1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2018 ước tính tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất của quý I trong 10 năm gần đây[1], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong việc Chính phủ ban hành các giải pháp và chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, địa phương cùng nỗ lực thực hiện ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2018. Trong mức tăng 7,38% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,05%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,70%, đóng góp 3,39 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,70%, đóng góp 2,75 điểm phần trăm.

Trong khu vực vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của quý I các năm 2011-2017, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung, cho thấy xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội bộ ngành theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có giá trị kinh tế cao đã mang lại hiệu quả; ngành lâm nghiệp tăng 5,03%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,76%, đạt mức tăng trưởng cao nhất trong 8 năm trở lại đây, đóng góp 0,12 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 10,08% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,01 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Điểm sáng của khu vực này là sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 13,56% (là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây), đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 2,46 điểm phần trăm. Ngành xây dựng 3 tháng đầu năm tăng 7,46%, đóng góp 0,38 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,45% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,60%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,72%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,56%.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,26%; khu vực dịch vụ chiếm 43,77%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,63%.

Xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,13% so với cùng kỳ năm 2017, đóng góp 5,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư tăng 7,15%, đóng góp 4,65 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 6,46%, đóng góp 1,15 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng xuất siêu làm tăng 1,19 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 3.063,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,4% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc đạt 1.091,2 nghìn ha, bằng 97,9%; các địa phương phía Nam đạt 1.972,0 nghìn ha, bằng 100,2%, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1573,7 nghìn ha, giảm 0,4%. Đến nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 681,6 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 43,3% diện tích xuống giống và bằng 72,9% cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng lúa đông xuân toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt gần 10,3 triệu tấn, tăng 388,8 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước; năng suất đạt 65,3 tạ/ha, tăng 2,7 tạ/ha. Cũng đến thời điểm trên, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn tất thu hoạch lúa vụ mùa năm 2017-2018. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt 197,3 nghìn ha, tăng 9,3 nghìn ha so với vụ lúa mùa trước. Năng suất lúa mùa toàn vùng ước tính đạt 46,1 tạ/ha, tăng 7,4 tạ/ha; sản lượng đạt 909,6 nghìn tấn, tăng 182,8 nghìn tấn.

Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 321,1 nghìn ha ngô, bằng 94,1% cùng kỳ năm trước; 66,8 nghìn ha khoai lang, bằng 101,4%; 108,8 nghìn ha lạc, bằng 102,5%; 13,3 nghìn ha đỗ tương, bằng 53,4%; 526,1 nghìn ha rau đậu, bằng 99%. Mặc dù diện tích gieo trồng rau đậu giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng do thời tiết thuận lợi, sản lượng rau thu hoạch cao, vượt quá nhu cầu tiêu thụ, dẫn đến nhiều loại rau củ bị tồn đọng, giá rất thấp, gây thiệt hại cho người trồng.

Đàn trâu cả nước tháng Ba ước tính giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,8%; đàn lợn giảm khoảng 6,2%; đàn gia cầm tăng 6,6%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I/2018 tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò hơi xuất chuồng tăng 3,2%; thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 6,8%; riêng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng giảm 1,2%.

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung cả nước quý I/2018 ước tính đạt 29,1 nghìn ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 16,4 triệu cây, tăng 2,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.928 nghìn m3, tăng 7,8%; sản lượng củi khai thác đạt 6,9 triệu ste, tăng 0,7%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 194,5 ha, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 53,2 ha, giảm 45,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 141,3 ha, tăng 37,6%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản 3 tháng đầu năm ước tính đạt 1.386,4 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.035,1 nghìn tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 128,5 nghìn tấn, tăng 6,5%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I ước tính đạt 610,8 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 441,8 nghìn tấn, tăng 5,8%; tôm đạt 93,7 nghìn tấn, tăng 7,9%. Sản lượng thủy sản khai thác 3 tháng đầu năm ước tính đạt 775,6 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 593,3 nghìn tấn, tăng 3,8%; tôm đạt 34,8 nghìn tấn, tăng 2,7%; trong đó sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 740,8 nghìn tấn, tăng 3,2%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba ước tính tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng cao 13,9%, đóng góp 10,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng ổn định ở mức 10,5%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/3/2018 ước tính tăng 13,5% so cùng thời điểm năm 2017; tỷ lệ tồn kho bình quân quý I/2018 là 68,2%.

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[2]

Quý I năm nay, cả nước có 26.785 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 278,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2% về số doanh nghiệp và tăng 2,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[3]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,4 tỷ đồng, tăng 1,5%. Nếu tính cả 485,5 nghìn tỷ đồng của gần 7,9 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn bổ sung vào nền kinh tế trong quý I/2018 là 764 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 8.449 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong quý I lên hơn 35,2 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I là 225,4 nghìn người, giảm 22,7% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong quý I năm nay là 20.337 doanh nghiệp, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 12.222 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 22,9% và 8.115 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 24,1%. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong quý I là 3.321 doanh nghiệp, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 3.038 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,5%.

Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2018 cho thấy: Có 33% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 24,6% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 42,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý II so với quý I năm nay, có 55,7% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 10,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 33,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I năm 2017 ước tính đạt 1.048 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,6% (cùng kỳ năm 2017 tăng 6,4%).

