1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/4, cả nước gieo cấy được 3.116,6 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.112,6 nghìn ha, bằng 98,9%, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 515,1 nghìn ha, bằng 98%; các địa phương phía Nam gieo trồng được 2.004 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 101,5% cùng kỳ năm 2018. Các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1.648,7 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 82,3% diện tích xuống giống và bằng 107,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.526,2 nghìn ha, chiếm 95,1% và bằng 108%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 67,5 tạ/ha, giảm 1,4 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 10,8 triệu tấn, giảm 5,5 nghìn tấn.

Đến trung tuần tháng Tư, các địa phương phía Nam gieo sạ được 497,9 nghìn ha lúa hè thu, bằng 112,4% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 484,9 nghìn ha, bằng 111,6%.

Tính đến giữa tháng Tư, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 404,8 nghìn ha ngô, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước; 67,5 nghìn ha khoai lang, bằng 95,7%; 134,2 nghìn ha lạc, bằng 97,2%; 16,6 nghìn ha đậu tương, bằng 107,8%; 590,4 nghìn ha rau đậu, bằng 105,7%.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng ổn định, chăn nuôi gia cầm đạt khá, riêng chăn nuôi lợn còn gặp khó khăn, mặc dù vừa qua một số địa phương đã công bố hết dịch tả lợn châu Phi nhưng do dịch bệnh lan rộng gây ảnh hưởng đến phát triển đàn và kết quả chăn nuôi. Ước tính tháng Tư, đàn lợn giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn trâu giảm 2,9%; đàn bò tăng 3,1%; đàn gia cầm tăng 6,8%. Tính đến thời điểm 19/4/2019, cả nước không còn dịch lợn tai xanh; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Kon Tum, Đắk Lắk, Hậu Giang; dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở Kon Tum.

b) Lâm nghiệp

Trong 4 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 59 nghìn ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 22,5 triệu cây, giảm 3,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.942 nghìn m3, tăng 4,3%; sản lượng củi khai thác đạt 5,3 triệu ste, giảm 1,7%.

Diện tích rừng bị thiệt hại 4 tháng là 200 ha, giảm 44,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 59,8 ha, giảm 62,7%; diện tích rừng bị chặt phá là 140,2 ha, giảm 30,4%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Tư ước tính đạt 689,8 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 348,4 nghìn tấn, tăng 6%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 341,4 nghìn tấn, tăng 5,3%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2.156,5 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 994,6 nghìn tấn, tăng 5,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1.161,9 nghìn tấn, tăng 4,9% (sản lượng khai thác biển đạt 1.111,6 nghìn tấn, tăng 5,2%).

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2019 ước tính tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,8%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, IIP ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 7,4% và 6,6% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,9% (cùng kỳ năm trước tăng 12,9%), đóng góp 8,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng bằng cùng kỳ năm trước.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[1]

Trong tháng 4/2019, cả nước có 14.854 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 167 nghìn tỷ đồng, tăng 19% về số doanh nghiệp và tăng 30,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước[2]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,2 tỷ đồng, tăng 27,3%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 131,4 nghìn người, giảm 14,5%. Trong tháng, cả nước còn có 2.714 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 44,4% so với tháng trước; 2.495 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 81,7%; có 1.904 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 1,2%; 1.189 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 23,9%.

Tính chung 4 tháng đầu năm nay, cả nước có 43.305 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 542,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% về số doanh nghiệp và tăng 31,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,5 tỷ đồng, tăng 25%[3]. Nếu tính cả 872 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm 2019 là 1.414,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 17.463 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 52,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 4 tháng lên gần 60,8 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng là 449,1 nghìn người, tăng 35,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 4 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 16.984 doanh nghiệp, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước;  doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 17.265, trong đó có 8.935 doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 5.305 doanh nghiệp, tăng 12,9%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt 73,4 nghìn tỷ đồng, bằng 21,3% kế hoạch năm và tăng 3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 bằng 20,3% và tăng 9,8%), gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 9 nghìn tỷ đồng, bằng 19,5% kế hoạch năm và giảm 30,6%; vốn địa phương quản lý đạt 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 21,6% kế hoạch năm và tăng 10,5%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/4/2019 thu hút 1.082 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 5.345 triệu USD, tăng 22,5% về số dự án và tăng 50,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 395 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 2.110,6 triệu USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 4 tháng đầu năm đạt 7.455,6 triệu USD, tăng 28,6% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng ước tính đạt 5,7 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 4 tháng còn có 2.416 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 7,14 tỷ USD, gấp 3,2 lần cùng kỳ năm 2018, trong đó có 605 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 5,13 tỷ USD và 1.811 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,01 tỷ USD.

Vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 4 tháng đầu năm nay, bên cạnh 44 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 96 triệu USD còn có 9 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 53,5 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 4 tháng đầu năm 2019 đạt 149,5 triệu USD.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2019 ước tính đạt 400 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.583,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,9%).

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 3/2019 đạt 22.780 triệu USD, cao hơn 380 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng 4/2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 19,9 tỷ USD, giảm 12,6% so với tháng trước[4], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,12 tỷ USD, giảm 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,78 tỷ USD, giảm 15,7%. Tính chung 4 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 78,76 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 23,33 tỷ USD, tăng 10,5%, chiếm 29,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 55,43 tỷ USD, tăng 4%, chiếm 70,4% (tỷ trọng giảm 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 3/2019 đạt 21.154 triệu USD, thấp hơn 646 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Tư, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 20,6 tỷ USD, giảm 2,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,8 tỷ USD, giảm 2,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,8 tỷ USD, giảm 3%. Tính chung 4 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 78,05 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 32,80 tỷ USD, tăng 14,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 45,25 tỷ USD, tăng 7,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Ba xuất siêu 1,6 tỷ USD[5], quý I xuất siêu 1,4 tỷ USD; tháng Tư ước tính nhập siêu 700 triệu USD. Tính chung 4 tháng năm 2019 tiếp tục xuất siêu 711 triệu USD[6] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,7 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 9,46 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,17 tỷ USD.

Vận tải hành khách 4 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 1.656,1 triệu lượt khách, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước và 75,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,6%.Vận tải hàng hóa 4 tháng đạt 547,6 triệu tấn, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 104,1 tỷ tấn.km, tăng 6,6%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tư ước tính đạt 1.468,8 nghìn lượt người, tăng 4,2% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 5.968,9 nghìn lượt người, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2019 tăng 0,31% so với tháng trước, CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2019 tăng 2,71% so với bình quân cùng kỳ năm 2018; CPI tháng 4/2019 tăng 1% so với tháng 12/2018 và tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 4/2019 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm nay tăng 1,84% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số giá vàng tháng 4/2019 giảm 0,5% so với tháng trước; tăng 2,78% so với tháng 12/2018 và giảm 1,27% so với cùng kỳ năm 2018. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2019 giảm 0,02% so với tháng trước; giảm 0,46% so với tháng 12/2018 và tăng 1,89% so với cùng kỳ năm 2018.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong 4 tháng đầu năm nay, cả nước có 43,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26,1% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 172,1 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 2,4 nghìn tấn gạo.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 5.453 vụ tai nạn giao thông, làm 2.570 người chết, 1.615 người bị thương và 2.564 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 4 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, làm 21 người chết, 13 người bị thương và 21 người bị thương nhẹ.

Trong 4 tháng đầu năm nay, cả nước đã phát hiện 3.019 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 2.662 vụ với tổng số tiền phạt 31,2 tỷ đồng và đã xảy ra 1.277 vụ cháy, nổ, làm 44 người chết và 74 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính hơn 264 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[2] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 2,4%; số vốn đăng ký tăng 25%.

[3] 4 tháng năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký  tăng 11,5%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 6,8%.

[4] Do tháng Tư có số ngày làm việc ít hơn (nghỉ Giỗ Tổ và nghỉ lễ 30/4-1/5), bên cạnh đó sản phẩm Galaxy S10 của Samsung đã tập trung xuất khẩu trong tháng Ba.

[5] Tháng Ba ước tính xuất siêu 600 triệu USD.

[6] Trong đó, xuất siêu sang EU đạt 9,1 tỷ USD, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 11,9 tỷ USD, tăng 53,8%; nhập siêu từ Hàn Quốc 9,3 tỷ USD, tăng 0,4%; nhập siêu từ ASEAN 2,4 tỷ USD, tăng 16,3%.