1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Vụ lúa đông xuân năm nay cả nước gieo cấy được 3.123,4 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.116,7 nghìn ha, bằng 99% (giảm 10,9 nghìn ha); các địa phương phía Nam đạt 2.006,7 nghìn ha, bằng 101,6%. Năng suất lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc ước tính đạt 63,8 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng ước tính đạt 7,1 triệu tấn, giảm 103,4 nghìn tấn. Ở phía Nam, đến trung tuần tháng Năm, các địa phương thu hoạch được 1.918,1 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 95,6% diện tích xuống giống và bằng 101,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch được 1.601,7 nghìn ha, chiếm 99,8% và bằng 102,3%. Năng suất lúa đông xuân của các địa phương phía Nam ước tính đạt 66,9 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 13,4 triệu tấn, tăng 58,8 nghìn tấn.

Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 1.165,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 104,5% cùng kỳ năm 2018 (vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.077,8 nghìn ha, bằng 104,6%).

Tính đến giữa tháng Năm, cả nước gieo trồng được 463,7 nghìn ha ngô, bằng 95,8% cùng kỳ năm trước; 70,4 nghìn ha khoai lang, bằng 98,1%; 134,2 nghìn ha lạc, bằng 98,5%; 21,4 nghìn ha đậu tương, bằng 96,4%; 628,9 nghìn ha rau đậu, bằng 101,2%.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định, chăn nuôi gia cầm tiếp tục đạt khá, riêng chăn nuôi lợn gặp khó khăn do dịch tả lợn Châu Phi đang lây lan trên diện rộng và đã xảy ra ở các địa phương có quy mô chăn nuôi lớn[1]. Ước tính tháng Năm, đàn lợn giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn trâu giảm 3,2%; đàn bò tăng 2,9%; đàn gia cầm tăng 7,1%. Tính đến ngày 21/5/2019, cả nước không còn dịch lợn tai xanh; dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Vĩnh Long, Hậu Giang; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Đắk Lắk.

b) Lâm nghiệp

Trong 5 tháng đầu năm 2018, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 85,9 nghìn ha, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 28,1 triệu cây, giảm 3,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 5.370 nghìn m3, tăng 4,5%; sản lượng củi khai thác đạt 7,3 triệu ste, giảm 1,7%. Diện tích rừng bị thiệt hại 5 tháng là 496,7 ha, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 290,4 ha, tăng 49%; diện tích rừng bị chặt phá là 206,3 ha, tăng 0,2%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Năm ước tính đạt 764,1 nghìn tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 409,6 nghìn tấn, tăng 7,2%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 354,5 nghìn tấn, tăng 5,6%. Tính chung 5 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 3.004,5 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.496,7 nghìn tấn, tăng 7%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1.507,8 nghìn tấn, tăng 5,4%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 5/2019 ước tính tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 1,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 11%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,4%.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, IIP ước tính tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,3% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 7,4% và 6,6% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,9% (cùng kỳ năm trước tăng 12,1%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,3%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước (khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 7,4%, khai thác than tăng 12,9%), làm giảm 0,02 điểm phần trăm mức tăng chung.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng 5/2019, cả nước có 10.693 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 127,3 nghìn tỷ đồng, giảm 28% về số doanh nghiệp và giảm 23,8% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,9 tỷ đồng, tăng 5,9%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 88,1 nghìn người, giảm 33%. Trong tháng, cả nước còn có 2.461 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 9,3% so với tháng trước; 2.326 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 6,8%; có 2.089 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 9,7%; 1.066 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 10,3%.

