1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II năm 2019 ước tính tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,14% và khu vực dịch vụ tăng 6,85%. Tăng trưởng quý II/2019 thấp hơn tăng trưởng quý II/2018 chỉ 0,02 điểm phần trăm nhưng cao hơn tăng trưởng quý II các năm 2011-2017[1]. Trên góc độ sử dụng, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 7,54%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,38%.

GDP 6 tháng đầu năm 2019 tăng 6,76%, tuy thấp hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của 6 tháng các năm 2011-2017[2], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được Chính phủ ban hành để thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019; sự nỗ lực của các ngành, các địa phương trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,39%, đóng góp 6% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,93%, đóng góp 51,8%; khu vực dịch vụ tăng 6,69%, đóng góp 42,2%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp gặp khó khăn do dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng, biến đổi khí hậu, hạn hán xảy ra ở một số vùng nên chỉ tăng 1,3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3,07% của 6 tháng năm 2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,15% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản tăng trưởng khá ở mức 6,45% do nhu cầu thị trường tiêu thụ tăng cao và là mức tăng trưởng cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 9 năm trở lại đây[3], đóng góp 0,21 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 duy trì tăng trưởng khá ở mức 9,13%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng 11,18%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn so với mức tăng 6 tháng đầu năm của các năm 2012-2017[4], đóng góp 2,38 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,78%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2019 duy trì mức tăng trưởng khá với tốc độ 7,85%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2019 tăng 6,69%, tuy thấp hơn mức tăng 6,89% của 6 tháng đầu năm 2017 và năm 2018 nhưng cao hơn các năm 2012-2016[5]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,86 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,9%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,48%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,43%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,89%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,55% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,2%; khu vực dịch vụ chiếm 42,04%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,21% (Cơ cấu tương ứng cùng kỳ năm 2018 là: 14,13%; 33,83%; 41,8%; 10,24%).

Trên góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,05% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 7,12%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,06%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,98%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

      a) Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3.123,9 nghìn ha, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.117,1 nghìn ha, bằng 99,1%; các địa phương phía Nam đạt 2.006,8 nghìn ha, bằng 101,6%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 65,7 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, giảm 84,5 nghìn tấn.

Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, cả nước đã xuống giống được 1.881,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.502,7 nghìn ha, bằng 98,6%. Đến nay, đã có 193 nghìn ha lúa hè thu sớm tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thu hoạch, bằng 108,8% cùng kỳ năm 2018.

Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Chè đạt 462,5 nghìn tấn, tăng 5,4%; cao su đạt 372,7 nghìn tấn, tăng 5,9%; điều đạt 283,3 nghìn tấn, tăng 6,3%; hồ tiêu đạt 250,9 nghìn tấn, tăng 0,4%. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá: Chôm chôm đạt 208,4 nghìn tấn, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2018; xoài đạt 516,6 nghìn tấn, tăng 7,8%; dứa đạt 379,5 nghìn tấn, tăng 2,3%; cam đạt 312,3 nghìn tấn, tăng 3,8%.

Tính đến ngày 25/6/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 4.389 xã, 458 huyện của 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[6]. Tổng đàn lợn của cả nước tháng Sáu giảm 10,3% so với cùng kỳ năm trước; đàn trâu giảm 3,1%; đàn bò tăng 2,6%; đàn gia cầm tăng 7,5%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm đạt 1.801,2 nghìn tấn, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 796,8 nghìn tấn, giảm 12,4%); sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước tính đạt 51,2 nghìn tấn, tăng 3% (quý II đạt 24,8 nghìn tấn, tăng 3,8%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 192,5 nghìn tấn, tăng 3,8% (quý II đạt 93,2 nghìn tấn, tăng 5,2%); sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 660,9 nghìn tấn, tăng 8,6% (quý II đạt 322,7 nghìn tấn, tăng 11,3%); sản lượng trứng gia cầm đạt gần 7 tỷ quả, tăng 11,4% (quý II đạt 3,4 tỷ quả, tăng 12,3%); sản lượng sữa bò đạt 508,4 nghìn tấn, tăng 8,2% (quý II đạt 256,2 nghìn tấn, tăng 9%).

