷ USD (chiếm 48,1% tổng kim ngạch), tăng 4,9%; dịch vụ du lịch đạt 4,4 tỷ USD (chiếm 31,4%), giảm 1,6%. Nhập siêu dịch vụ trong 9 tháng năm 2019 là 2,1 tỷ USD, bằng 17,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2019 tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 2,2% so với tháng 12/2018 và tăng 1,98% so với cùng kỳ năm 2018. CPI bình quân quý III/2019 tăng 0,48% so với quý trước và tăng 2,23% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 2,5% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Lạm phát cơ bản tháng 9/2019 tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 1,91% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 9/2019 tăng 3,25% so với tháng trước; tăng 18,05% so với tháng 12/2018; tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2019 giảm 0,11% so với tháng trước; giảm 0,49% so với tháng 12/2018 và giảm 0,39% so với cùng kỳ năm 2018.

  1. Một số tình hình xã hội

     a) Lao động và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước 9 tháng năm 2019 là 55,5 triệu người, tăng 310,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động 9 tháng năm 2019 là 48,9 triệu người, tăng 425,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm 9 tháng năm nay là 54,4 triệu người, bao gồm 19,1 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35% tổng số (giảm 3,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 15,9 triệu người, chiếm 29,2% (tăng 2,6 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 35,8% (tăng 0,6 điểm phần trăm).

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 9 tháng năm 2019 ước tính là 2,16% (quý I là 2,17%; quý II là 2,16%; quý III là 2,17%), trong đó khu vực thành thị là 3,11%; khu vực nông thôn là 1,66%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 9 tháng năm 2019 ước tính là 6,43%, trong đó khu vực thành thị là 10,63%; khu vực nông thôn là 4,69%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 9 tháng năm nay ước tính là 1,32% (quý I là 1,21%; quý II và quý III là 1,38%), trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,73%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,63% (tỷ lệ thiếu việc làm của 9 tháng năm 2018 tương ứng là 1,47%; 0,70%; 1,85%).

        b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 9 tháng năm 2019 nhìn chung được cải thiện, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng năm 2019 cả nước có 67,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 33% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 273,2 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 32%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 3,9 nghìn tấn lương thực.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 9 tháng khoảng 5,1 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã có hơn 20 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

        c) Tai nạn giao thông

Trong 9 tháng năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 12.675 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6.718 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 5.957 vụ va chạm giao thông, làm 5.659 người chết, 3.633 người bị thương và 5.986 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng năm nay giảm 4,3% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,1%; số vụ va chạm giao thông giảm 6,6%); số người chết giảm 5,9%; số người bị thương giảm 1% và số người bị thương nhẹ giảm 10%.

        d) Thiệt hại do thiên tai 

Thiên tai xảy ra trong 9 tháng năm nay làm 116 người chết và mất tích, 164 người bị thương; 1.421 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 59,6 nghìn ngôi nhà bị tốc mái và hư hỏng; 63,3 nghìn ha lúa và gần 19 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai xảy ra trong 9 tháng ước tính 4,6 nghìn tỷ đồng.

       e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong 9 tháng năm 2019, cơ quan chức năng đã phát hiện 9.129 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 8.292 vụ với tổng số tiền phạt 88,7 tỷ đồng và trên cả nước đã xảy ra 2.959 vụ cháy, nổ, làm 76 người chết và 124 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 1.057 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tăng trưởng GDP quý III một số năm: Năm 2012 tăng 5,39%; năm 2013 tăng 5,54%; năm 2014 tăng 6,07%; năm 2015 tăng 6,87%; năm 2016 tăng 6,56%; năm 2017 tăng 7,38%; năm 2018 tăng 6,82%; năm 2019: 7,31%.

[2] Tăng trưởng GDP 9 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 6,03%; năm 2012 tăng 5,10%; năm 2013 tăng 5,14%; năm 2014 tăng 5,53%; năm 2015 tăng 6,53%; năm 2016 tăng 5,99%; năm 2017 tăng 6,41%; năm 2018 tăng 6,96%; năm 2019: 6,98%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 9 tháng các năm 2016-2019 lần lượt là: 7,40%; 6,95%; 8,99%; 9,56%.

[4] Tốc độ tăng/giảm giá trị tăng thêm ngành khai khoáng 9 tháng các năm 2016-2019 lần lượt là: giảm 2,53%; giảm 8,08%; giảm 2,75%; tăng 2,68%.

[5] Tháng Tám ước tính xuất siêu 1,7 tỷ USD.

[6] Trong đó, 9 tháng năm 2019 xuất siêu sang EU đạt 20,1 tỷ USD, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 27,7 tỷ USD, tăng 50,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 20,9 tỷ USD, giảm 3,4%; nhập siêu từ ASEAN 4,7 tỷ USD, tăng 0,3%.