Tính chung 5 tháng đầu năm nay, cả nước có 53.998 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 669,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% về số doanh nghiệp và tăng 29,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,4 tỷ đồng, tăng 25,6%. Nếu tính cả 987,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 5 tháng năm 2019 là 1.657,1 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 19.646 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 48,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 5 tháng lên hơn 73,6 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng đầu năm nay là 537,2 nghìn người, tăng 30,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 5 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 19.065 doanh nghiệp, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 19.354 doanh nghiệp, trong đó có 9.522 doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 6.371 doanh nghiệp, tăng 15,1%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm nay ước tính đạt 99,5 nghìn tỷ đồng, bằng 28,9% kế hoạch năm và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 bằng 27,4% và tăng 9,3%), gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 12,3 nghìn tỷ đồng, bằng 26,5% kế hoạch năm và giảm 29,8%; vốn địa phương quản lý đạt 87,2 nghìn tỷ đồng, bằng 29,2% kế hoạch năm và tăng 10,3%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/5/2019 thu hút 1.363 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 6.457,9 triệu USD, tăng 26,7% về số dự án và tăng 38,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 505 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 2.628,8 triệu USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 5 tháng đầu năm đạt 9.086,7 triệu USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng ước tính đạt 7,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 5 tháng còn có 3.160 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 7,65 tỷ USD, gấp 2,8 lần so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 614 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 5,33 tỷ USD và 2.546 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,32 tỷ USD.

Vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 5 tháng năm nay, bên cạnh 55 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 98,3 triệu USD còn có 14 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 84,8 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 5 tháng năm 2019 đạt 183,1 triệu USD.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2019 ước tính đạt 403,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.983,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,6% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,5%).

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 4/2019 đạt 20.440 triệu USD, cao hơn 540 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng 5/2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 21,50 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,71 tỷ USD, tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,79 tỷ USD, tăng 5,8%. Tính chung 5 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 100,74 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 30,33 tỷ USD, tăng 11,6%, chiếm 30,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 70,41 tỷ USD, tăng 4,7%, chiếm 69,9% (tỷ trọng giảm 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 4/2019 đạt 20.994 triệu USD, cao hơn 394 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 22,8 tỷ USD, tăng 8,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,2 tỷ USD, tăng 8,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,6 tỷ USD, tăng 8,8%. Tính chung 5 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 101,28 tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 43,61 tỷ USD, tăng 15,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 57,67 tỷ USD, tăng 6,9%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tư nhập siêu 555 triệu USD[2]; 4 tháng xuất siêu 752 triệu USD; tháng Năm ước tính nhập siêu 1,3 tỷ USD. Tính chung 5 tháng năm 2019 nhập siêu 548 triệu USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 2,6 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 13,28 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 12,73 tỷ USD.

Vận tải hành khách 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 2.073,4 triệu lượt khách, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước và 93,9 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3%. Vận tải hàng hóa 5 tháng đạt 684,8 triệu tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước và 130,2 tỷ tấn.km, tăng 6,8%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Năm ước tính đạt 1.326,7 nghìn lượt người, giảm 9,7% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 7.295,5 nghìn lượt người, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2019 tăng 0,49% so với tháng trước, CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2019 tăng 2,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2018; CPI tháng 5/2019 tăng 1,5% so với tháng 12/2018 và tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 5/2019 tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm nay tăng 1,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số giá vàng tháng 5/2019 giảm 0,5% so với tháng trước; tăng 2,27% so với tháng 12/2018 và giảm 1,02% so với cùng kỳ năm 2018. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2019 tăng 0,45% so với tháng trước; giảm 0,01% so với tháng 12/2018 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2018.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong 5 tháng đầu năm 2019, cả nước có 63,2 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 30,5% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 255 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 29,4%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 3,6 nghìn tấn gạo.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 6.779 vụ tai nạn giao thông, làm 3.128 người chết, 2.024 người bị thương và 3.230 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 5 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, làm 21 người chết, 13 người bị thương và 21 người bị thương nhẹ.

Trong 5 tháng, cả nước đã phát hiện 4.204 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 3.686 vụ với tổng số tiền phạt 39,7 tỷ đồng và đã xảy ra 1.581 vụ cháy, nổ, làm 55 người chết và 83 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính hơn 484 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tính đến ngày 23/5/2019, dịch tả lợn châu Phi đang xảy ra tại 40/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổng số lợn bị bệnh buộc phải tiêu hủy là 1,7 triệu con, chiếm 6,1% tổng đàn.

[2] Tháng Tư ước tính nhập siêu 700 triệu USD.