        b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung quý II/2019 của cả nước ước tính đạt 78,1 nghìn ha, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 18,7 triệu cây, giảm 6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.316 nghìn m3, tăng 4,3%; sản lượng củi khai thác đạt 5,3 triệu ste, giảm 1,9%. Tính chung 6 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 110 nghìn ha, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 34,4 triệu cây, giảm 3,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.030 nghìn m3, tăng 4,4%; sản lượng củi khai thác đạt 9,2 triệu ste, giảm 1,4%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý II/2019 là 523 ha, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị thiệt hại trong 6 tháng là 685,4 ha, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 402 ha, tăng 81,2%; diện tích rừng bị chặt, phá là 283,4 ha, tăng 1,2%.

       c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý II/2019 ước tính đạt 2.311,5 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 3.780,5 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.921,2 nghìn tấn, tăng 6,7%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1.859,3 nghìn tấn, tăng 5%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm ước tính tăng 9,13% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 9%; quý II tăng 9,24%), thấp hơn mức tăng 9,28% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 7,01% và 5,42% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng của toàn ngành với mức tăng 11,18% (quý I tăng 11,52%; quý II tăng 10,9%), đóng góp 7,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,63%, đóng góp 1,51 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,79%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 1,78% sau 3 năm giảm liên tục, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2019 tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 11,9%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/6/2019 ước tính tăng 16,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 11,4%); tỷ lệ tồn kho bình quân 6 tháng là 74,9% (cùng kỳ năm trước là 63,4%).

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

     a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[7]

Trong tháng 6/2019, cả nước có 12.960 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 190,5 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2% về số doanh nghiệp và tăng 49,7% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 14,7 tỷ đồng, tăng 23,5%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 111,8 nghìn người, tăng 26,9%. Trong tháng, cả nước còn có 2.137 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 13,2% so với tháng trước; 2.351 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 1,1%; có 2.931 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 40,3%; có 1.455 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 36,5%.

Trong quý II/2019, có 38,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 484,7 nghìn tỷ đồng, tăng 35,3% về số doanh nghiệp và tăng 29,1% về số vốn so với quý trước. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, cả nước có gần 67 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 860,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% về số doanh nghiệp và tăng 32,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,8 tỷ đồng, tăng 27,7%. Nếu tính cả 1.310,3 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2019 là 2.170,5 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 21,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 31,4% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng năm nay lên gần 88,6 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đầu năm nay là 649 nghìn người, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 6 tháng đầu năm  nay là 21,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 21,8 nghìn, trong đó có gần 11 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 7,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 18,1%.

        b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2019 cho thấy: Có 45,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay tốt hơn quý trước; 16,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý III/2019 có 52% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý II/2019 ước tính đạt 1.206,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% so với quý trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2.391,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,7% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,6%).

Vận tải hành khách quý II năm nay đạt 1.258,6 triệu lượt khách, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và 57,8 tỷ lượt khách.km, tăng 8,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, vận tải hành khách đạt 2.495,7 triệu lượt khách, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và 113,6 tỷ lượt khách.km, tăng 9,5%. Vận tải hàng hóa quý II năm nay ước tính đạt 410,8 triệu tấn, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và 78,5 tỷ tấn.km, tăng 7,7%. Tính chung 6 tháng, vận tải hàng hóa đạt 823,1 triệu tấn, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và 156,7 tỷ tấn.km, tăng 7,1%.

Doanh thu viễn thông quý II/2019 ước tính đạt 91,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,9%); ước tính 6 tháng đầu năm 2019 đạt 184,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7,13% (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,79%). Khách quốc tế đến nước ta trong 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 8.481 nghìn lượt người, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 18/6/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 6,05% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,03%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 6,09% (cùng kỳ năm 2018 tăng 7,76%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 6,22% (cùng kỳ năm 2018 tăng 6,1%).

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý II/2019 ước tính tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 18%, phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 21%, bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý II/2019 theo giá hiện hành ước tính đạt 462,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 822,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước và bằng 33,1% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 255 nghìn tỷ đồng, chiếm 31% tổng vốn và tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 359,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,6% và tăng 16,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 208,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,4% và tăng 9,7%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2019 thu hút 1.723 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7.411,8 triệu USD, tăng 26,1% về số dự án và giảm 37,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 628 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 2.935,4 triệu USD, giảm 33,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 10.347,2 triệu USD, giảm 36,3% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 6 tháng còn có 4.020 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 8,12 tỷ USD, tăng 98,1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 625 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 5,48 tỷ USD và 3.395 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,64 tỷ USD.

Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, trong 6 tháng năm nay có 71 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 103,9 triệu USD; 19 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 96,1 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 6 tháng năm 2019 đạt 200 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2019 ước tính đạt 660,6 nghìn tỷ đồng, bằng 46,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa 524,8 nghìn tỷ đồng, bằng 44,7%; thu từ dầu thô 26,1 nghìn tỷ đồng, bằng 58,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 109 nghìn tỷ đồng, bằng 57,6%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2019 ước tính đạt 612,5 nghìn tỷ đồng, bằng 37,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 441,1 nghìn tỷ đồng, bằng 44,1%; chi đầu tư phát triển 112,1 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1%; chi trả nợ lãi 55,9 nghìn tỷ đồng, bằng 44,7%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

     a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 5/2019 đạt 21.905 triệu USD, cao hơn 405 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Sáu, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 21,60 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước. Kim ngạch xuất khẩu quý II/2019 ước tính  đạt 63,86 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 8,5% so với quý I năm nay. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 122,72 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 36,82 tỷ USD, tăng 10,8%, chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 85,90 tỷ USD, tăng 5,9%, chiếm 70% (giảm 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 5/2019 đạt 23.194 triệu USD, cao hơn 394 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng 6/2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 21,2 tỷ USD, giảm 8,6% so với tháng trước. Kim ngạch nhập khẩu quý II/2019 đạt 65,31 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 13,7% so với quý I năm nay. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 122,76 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 52,54 tỷ USD, tăng 14,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 70,22 tỷ USD, tăng 7,8%.

         b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý II/2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2018; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,7 tỷ USD, tăng 3,1%.

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó dịch vụ du lịch đạt 5,6 tỷ USD (chiếm 69,9% tổng kim ngạch), tăng 7,8%; dịch vụ vận tải đạt 1,5 tỷ USD (chiếm 18,5%), tăng 2,2%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,5 tỷ USD (chiếm 48,5% tổng kim ngạch), tăng 7,1%; dịch vụ du lịch đạt 2,8 tỷ USD (chiếm 30,7%), tăng 0,7%. Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2019 là 1,3 tỷ USD, bằng 15,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2019 giảm 0,09% so với tháng trước, tăng 1,41% so với tháng 12/2018 và tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý II tăng 0,74% so với quý trước và tăng 2,65% so với cùng kỳ năm 2018. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 2,64% so với bình quân cùng kỳ năm 2018. Lạm phát cơ bản tháng 6/2019 tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 1,87% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số giá vàng tháng 6/2019 tăng 1,98% so với tháng trước; tăng 4,29% so với tháng 12/2018 và tăng 1,74% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2019 tăng 0,3% so với tháng trước; tăng 0,29% so với tháng 12/2018 và tăng 2,52% so với cùng kỳ năm 2018.

  1. Một số tình hình xã hội

     a) Lao động và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước 6 tháng đầu năm 2019 là 55,4 triệu người, tăng 334 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động 6 tháng năm 2019 là 48,9 triệu người, tăng 450,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm 6 tháng đầu năm nay là 54,3 triệu người, bao gồm 19,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35,3% tổng số (giảm 3,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 15,7 triệu người, chiếm 28,9% (tăng 2,3 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 35,8% (tăng 0,8 điểm phần trăm).

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2019 ước tính là 2,16% (quý I là 2,17%; quý II là 2,16%), trong đó khu vực thành thị là 3,11%; khu vực nông thôn là 1,66%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 6 tháng đầu năm 2019 ước tính là 6,35%, trong đó khu vực thành thị là 10,16%; khu vực nông thôn là 4,66%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 6 tháng ước tính là 1,29% (quý I là 1,21%; quý II là 1,38%), trong đó khu vực thành thị là 0,77%; khu vực nông thôn là 1,57%.

         b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2019 nhìn chung được cải thiện, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong 6 tháng đầu năm 2019, cả nước có 65 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 30,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 261,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 30%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 3,7 nghìn tấn lương thực.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 6 tháng đầu năm 2019 là hơn 4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã có gần 19 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

         c) Tai nạn giao thông

Trong 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8.204 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.418 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3.786 vụ va chạm giao thông, làm 3.759 người chết, 2.463 người bị thương và 3.858 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 8,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 13,1%); số người chết giảm 8,4%; số người bị thương giảm 0,1% và số người bị thương nhẹ giảm 15,4%.

        d) Thiệt hại do thiên tai 

Thiên tai xảy ra trong 6 tháng đầu năm làm 29 người chết và mất tích, 39 người bị thương; 649 ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi, 19,7 nghìn ngôi nhà bị ngập và hư hỏng; gần 9,4 nghìn ha lúa và 8,3 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 464 tỷ đồng.

       e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong 6 tháng năm 2019, cơ quan chức năng đã phát hiện 5.494 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 4.896 vụ với tổng số tiền phạt 51,4 tỷ đồng và trên cả nước đã xảy ra 1.911 vụ cháy, nổ, làm 63 người chết và 98 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 677 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tăng trưởng GDP quý II của một số năm: Năm 2011 tăng 5,93%; năm 2012 tăng 5,08%; năm 2013 tăng 5,0%; năm 2014 tăng 5,34%; năm 2015 tăng 6,47%; năm 2016 tăng 5,78%; năm 2017 tăng 6,36%; năm 2018 tăng 6,73%; năm 2019 tăng 6,71%.

[2] Tăng trưởng GDP 6 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 5,92%; năm 2012 tăng 4,93%; năm 2013 tăng 4,90%; năm 2014 tăng 5,22%; năm 2015 tăng 6,32%; năm 2016 tăng 5,65%; năm 2017 tăng 5,83%; năm 2018 tăng 7,05%; năm 2019 tăng 6,76%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản 6 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 3,40%; năm 2012 tăng 4,85%; năm 2013 tăng 2,34%; năm 2014 tăng 5,89%; năm 2015 tăng 3,30%; năm 2016 tăng 1,25%; năm 2017 tăng 5,08%; năm 2018 tăng 6,29%; năm 2019 tăng 6,45%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 8,96%; năm 2013 tăng 5,61%; năm 2014 tăng 6,61%; năm 2015 tăng 10,0%; năm 2016 tăng 10,50%; năm 2017 tăng 10,52%; năm 2018 tăng 12,87%; năm 2019 tăng 11,18%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 6 tháng của các năm 2012-2019 lần lượt là: Năm 2012 tăng 6,11%; năm 2013 tăng 6,13%; năm 2014 tăng 5,82%; năm 2015 tăng 5,86%; năm 2016 tăng 6,47%; năm 2017 tăng 6,89%; năm 2018 tăng 6,89%; năm 2019 tăng 6,69%.

[6] Các địa phương chưa xảy ra dịch tả lợn châu Phi gồm: Ninh Thuận, Tây Ninh và Bến Tre.

[7] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.