1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Tính đến thời điểm 15/1/2018, cả nước gieo cấy được 1.807,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 56,7 nghìn ha, bằng 73,4%; các địa phương phía Nam đạt 1.750,4 nghìn ha, bằng 100,2%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.444,5 nghìn ha, bằng 99,4%. Hiện nay, lúa đông xuân đang phát triển ổn định, trong đó trên 73,2 nghìn ha lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thu hoạch, giảm 43,7% so với cùng kỳ năm 2017 do nước lũ lên cao đã ảnh hưởng đến thời điểm xuống giống.

Cũng đến trung tuần tháng Một, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 152,9 nghìn ha ngô, bằng 89,1% cùng kỳ năm trước; 38 nghìn ha khoai lang, bằng 92,9%; 7,4 nghìn ha đậu tương, bằng 49,7%; 25,5 nghìn ha lạc, bằng 108,1%; 346,3 nghìn ha rau, đậu, bằng 106,4%.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định, chăn nuôi gia cầm đạt khá, riêng chăn nuôi lợn tiếp tục xu hướng giảm quy mô đàn. Ước tính tháng Một, đàn trâu cả nước giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,5%; đàn gia cầm tăng 6,8%; đàn lợn giảm 5,4%. Tính đến thời điểm 25/1/2018, cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

b. Lâm nghiệp

Trong tháng Một, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 2.845 ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 715 nghìn cây, giảm 0,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 620 nghìn m3, tăng 5,6%; sản lượng củi khai thác đạt 1,5 triệu ste, giảm 0,6%. Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Một là 27,6 ha, giảm 34,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó diện tích rừng bị cháy là 4,3 ha, giảm 80,1%; diện tích rừng bị chặt phá là 23,3 ha, tăng 12,8%.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Một ước tính đạt 525,7 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 4,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 251,4 nghìn tấn, tăng 3,8%, trong đó sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 236 nghìn tấn, tăng 4%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 1/2018 ước tính tăng cao ở mức 20,9% so với cùng kỳ năm 2017[1], chủ yếu do thời gian nghỉ Tết Nguyên đán năm nay không trùng vào tháng Một như năm 2017 và là thời điểm các doanh nghiệp tập trung sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 23,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,4%; ngành khai khoáng tăng 10,5%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,8%.

  1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng 1/2018, cả nước có 10.839 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 98,3 nghìn tỷ đồng, tăng 20,6% về số doanh nghiệp và tăng 8,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,1 tỷ đồng, giảm 9,7%. Nếu tính cả 218,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong tháng Một là 316,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 4.587 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 17,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Một năm nay lên hơn 15,4 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 85,3 nghìn người, bằng 82% cùng kỳ năm 2017. Trong tháng Một, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 13.300 doanh nghiệp, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 1.554 doanh nghiệp, giảm 1,8%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Một ước tính đạt 16.175 tỷ đồng, bằng 4,9% kế hoạch năm và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2017, gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 3.192 tỷ đồng, bằng 4,8% và tăng 9,2%; vốn địa phương quản lý đạt 12.983 tỷ đồng, bằng 4,9% và tăng 15,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/1/2018 thu hút 166 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 442,6 triệu USD, giảm 5,1% về số dự án và giảm 64,4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 61 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 456,8 triệu USD, tăng 155% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm đạt 899,4 triệu USD, giảm 36,8% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tháng 1/2018 ước tính đạt 1.050 triệu USD, tăng 10,5% so với tháng 1/2017. Trong tháng còn có 415 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 356 triệu USD, tăng 54,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 212 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 199,1 triệu USD và 203 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 156,9 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 1/2018 ước tính đạt 19,9 nghìn tỷ đồng, bằng 1,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 13 nghìn tỷ đồng, bằng 1,2%; thu từ dầu thô đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, bằng 3,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 5,7 nghìn tỷ đồng, bằng 3,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 1/2018 ước tính đạt 38,3 nghìn tỷ đồng, bằng 2,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên 30,8 nghìn tỷ đồng, bằng 3,3%; chi trả nợ lãi 5 nghìn tỷ đồng, bằng 4,4%; chi đầu tư phát triển đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, bằng 0,6%.

  1. Hoạt động thương mại, vận tải và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một ước tính đạt 361,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,38%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2018 ước tính đạt 19,0 tỷ USD, giảm 3,3% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,41 tỷ USD, giảm 5,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,59 tỷ USD, giảm 2,6%. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1/2018 ước tính đạt 19,3 tỷ USD, giảm 3% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,8 tỷ USD, giảm 4,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,5 tỷ USD, giảm 1,7%. Cán cân thương mại hàng hóa tháng tháng 1/2018 ước tính nhập siêu 300 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 2,1 tỷ USD.

Vận tải hành khách tháng Một ước tính đạt 369,3 triệu lượt khách, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2017 và 16,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,2%. Vận tải hàng hóa tháng Một ước tính đạt 130,6 triệu tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước và 24,4 tỷ tấn.km, tăng 6,1%.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng 1/2018 ước tính đạt 1.430,2 nghìn lượt người, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 37,8%; bằng đường bộ tăng 58,9%; bằng đường biển tăng 89,5%.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2018 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản tháng 1/2018 tăng 0,18% so với tháng trước và tăng 1,18% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 1/2018 tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 6,70% so với cùng kỳ năm 2017. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 1/2018 giảm 0,04% so với tháng trước và giảm 0,02% so với cùng kỳ năm 2017.

  1. Một số tình hình xã hội

Trong tháng Một (tính đến ngày 18/1/2018), cả nước có 5,7 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 19,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 135 nghìn tấn gạo.

Từ 16/12/2017 đến 15/1/2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.762 vụ tai nạn giao thông, làm 780 người chết; 426 người bị thương và 922 người bị thương nhẹ. Bình quân một ngày trong tháng 1/2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, làm 25 người chết, 14 người bị thương và 30 người bị thương nhẹ.

Thiên tai xảy ra trong tháng chủ yếu là rét đậm, rét hại, mưa và sạt lở đất tại một số địa phương làm 3,5 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng, hàng trăm con gia súc bị chết, tổng giá trị thiệt hại hơn 14,7 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Từ tháng 1/2018, chỉ số sản xuất công nghiệp được tính toán và công bố theo năm gốc so sánh 2015.