1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Vụ lúa mùa năm 2018 cả nước gieo cấy được 1.689,7 nghìn ha, bằng 98,7% vụ mùa năm trước. Tính đến trung tuần tháng Mười, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 736,6 nghìn ha lúa mùa, chiếm 66,6% diện tích gieo cấy và bằng 95,3% cùng kỳ năm trước. Ước tính năng suất lúa mùa trên diện tích đã thu hoạch ở phía Bắc đạt 49,5 tạ/ha, tăng 3,3 tạ/ha so với vụ mùa năm trước. Nếu thời tiết từ nay tới cuối vụ thuận lợi, sản lượng lúa mùa toàn vụ ước tính đạt 5,5 triệu tấn, tăng 238,8 nghìn tấn so với vụ mùa năm 2017. Tại các tỉnh phía Nam, có 303,3 nghìn ha lúa mùa đã cho thu hoạch, chiếm 51,9% diện tích xuống giống và bằng 99,6% cùng kỳ năm trước; năng suất ước tính đạt 48,4 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha so với vụ mùa năm 2017; sản lượng toàn vụ ước tính đạt 2,8 triệu tấn, tăng 201 nghìn tấn.

Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trong cả nước đã cơ bản kết thúc sản xuất lúa hè thu với diện tích gieo trồng đạt 2.052,8 nghìn ha, giảm 13,7 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước. Tính đến ngày 15/10/2018, cả nước đã thu hoạch được 2.048,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 99,2% vụ hè thu năm 2017. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 54,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với vụ hè thu trước, nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu 2018 đạt 11,2 triệu tấn, giảm 47,7 nghìn tấn.

Đến giữa tháng Mười, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 720,5 nghìn ha lúa thu đông, bằng 93,1% cùng kỳ năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch được 249,1 nghìn ha lúa thu đông, chiếm 34,6% diện tích gieo cấy và bằng 68,7% cùng kỳ năm trước. Ước tính năng suất toàn vụ đạt 52,8 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha so với vụ thu đông năm trước; sản lượng ước tính đạt 3,9 triệu tấn, giảm 333,2 nghìn tấn do diện tích giảm ở hầu hết các địa phương.

Tính đến thời điểm 15/10/2018, cả nước gieo trồng được 71,5 nghìn ha ngô, bằng 87,7% cùng kỳ năm trước; 11,4 nghìn ha khoai lang, bằng 101,8%; 4 nghìn ha đậu tương, bằng 97,6%; 4,6 nghìn ha lạc, bằng 93,9%; 74,2 nghìn ha rau, đậu, bằng 105%.

Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2%; đàn lợn tăng 2,1%; đàn gia cầm tăng 5,6%. Tính đến thời điểm 25/10/2018, cả nước không còn dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh trên lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Đắk Lắk.

b) Lâm nghiệp

Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 186,9 nghìn ha, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 68,5 triệu cây, tương đương cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 10,3 triệu m3, tăng 10,1%; sản lượng củi khai thác đạt 20,4 triệu ste, giảm 1,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong 10 tháng là 1.237,2 ha, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 732,5 ha, tăng 78,8%; diện tích rừng bị chặt, phá là 504,7 ha, giảm 33,8%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười ước tính đạt 671,7 nghìn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 372,6 nghìn tấn, tăng 7,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 299,1 nghìn tấn, tăng 6,7%.

Tính chung 10 tháng, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.172,9 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.295,3 nghìn tấn, tăng 6,6%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.877,6 nghìn tấn, tăng 5,3% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.710,1 nghìn tấn, tăng 5,6%).

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười ước tính tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 9,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%.

Tính chung 10 tháng năm 2018, IIP tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn so với mức tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2017. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,7%, đóng góp 9,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2,6%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm mức tăng chung.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Mười, cả nước có 13,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 152,5 nghìn tỷ đồng, tăng 41,9% về số doanh nghiệp và tăng 79,9% về số vốn đăng ký so với tháng trước[1]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,7 tỷ đồng, tăng 26,8%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 105 nghìn người, tăng 23,5%. Trong tháng, cả nước còn có 3.453 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,1% so với tháng trước; có 6.684 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.911 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.773 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 35,2%; có 1.771 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 26,2%.

Tính chung 10 tháng, cả nước có 109.611 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.116 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% về số doanh nghiệp và tăng 9,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[2]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 4,7%. Nếu tính cả 2.045,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 10 tháng năm 2018 là 3.161,1 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 27.935 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng năm nay lên hơn 137,5 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 10 tháng năm 2018 là 924,8 nghìn người, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong 10 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 78.404 doanh nghiệp, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 24.467 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 24,7% và 53.937 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 62,6%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 13.307 doanh nghiệp, tăng 35,9%,

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm nay ước tính đạt 248,2 nghìn tỷ đồng, bằng 71,67% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 71,72% và tăng 7,1%), gồm có: Vốn Trung ương quản lý đạt 45,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và giảm 6,4%; vốn địa phương quản lý đạt 202,3 nghìn tỷ đồng, bằng 72,1% kế hoạch năm và tăng 17,9%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/10/2018 thu hút 2.458 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15.028,2 triệu USD, tăng 18,7% về số dự án và giảm 7,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 954 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 6.543,3 triệu USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 10 tháng đạt 21.571,5 triệu USD, giảm 8,5% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng năm nay ước tính đạt 15,1 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 10 tháng năm 2018 còn có 5.342 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 6,3 tỷ USD, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 889 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 2,2 tỷ USD và 4.453 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,1 tỷ USD.

Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, trong 10 tháng năm nay bên cạnh 121 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 297,4 triệu USD còn có 26 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 47,1 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 10 tháng năm 2018 đạt 344,5 triệu USD.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 378,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.612,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,31% (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,79%).

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 9/2018 đạt 21.125 triệu USD, cao hơn 625 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Mười, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 20,80 tỷ USD, giảm 1,5% so với tháng trước.Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 200,27 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 56,82 tỷ USD, tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 143,45 tỷ USD, tăng 13,2%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 9/2018 đạt 19.513 triệu USD, thấp hơn 287 triệu USD so với số ước tính. Ước tính tháng Mười, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 20,70 tỷ USD, tăng 6,1% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 193,84 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 77,50 tỷ USD, tăng 12%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 116,34 tỷ USD, tăng 11,7%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Chín xuất siêu 1,6 tỷ USD[3] . Tháng Mười ước tính xuất siêu 100 triệu USD. Tính chung 10 tháng tiếp tục xuất siêu 6,4 tỷ USD[4], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,7 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 27,1 tỷ USD.

Vận tải hành khách 10 tháng đạt 3.840 triệu lượt khách, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước và 171,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,4%. Vận tải hàng hóa 10 tháng đạt 1.350,3 triệu tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước và 252,5 tỷ tấn.km, tăng 7,3%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt 1.205,2 nghìn lượt người, giảm 0,6% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 12.821,6 nghìn lượt người, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2018 tăng 0,33% so với tháng trước, CPI bình quân 10 tháng năm 2018 tăng 3,60% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 10/2018 tăng 3,54% so với tháng 12/2017 và tăng 3,89% so với cùng kỳ năm 2017.

Lạm phát cơ bản tháng 10/2018 tăng 0,13% so với tháng trước và tăng 1,67% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm 2018 tăng 1,43% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2018 tăng 0,12% so với tháng trước; giảm 1,78% so với tháng 12/2017; giảm 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2018 tăng 0,20% so với tháng trước; tăng 2,80% so với tháng 12/2017 và tăng 2,82% so với cùng kỳ năm 2017.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong 10 tháng năm 2018, cả nước có 102,7 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 409,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 39,6%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói hơn 7,4 nghìn tấn lương thực và 1,6 tỷ đồng.

Trong 10 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 14.845 vụ tai nạn giao thông làm 6.674 người chết, 4.100 người bị thương và 7.449 người bị thương nhẹ. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại thiên tai trong 10 tháng làm 185 người chết và mất tích, 134 người bị thương; gần 1,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi; 59,6 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, sạt lở, hư hỏng và tốc mái; hơn 172 nghìn ha lúa, hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai trong 10 tháng ước tính hơn 8,8 nghìn tỷ đồng.

Tính chung 10 tháng, cả nước xảy ra 3.776 vụ cháy, nổ, làm 91 người chết và 235 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1,6 nghìn tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 16,5%; số vốn đăng ký tăng 27,9%.

[2] 10 tháng năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 43,8%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 25,5%.

[3] Ước tính tháng Chín xuất siêu 700 triệu USD.

[4] Trong đó, 10 tháng nhập siêu từ Hàn Quốc 24,3 tỷ USD, giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 20,8 tỷ USD, tăng 0,9%; nhập siêu từ ASEAN 5,4 tỷ USD, tăng 8,1%; xuất siêu sang Hoa Kỳ 28,4 tỷ USD, tăng 5,8%; xuất siêu sang EU 23,7 tỷ USD, tăng 8,9%.