1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Mười Một, cả nước đã thu hoạch được 1.469,7 nghìn ha lúa mùa, chiếm 87,3% diện tích gieo cấy và bằng 98,1% cùng kỳ năm trước. Ước tính năng suất lúa mùa năm 2018 cả nước đạt 49,1 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha so với vụ lúa mùa năm trước; sản lượng đạt gần 8,3 triệu tấn, tăng 403 nghìn tấn.

Tính đến thời điểm 15/11/2018, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 732,1 nghìn ha lúa thu đông, bằng 90,4% cùng kỳ năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch được 383,4 nghìn ha lúa thu đông, chiếm 52,4% diện tích gieo cấy và bằng 89% cùng kỳ năm trước. Ước tính năng suất toàn vụ đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ thu đông năm trước; sản lượng ước tính đạt 3,9 triệu tấn, giảm 343,2 nghìn tấn.

Cũng tính đến thời điểm trên, cả nước gieo trồng được 100,3 nghìn ha ngô, bằng 101,8% cùng kỳ năm trước; 21,2 nghìn ha khoai lang, bằng 98,6%; 4,7 nghìn ha đậu tương, bằng 102,2%; 4,9 nghìn ha lạc, bằng 96,1%; 144,6 nghìn ha rau đậu, bằng 105,9%.

Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,2%; đàn lợn tăng 2,8%; đàn gia cầm tăng 5,8%. Tính đến thời điểm 25/11/2018, cả nước không còn dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Quảng Trị.

b) Lâm nghiệp

Tính chung 11 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 213 nghìn ha, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 76,6 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 11,6 triệu m3, tăng 10,1%; sản lượng củi khai thác đạt 22 triệu ste, giảm 1,3%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong 11 tháng là 1.270,4 ha, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 741,1 ha, tăng 43,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 529,3 ha, giảm 47,7%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười Một cả nước ước tính đạt 684,4 nghìn tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 393,6 nghìn tấn, tăng 9,4%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 290,8 nghìn tấn, tăng 5%.

Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.873,7 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.688,9 nghìn tấn, tăng 6,9%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.184,8 nghìn tấn, tăng 5,3% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.997,3 nghìn tấn, tăng 5,6%).

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười Một ước tính tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 0,2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,5%.

Tính chung 11 tháng năm 2018, IIP ước tính tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,3% của cùng kỳ năm 2017, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,2%, đóng góp 9,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Mười Một, cả nước có 11.637 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 118,4 nghìn tỷ đồng, giảm 10,5% về số doanh nghiệp và giảm 22% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,2 tỷ đồng, giảm 13,3%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 92,3 nghìn người, giảm 12,1%. Trong tháng, cả nước còn có 3.404 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, thấp hơn 1,4% so với tháng trước; có 6.353 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.952 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.401 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 5%; có 1.554 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 12,3%.

Tính chung 11 tháng, cả nước có 121.248 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.234,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% về số doanh nghiệp và tăng 9,1% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 4,1%. Nếu tính cả 2.198,2 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 11 tháng năm 2018 là 3.432,6 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 31.869 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 11 tháng năm nay lên hơn 153,1 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 11 tháng năm 2018 là 1.107,1 nghìn người, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 83.108 doanh nghiệp, tăng 49,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 25.977 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 24,8% và 57.131 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 64%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 14.861 doanh nghiệp, tăng 37,4%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 11 tháng năm nay ước tính đạt 284,7 nghìn tỷ đồng, bằng 82,1% kế hoạch năm và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 82% và tăng 7,5%), gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 52,4 nghìn tỷ đồng, bằng 79,6% kế hoạch năm và giảm 5,9%; vốn địa phương quản lý đạt 232,3 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7% kế hoạch năm và tăng 18,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2018 thu hút 2.714 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15.788,4 triệu USD, tăng 18,4% về số dự án và giảm 20,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 1.059 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7.403,3 triệu USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 11 tháng đạt 23.191,7 triệu USD, giảm 16,6% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng năm nay ước tính đạt 16,5 tỷ USD, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 11 tháng năm 2018 còn có 5.882 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 7,64 tỷ USD, tăng 44,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 995 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 2,96 tỷ USD và 4.887 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,68 tỷ USD.

Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, trong 11 tháng năm nay bên cạnh 125 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 303,6 triệu USD còn có 30 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 54 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 11 tháng năm 2018 đạt 357,6 triệu USD.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một ước tính đạt 385 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 4.000,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,34% (cùng kỳ năm 2017 tăng 9,25%).

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 10/2018 đạt 22.531 triệu USD, cao hơn 1.731 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Mười Một, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 21,60 tỷ USD, giảm 4,1% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 223,63 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 63,24 tỷ USD, tăng 17,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 160,39 tỷ USD (chiếm 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 13,4%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 10/2018 đạt 21.761 triệu USD, cao hơn 1.061 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Mười Một, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 22,0 tỷ USD, tăng 1,1% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 216,82 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 86,63 tỷ USD, tăng 12,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 130,19 tỷ USD, tăng 12,3%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười xuất siêu 770 triệu USD[1]. Tháng Mười Một ước tính nhập siêu 400 triệu USD. Tính chung 11 tháng tiếp tục xuất siêu 6,8 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 23,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 30,2 tỷ USD.

Vận tải hành khách 11 tháng đạt 4.238,6 triệu lượt khách, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước và 189,6 tỷ lượt khách.km, tăng 11%. Vận tải hàng hóa 11 tháng đạt 1.491,7 triệu tấn, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và 279,3 tỷ tấn.km, tăng 7,4%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Một ước tính đạt 1.301,9 nghìn lượt người, tăng 8% so với tháng trước. Tính chung 11 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 14.123,6 nghìn lượt người, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2018 giảm 0,29% so với tháng trước, CPI bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 3,59% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 11/2018 tăng 3,24% so với tháng 12/2017 và tăng 3,46% so với cùng kỳ năm 2017.

Lạm phát cơ bản tháng 11/2018 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 1,46% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 11/2018 tăng 0,98% so với tháng trước; giảm 0,81% so với tháng 12/2017; giảm 0,93% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2018 giảm 0,03% so với tháng trước; tăng 2,77% so với tháng 12/2017 và tăng 2,79% so với cùng kỳ năm 2017.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong 11 tháng năm nay, cả nước có 104,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 40,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 415,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 42,3%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và trên 1,6 tỷ đồng.

Trong 11 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 16.820 vụ tai nạn giao thông làm 7.495 người chết, 4.701 người bị thương và 8.405 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại thiên tai trong 11 tháng làm 189 người chết và mất tích, 140 người bị thương; hơn 1,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi; 61,8 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; hơn 175 nghìn ha lúa, hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 9 nghìn tỷ đồng.

Tính chung 11 tháng, cả nước xảy ra 3.753 vụ cháy, nổ, làm 97 người chết và 246 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1.638 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Ước tính tháng Mười xuất siêu 100 triệu USD.