Vận tải hành khách 3 tháng đầu năm đạt 1.049,8 triệu lượt khách, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 46,8 tỷ lượt khách.km, tăng 10%. Vận tải hàng hóa quý I đạt 391,5 triệu tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và 72,7 tỷ tấn.km, tăng 5,8%.

Doanh thu lĩnh vực viễn thông quý I/2018 ước tính đạt 96,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến nước ta trong 3 tháng đầu năm ước tính đạt 4,2 triệu lượt người, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/3/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,23% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm trước tăng 2,88%); huy động vốn của các ngân hàng thương mại tăng 2,20% (cùng kỳ năm trước tăng 2,43%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,23% (cùng kỳ năm trước tăng 2,81%).

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2018 ước tính tăng 19% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 28%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2018 theo giá hiện hành ước tính đạt 331,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 104,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,6% tổng vốn và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 138,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,9% và tăng 16,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 87,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,5% và tăng 8,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2018 thu hút 618 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.121,6 triệu USD, tăng 25,4% về số dự án và giảm 27,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 199 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 1.789,9 triệu USD. Trong 3 tháng năm 2018 còn có 1.285 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp là 1.890,1 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I ước tính đạt 3.880 triệu USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong quý I/2018, cả nước có 23 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư của phía Việt Nam là 123,6 triệu USD, bên cạnh đó có 5 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 25,9 triệu USD. Tính chung vốn cấp mới và tăng thêm, tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài trong quý I năm nay đạt 149,5 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2018 ước tính đạt 232,2 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 185,6 nghìn tỷ đồng, bằng 16,9%; thu từ dầu thô đạt 10,7 nghìn tỷ đồng, bằng 29,9%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 35,8 nghìn tỷ đồng, bằng 20%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2018 ước tính đạt 225,9 nghìn tỷ đồng, bằng 14,8% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 183 nghìn tỷ đồng, bằng 19,5%; chi đầu tư phát triển đạt 17,5 nghìn tỷ đồng, bằng 4,4% dự toán năm; chi trả nợ lãi 24,9 nghìn tỷ đồng, bằng 22,1%.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2018 ước tính đạt 54,31 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,97 tỷ USD, tăng 18,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 39,34 tỷ USD, tăng 23,2%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I/2018 đạt 53,01 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 21,26 tỷ USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,75 tỷ USD, tăng 13,7%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý I/2018 tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Cán cân thương mại hàng hóa quý I/2018 xuất siêu 1,3 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,6 tỷ USD.

Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý I năm nay ước tính đạt 3,9 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 2,8 tỷ USD (chiếm 70,5% tổng kim ngạch), tăng 23,3%; dịch vụ vận tải đạt 700 triệu USD (chiếm 18%), tăng 8,5%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I ước tính đạt 4,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 2 tỷ USD (chiếm 46,6% tổng kim ngạch), tăng 11,1%; dịch vụ du lịch đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 31,8%), tăng 9,2%. Nhập siêu dịch vụ quý I là 391 triệu USD, bằng 10% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2018 giảm 0,27% so với tháng trước. CPI bình quân quý I năm 2018 tăng 2,82% so với bình quân cùng kỳ năm 2017. CPI tháng 3/2018 tăng 0,97% so với tháng 12/2017 và tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2018 giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân quý I/2018 tăng 1,34% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 3/2018 giảm 0,35% so với tháng trước; tăng 3,18% so với tháng 12/2017 và tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2018 tăng 0,27% so với tháng trước; tăng 0,22% so với tháng 12/2017 và giảm 0,09% so với cùng kỳ năm 2017.

  1. Một số tình hình xã hội

Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/4/2018 ước tính là 55,1 triệu người, tăng 586,8 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2017; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 48,4 triệu người, tăng 497,3 nghìn người.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I ước tính là 54,0 triệu người, bao gồm 20,9 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 38,6% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 14,4 triệu người, chiếm 26,7%; khu vực dịch vụ 18,7 triệu người, chiếm 34,7%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 2,2%, trong đó khu vực thành thị là 3,13%; khu vực nông thôn là 1,73%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I là 1,48%, trong đó khu vực thành thị là 0,55%; khu vực nông thôn là 1,94%.

Thiếu đói trong nông dân

Quý I/2018, cả nước có 46,2 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 39,5% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 173,2 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 44,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 4,6 nghìn tấn gạo.

Tai nạn giao thông

Tính chung 3 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.674 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.396 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.278 vụ va chạm giao thông, làm 2.149 người chết, 1.220 người bị thương và 2.407 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm nay giảm 2,9% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,3%; số vụ va chạm giao thông giảm 3,5%); số người chết tăng 1,7%; số người bị thương tăng 18,2% và số người bị thương nhẹ giảm 14,1%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 52 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 25 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết, 14 người bị thương và 27 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai 

Trong 3 tháng đầu năm, thiên tai đã làm 4,3 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, gần 8,3 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết, 2,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại ước tính hơn 178 tỷ đồng, gấp 3,1 lần tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong quý I năm 2017./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2009 tăng 3,14%; năm 2010 tăng 5,84%; năm 2011 tăng 5,90%; năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%; năm 2015 tăng 6,12%; năm 2016 tăng 5,48%; năm 2017 tăng 5,15%; năm 2018 tăng 7,38%.

[2] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[3] Quý I năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 45,8%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 30,9%.