1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2017 ước tính tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,03%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,17%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,52%, đóng góp 2,65 điểm phần trăm. Tăng trưởng quý I năm nay cao hơn mức tăng của quý I các năm 2012-2014[1], nhưng thấp hơn so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015 và 5,48% của cùng kỳ năm 2016.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp đã cho thấy dấu hiệu khả quan với mức tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2016 ngành này giảm sâu 2,69%), đóng góp 0,12 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp tăng 4,94%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chỉ tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, thấp nhất kể từ năm 2011 trở lại đây[2], trong đó ngành khai khoáng sụt giảm mạnh, bằng 90% cùng kỳ năm trước, làm giảm 0,76 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung; ngành chế biến, chế tạo đạt mức tăng 8,30% (giảm đáng kể so với mức tăng 9,70% của cùng kỳ năm 2015 và 8,94% của cùng kỳ năm 2016), đóng góp 1,46 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 6,10%, thấp hơn tốc độ tăng 8,60% của cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,30 điểm phần trăm.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,77 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,03%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,76%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,72%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,06%; khu vực dịch vụ chiếm 43,99%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,76% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 11,42%; 34,37%; 43,54%; 10,67%).

Xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,73% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 7,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 6,65 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 8,50%, đóng góp 2,27 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu, làm giảm 4,42 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

     a. Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo cấy được 3.040,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.114,3 nghìn ha, bằng 101,3%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.926,6 nghìn ha, bằng 100,3%, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.538 nghìn ha, bằng 98,9%. Đến nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 934,9 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 61% diện tích xuống giống và bằng 86,6% cùng kỳ năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 63,6 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha. Sản lượng lúa đông xuân toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 9,9 triệu tấn, giảm 125 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước. Cũng đến thời điểm trên, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn tất thu hoạch lúa vụ mùa 2016-2017. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt trên 151 nghìn ha, bằng 73,1% cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của hạn hán, ngập mặn và khó khăn về nguồn nước tưới dưỡng. Năng suất lúa mùa toàn vùng ước tính đạt 40,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính đạt 606,6 nghìn tấn, giảm 207,1 nghìn tấn.

Đàn trâu cả nước tháng Ba ước tính giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 1,5%-2,2%; đàn lợn tăng 1,5%-2,0%; đàn gia cầm tăng 3,2%-3,8%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 3 tháng đầu năm tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tăng 3,6%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 4,3%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 5,3%.

        b. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 3 tháng đầu năm ước tính đạt 28,5 nghìn ha, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 16,1 triệu cây, tăng 1,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.684 nghìn m3, tăng 5,4%; sản lượng củi khai thác đạt 7,8 triệu ste, tăng 1,3%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 200,4 ha, giảm 76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 97,7 ha, giảm 86,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 102,7 ha, tăng 5,8%.

       c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1.320,8 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 978,6 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm đạt 131,5 nghìn tấn, tăng 5,3%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 3 tháng ước đạt 566,8 nghìn tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 401,6 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 97,8 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 754,1 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 577 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 33,7 nghìn tấn, tăng 1% (Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 720 nghìn tấn, tăng 3,7%).

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý I/2017 tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây[3]. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3%, đóng góp 5,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 11,4%, làm giảm 2,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 2 tháng đầu năm tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/3/2017 tăng 12,5% so với cùng thời điểm năm 2016; tỷ lệ tồn kho bình quân 2 tháng đầu năm 2017 là 74,3%.

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

      a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]

Tính chung quý I năm nay, cả nước có 26.478 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 271,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 30,9%. Nếu tính cả 325,4 nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I năm 2017 là 596,6 nghìn tỷ đồng. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 291,5 nghìn người, bằng 90,5% cùng kỳ năm trước. Trong 3 tháng đầu năm còn có 9.271 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong quý I năm nay lên hơn 35,7 nghìn doanh nghiệp.

      b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2017 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 24,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 41,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 57,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 9,8% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 32,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I năm 2017 ước tính đạt 921,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,2% (thấp hơn mức tăng 7,5% của quý I năm 2016).

Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm đạt 969,9 triệu lượt khách, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 44,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,4%. Vận tải hàng hóa quý I đạt 350,1 triệu tấn, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước và 64,4 tỷ tấn.km, tăng 6,7%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý I năm 2017 ước tính đạt 96,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến nước ta trong 3 tháng đầu năm ước tính đạt 3.212,5 nghìn lượt người, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/3/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,88% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 3,08%); huy động vốn tăng 2,43% (cùng kỳ năm 2016 tăng 2,26%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,81%.

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2017 ước tính tăng 20% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 29%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 15%.

