1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2018 ước tính tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước (Quý I tăng 7,45%; quý II tăng 6,79%), là mức tăng cao nhất của 6 tháng kể từ năm 2011 trở về đây[1], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong việc Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018. Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,93%, đóng góp 9,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,07%, đóng góp 48,9%; khu vực dịch vụ tăng 6,90%, đóng góp 41,4%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng 6 tháng năm nay cao nhất trong giai đoạn 2012-2018[2], trong đó ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 3,28%; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,41%, cũng là mức tăng trưởng cao nhất 8 năm qua[3]; ngành lâm nghiệp tăng 5,12%, cao hơn mức tăng 4,31% của cùng kỳ năm trước.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,28%, cao hơn nhiều mức tăng 7,01% và 5,42% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Điểm sáng của khu vực này là sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 13,02% (là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây[4]). Trong khi đó, công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm (giảm 1,3%) nhưng mức giảm đã thu hẹp đáng kể so với mức giảm 7,8% của cùng kỳ năm trước. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 7,93%.

Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm tăng 6,90%, là mức tăng trưởng cao nhất 7 năm gần đây[5]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,58%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,02%; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,67%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,12%.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,15% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,78%; khu vực dịch vụ chiếm 41,82%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,25% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 15,06%; 32,75%; 41,82%; 10,37%).

Xét về góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,13% so với cùng kỳ năm 2017; tích lũy tài sản tăng 7,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,72%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,83%.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3.102,2 nghìn ha, bằng 99,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.127,6 nghìn ha, bằng 98,5%; các địa phương phía Nam đạt 1.974,6 nghìn ha, bằng 100,1%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 66,2 tạ/ha, tăng 3,9 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn.

Tính đến trung tuần tháng Sáu, cả nước đã xuống giống được 1.891,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 98,3% cùng kỳ năm trước, chủ yếu do ảnh hưởng từ tiến độ gieo trồng và thu hoạch vụ đông xuân năm nay chậm hơn cùng kỳ. Đến nay đã có 190,6 nghìn ha lúa hè thu sớm tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thu hoạch, bằng 52,6% cùng kỳ năm 2017.

Đến giữa tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 552,4 nghìn ha ngô, bằng 94,4% cùng kỳ năm trước; 81,1 nghìn ha khoai lang, bằng 88,5%; 32 nghìn ha đậu tương, bằng 85,6%; 144,1 nghìn ha lạc, bằng 96,5%; 722,3 nghìn ha rau, đậu, bằng 103,5%.

Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Chè đạt 472,3 nghìn tấn, tăng 3,7%; điều 255,9 nghìn tấn, tăng 30%; hồ tiêu 263,6 nghìn tấn, tăng 6,5%. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá: Nho đạt 15,7 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2017; xoài 479,1 nghìn tấn, tăng 6,9%.

Tính đến tháng Sáu, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,2%; đàn gia cầm tăng 5,2%; đàn lợn giảm 3%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm đạt 50,8 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 185,4 nghìn tấn, tăng 2,8%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 2,2 triệu tấn, giảm 1%; thịt gia cầm xuất chuồng đạt 608,4 nghìn tấn, tăng 6,1%; trứng gia cầm đạt 6,3 tỷ quả, tăng 11,3%; sản lượng sữa tươi đạt 470 nghìn tấn, tăng 8,1%.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng ước tính đạt 101,6 nghìn ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 36,7 triệu cây, tăng 0,1%; sản lượng củi khai thác đạt 13,1 triệu ste, giảm 1,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 5.444 nghìn m3, tăng 9,1%. Trong 6 tháng đầu năm, cả nước có 555 ha rừng bị thiệt hại, giảm 36,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 158,5 ha, giảm 55,3%; diện tích rừng bị chặt phá 396,5 ha, giảm 23,9%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 3.561,1 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.676,8 nghìn tấn, tăng 5,7%; tôm đạt 370,4 nghìn tấn, tăng 9,5%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đạt 1.793,5 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.310,2 nghìn tấn, tăng 6,1%; tôm đạt 292,6 nghìn tấn, tăng 11,2%. Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm đạt 1.767,6 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.366,6 nghìn tấn, tăng 5,4%; tôm đạt 77,8 nghìn tấn, tăng 3,6%, trong đó sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 1.684,7 nghìn tấn, tăng 5,2%.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,7%, đóng góp 9,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung nhưng đang có xu hướng tăng chậm lại (quý I tăng 15,7%; quý II tăng 10,1%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 1,3%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm mức tăng chung.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2018 tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/6/2018 ước tính tăng 11,4% so với cùng thời điểm năm trước; tỷ lệ tồn kho bình quân 6 tháng là 63,4%.

  1. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm nay, cả nước có 64.531 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 649 nghìn tỷ đồng, tăng 5,3% về số doanh nghiệp và tăng 8,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 3,4%. Nếu tính cả 1.192,2 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 6 tháng năm 2018 là 1.841,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 16.449 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm nay lên gần 81 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 6 tháng đầu năm 2018 là 508,5 nghìn người, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2018 là 52.803 doanh nghiệp, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 17.984 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 25,1% và 34.819 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 48%[6]. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 6 tháng đầu năm 2018 là 6.629 doanh nghiệp, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 6.053 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,3% và tăng 20,6%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2018 cho thấy: Có 45% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay tốt hơn quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 37,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý III so với quý II năm nay, có 52,5% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,5% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

  1. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 2.120,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,3% (cao hơn mức tăng 7,9% của cùng kỳ năm 2017).

Vận tải hành khách 6 tháng đầu năm đạt 2.262,4 triệu lượt khách, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước và 100,2 tỷ lượt khách.km, tăng 10,6%. