1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2019 ước tính tăng 6,79% so với cùng kỳ năm trước, tuy thấp hơn mức tăng trưởng của quý I/2018 nhưng cao hơn tăng trưởng quý I các năm 2011-2017[1], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành, cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ngay từ những tháng đầu năm 2019. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 4,9% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,63%, đóng góp 51,2%; khu vực dịch vụ tăng 6,5%, đóng góp 43,9%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 3,97% của quý I/2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản tăng 5,1%, đạt mức tăng trưởng cao nhất của quý I trong 9 năm trở lại đây[2], đóng góp 0,14 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 4,2%, do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 8,95% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,14 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong quý I/2019 là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,35%, tuy thấp hơn mức tăng 14,3% của quý I/2018 nhưng cao hơn mức tăng quý I các năm 2012-2017[3], đóng góp lớn vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm với 2,72 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng quý I năm nay tăng trưởng âm (giảm 2,2%), làm giảm 0,15 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 10,3% và khí đốt tự nhiên giảm 2,4%. Ngành xây dựng 3 tháng đầu năm nay duy trì mức tăng trưởng khá với 6,68%, đóng góp 0,39 điểm phần trăm.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung với 0,95 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,22%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,71%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,75%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,25%; khu vực dịch vụ chiếm 44,04%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,55% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2018 là: 10,35%; 35,31%; 43,72%; 10,62%).

Trên góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,09% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 6,2%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,81%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,7%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

      a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 3.087,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.088,4 nghìn ha, bằng 99,6%; các địa phương phía Nam đạt 1.998,8 nghìn ha, bằng 101,4%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.601,5 nghìn ha, tăng 1,8%, trong đó đã có 1.042,6 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch tăng 64,8% so với cùng kỳ năm 2018. Ước tính sản lượng lúa đông xuân toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 10,8 triệu tấn, giảm 37,9 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước; năng suất ước tính đạt 67,4 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha. Cũng đến thời điểm trên, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn thành thu hoạch lúa vụ mùa 2018-2019. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt 171,7 nghìn ha, giảm 25,6 nghìn ha so với vụ lúa mùa trước; năng suất ước tính đạt 46,4 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 797,2 nghìn tấn, giảm 112,3 nghìn tấn.

Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 346,8 nghìn ha ngô, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước; 62,3 nghìn ha khoai lang, bằng 98,9%; 120,8 nghìn ha lạc, bằng 98,2%; 14,9 nghìn ha đỗ tương, bằng 103,5%; 520,8 nghìn ha rau đậu, bằng 102,8%.

Trong quý I/2019, một số cây công nghiệp lâu năm đã cho thu hoạch, trong đó: sản lượng cao su ước tính đạt 121,5 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước; chè búp đạt 86,1 nghìn tấn, tăng 2,6%; hồ tiêu đạt 137,6 nghìn tấn, giảm 1,4%; điều đạt 166,7 nghìn tấn, giảm 8,5%. Sản lượng một số loại cây ăn quả tăng khá: chuối ước tính đạt 528,2 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2018; cam đạt 375,3 nghìn tấn, tăng 8,6%; dứa đạt 190,2 nghìn tấn, tăng 6,7%; xoài đạt 185 nghìn tấn, tăng 4,8%.

Đàn trâu cả nước trong tháng Ba tiếp tục giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 3%; đàn lợn tăng 2,5%; đàn gia cầm tăng 6,5%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I/2019 tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 2,5%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 3,2%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 6,2%.

         b) Lâm nghiệp

Trong quý I năm 2019, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 31,9 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 15,7 triệu cây, tăng 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.714 nghìn m3, tăng 4,5%; sản lượng củi khai thác đạt 3,9 triệu ste, giảm 1,5%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong 3 tháng đầu năm nay là 98,7 ha, giảm 48,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 22,8 ha, giảm 56,6%; diện tích rừng bị chặt phá là 75,9 ha, giảm 45,4%.

         c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý I/2019 ước tính đạt 1.466,7 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.098,7 nghìn tấn, tăng 5,1%; tôm đạt 136,4 nghìn tấn, tăng 5,2%; thủy sản khác đạt 231,6 nghìn tấn, tăng 3,4%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I ước tính đạt 646,2 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 468,2 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 101,9 nghìn tấn, tăng 7,6%. Sản lượng thủy sản khai thác quý I năm nay ước tính đạt 820,5 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 630,5 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 34,5 nghìn tấn, giảm 1,1%, trong đó sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 785,1 nghìn tấn, tăng 5%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2019 ước tính tăng 27,6% so với tháng trước. Tính chung quý I/2019, IIP ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng vẫn cao hơn mức tăng 7,4% và 4,8% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,1%, đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung, tuy nhiên tốc độ tăng này thấp hơn khá nhiều so với mức tăng 15,7% của cùng kỳ năm 2018[4]; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2,1%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2019 tăng 8% so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ năm trước tăng 14,2%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/3/2019 tăng 15,6% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 13,5%); tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân quý I năm 2019 là 72,9% (cùng kỳ năm trước là 68,2%).

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

     a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong quý I năm nay, cả nước có 28.451 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 375,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% về số doanh nghiệp và tăng 34,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018[5]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 13,2 tỷ đồng, tăng 26,9%. Nếu tính cả 722,5 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong quý I năm nay là 1.098 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 15.050 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 78,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm nay lên hơn 43,5 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2019 là 317,6 nghìn người, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 14.761 doanh nghiệp, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 15.331 doanh nghiệp, trong đó có 8.404 doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm 2018 để loại bỏ các doanh nghiệp đã thành lập trước đây nhưng trên thực tế không còn hoạt động; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 4.116 doanh nghiệp, tăng 23,9%.

        b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2019 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 25,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 40,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[6]. Dự kiến quý II/2019 có 54,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 10,6% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 34,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2019 ước tính đạt 1.184,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,9%).

Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm đạt 1.237 triệu lượt khách, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và 55,7 tỷ lượt khách.km, tăng 10%. Vận tải hàng hóa quý I đạt 412,2 triệu tấn, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và 78,1 tỷ tấn.km, tăng 6,5%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý I/2019 ước tính đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến nước ta trong quý I/2019 ước tính đạt 4.500,1 nghìn lượt người, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/3/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,54% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 3,23%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 1,72% (cùng kỳ năm 2018 tăng 2,2%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 1,9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 2,23%).

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2019 ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 23%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2019 theo giá hiện hành đạt 359,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 106,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 158 nghìn tỷ đồng, chiếm 44% và tăng 13,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 94,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,3% và tăng 7,5%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2019 thu hút 785 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 3.821,4 triệu USD, tăng 27% về số dự án và tăng 80,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 279 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 1.298,4 triệu USD, giảm 27,5% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 3 tháng đạt 5.119,8 triệu USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng ước tính đạt 4.120 triệu USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 3 tháng năm 2019 còn có 1.653 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp là 5,69 tỷ USD, gấp 3 lần cùng kỳ năm 2018, trong đó có 588 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,79 tỷ USD và 1.065 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 0,9 tỷ USD.

Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong quý I năm nay có 24 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư của phía Việt Nam là 80,4 triệu USD; 8 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 39,6 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) trong quý I năm nay đạt 120 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2019 ước tính đạt 278,6 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa 221,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9%; thu từ dầu thô 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 22,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 47 nghìn tỷ đồng, bằng 24,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2019 ước tính đạt 254,5 nghìn tỷ đồng, bằng 15,6% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 192,7 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%; chi đầu tư phát triển 33,5 nghìn tỷ đồng, bằng 7,8%; chi trả nợ lãi 27,7 nghìn tỷ đồng, bằng 22,2%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

      a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 2/2019 đạt 13.905 triệu USD, thấp hơn 695 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Ba, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 22,40 tỷ USD, tăng 61,1% so với tháng trước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2019 ước tính đạt 58,51 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 17,05 tỷ USD, tăng 9,7%, chiếm 29,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 41,46 tỷ USD, tăng 2,7%, chiếm 70,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 2/2019 đạt 14.674 triệu USD, thấp hơn 826 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Ba, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 21,8 tỷ USD, tăng 48,6% so với tháng trước. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I/2019 ước tính đạt 57,98 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 24,09 tỷ USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,89 tỷ USD, tăng 6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Hai nhập siêu 768 triệu USD[7]; tháng Ba ước tính xuất siêu 600 triệu USD. Tính chung quý I/2019 tiếp tục xuất siêu 536 triệu USD[8] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 2,7 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 7,04 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,57 tỷ USD.

        b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I/2019 ước tính đạt 4,1 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó dịch vụ du lịch đạt 3 tỷ USD (chiếm 71,2% tổng kim ngạch), tăng 7,3%; dịch vụ vận tải đạt 741 triệu USD (chiếm 17,9%), tăng 1,5%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 47,5% tổng kim ngạch), tăng 8%; dịch vụ du lịch đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 31,6%), tăng 6,7%. Nhập siêu dịch vụ trong quý I/2019 là 405 triệu USD, bằng 9,8% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2019 giảm 0,21% so với tháng trước. CPI bình quân quý I/2019 tăng 2,63% so với bình quân cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân quý I thấp nhất trong 3 năm trở lại đây[9]; CPI tháng 3/2019 tăng 0,69% so với tháng 12/2018 và tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2019 giảm 0,06% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân quý I/2019 tăng 1,83% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 3/2019 giảm 0,49% so với tháng trước; tăng 3,3% so với tháng 12/2018 và giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2019 tăng 0,05% so với tháng trước; giảm 0,44% so với tháng 12/2018 và tăng 2,02% so với cùng kỳ năm 2018.