  1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I theo giá hiện hành ước tính đạt 297,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 99,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng vốn và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 117,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,4% và tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 80,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,1% và tăng 6,2%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2017 thu hút 493 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.917,2 triệu USD, tăng 4,2% về số dự án và tăng 6,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 223 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 3.940 triệu USD. Trong 3 tháng còn có 1.077 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 852,9 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 3 tháng đầu năm đạt 7.710,1 triệu USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I ước tính đạt 3.620 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 216,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 175,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,7%; thu từ dầu thô 9 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 32,2 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 229,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 32,6 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1%; chi thường xuyên 173,2 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%; chi trả nợ lãi 23 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2%. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2017 ước tính đạt 38,4 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

     a. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I năm 2017 ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 12,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 31,4 tỷ USD, tăng 13%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu quý I năm nay đạt 45,6 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập 18,4 tỷ USD, tăng 24,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập 27,2 tỷ USD, tăng 21,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa tính chung quý I/2017 nhập siêu 1,90 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,06 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,16 tỷ USD.

        b. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I năm 2017 ước tính đạt 3,3 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 68% tổng kim ngạch và tăng 9,3%; dịch vụ vận tải đạt 625 triệu USD, chiếm 19,1% và tăng 7,4%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước tính đạt 3,8 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 47,6% tổng kim ngạch và giảm 2,7%; dịch vụ du lịch đạt 1,1 tỷ USD, chiếm 27,8% và tăng 13,3%. Nhập siêu dịch vụ quý I là 500 triệu USD, bằng 15,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2017 tăng 0,21% so với tháng trước. CPI bình quân quý I năm nay tăng 4,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2016. CPI tháng 3/2017 tăng 0,90% so với tháng 12/2016 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2017 không đổi so với tháng trước và tăng 1,60% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 3 tháng đầu năm 2017 tăng 1,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng tháng 3/2017 giảm 0,28% so với tháng trước; tăng 1,98% so với tháng 12/2016 và tăng 5,00% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2017 tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 0,26% so với tháng 12/2016 và tăng 1,92% so với cùng kỳ năm 2016.

  1. Một số vấn đề xã hội

     a. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/4/2017 ước tính là 54,5 triệu người, tăng 104,9 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2016; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 47,9 triệu người, tăng 212,5 nghìn người.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,4 triệu người, bao gồm 21,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 40,6% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,6 triệu người, chiếm 25,5%; khu vực dịch vụ 18,1 triệu người, chiếm 33,9%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2017 ước tính là 2,30%, trong đó khu vực thành thị là 3,21%; khu vực nông thôn là 1,82%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I ước tính là 1,74%, trong đó khu vực thành thị là 0,80% và khu vực nông thôn là 2,25%.

        b. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Quý I/2017, cả nước có 76,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 312,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,3%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 11,2 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng.

Tổng kinh phí huy động từ ngân sách Trung ương, các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm 2017 là 3.775 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã có 9,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

      c. Tai nạn giao thông

Tính chung 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.812 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.451 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.361 vụ va chạm giao thông, làm 2.114 người chết, 1.032 người bị thương và 2.803 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm nay giảm 3,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 4,1%); số người chết giảm 3,6%; số người bị thương giảm 36,9% và số người bị thương nhẹ giảm 2,9%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 26 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 11 người bị thương và 31 người bị thương nhẹ.

       d. Thiệt hại do thiên tai 

Trong 3 tháng đầu năm 2017, triều cường, lốc xoáy và mưa đá làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư tại một số địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 6 người bị thương; 2,9 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 3,2 nghìn ha lúa, 845 ha hoa màu, 260 ha cây công nghiệp, 360 ha cây lâm nghiệp, cây ăn quả và 326 ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 3 tháng đầu năm ước tính hơn 57 tỷ đồng.

       e. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong quý I/2017 đã phát hiện 4.022 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 3.427 vụ với tổng số tiền phạt gần 40 tỷ đồng.

Trong quý I năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.293 vụ cháy, nổ, làm 33 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 684 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 37,7%, số người chết gấp 2,5 lần, số người bị thương giảm 13,8% và thiệt hại ước tính tăng 34,2%./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%.

[2] Mức tăng quý I của ngành công nghiệp một số năm: Năm 2011: 9,16%; năm 2012: 7,86%; năm 2013: 4,43%; năm 2014: 4,17%; năm 2015: 9,27%; năm 2016: 6,92%.

[3] Quý I: năm 2012 tăng 5,9%; năm 2013 tăng 5%; năm 2014 tăng 5,3%; năm 2015 tăng 9,3% và năm 2016 tăng 7,4%.

[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.