  1. Một số tình hình xã hội

     a) Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I/2019 ước tính là 55,4 triệu người, giảm 207 nghìn người so với quý trước và tăng 331,9 nghìn người so với cùng kỳ năm 2018; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,8 triệu người, giảm 96,4 nghìn người so với quý trước và tăng 444,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 54,3 triệu người, bao gồm 19,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35,4% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 15,6 triệu người, chiếm 28,6%; khu vực dịch vụ 19,5 triệu người, chiếm 36%.

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước quý I/2019 ước tính là 2,0%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,52%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2019 là 2,17%, trong đó khu vực thành thị là 3,11%; khu vực nông thôn là 1,67%[10]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2019 ước tính là 6,27%, trong đó khu vực thành thị là 10,49%; khu vực nông thôn là 4,64%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm nay ước tính là 1,21%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,60%; khu vực nông thôn là 1,53% (tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2018 tương ứng là 1,52%; 0,63%; 1,96%).

        b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư những tháng đầu năm 2019 nhìn chung ổn định, thiếu đói trong nông dân giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2018. Trong quý I, cả nước có 28,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 38,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 105,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 39,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 1,7 nghìn tấn gạo.

Công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí huy động cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm là 3,9 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã có 14 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

         c) Tai nạn giao thông

Trong 3 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.030 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.148 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.882 vụ va chạm giao thông, làm 1.905 người chết, 1.209 người bị thương và 1.932 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng giảm 13,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 10,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 17,4%); số người chết giảm 11,4%; số người bị thương giảm 0,9% và số người bị thương nhẹ giảm 19,7%.

        d) Thiệt hại do thiên tai 

Tính chung 3 tháng đầu năm, thiên tai làm 8 người chết, mất tích; 15 người bị thương; 4,9 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 265 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 8 nghìn ngôi nhà bị sạt lở và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong quý I ước tính hơn 104 tỷ đồng.

        e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong 3 tháng đầu năm đã phát hiện 2.378 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 2.127 vụ với tổng số tiền phạt 22 tỷ đồng. Trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 957 vụ cháy, nổ, làm 30 người chết và 57 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính là hơn 154 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 5,90%; năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%; năm 2015 tăng 6,12%; năm 2016 tăng 5,48%; năm 2017 tăng 5,15%; năm 2018 tăng 7,45%; năm 2019 tăng 6,79%.

[2] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 2,87%; năm 2012 tăng 4,06%; năm 2013 tăng 2,28%; năm 2014 tăng 4,72%; năm 2015 tăng 3,38%; năm 2016 tăng 1,90%; năm 2017 tăng 3,76%; năm 2018 tăng 4,96%; năm 2019 tăng 5,1%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành chế biến, chế tạo quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 4,38%; năm 2014 tăng 5,97%; năm 2015 tăng 9,70%; năm 2016 tăng 8,94%; năm 2017 tăng 8,60%; năm 2018 tăng 14,30%; năm 2019 tăng 12,35%.

[4] Quý I/2018, ngành chế biến, chế tạo tăng ấn tượng 15,7% chủ yếu do có sự tăng trưởng đột biến của ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học.

[5] Quý I/2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 2,7%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 1,5%.

[6] Chỉ số tương ứng của quý IV/2018: Có 44,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.

[7] Ước tính tháng Hai nhập siêu 900 triệu USD.

[8] Trong đó, quý I/2019 xuất siêu sang EU đạt 6,6 tỷ USD, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 7,4 tỷ USD, tăng 35,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 7,1 tỷ USD, giảm 2,8%; nhập siêu từ ASEAN 1,9 tỷ USD, tăng 26,1%.

[9] Tốc độ tăng CPI bình quân quý I so với bình quân cùng kỳ năm trước của một số năm như sau: Năm 2017 tăng 4,96%; năm 2018 tăng 2,82%; năm 2019 tăng 2,63%

[10] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 2,20%, trong đó khu vực thành thị là 3,12%;
khu vực nông thôn là 1,74%.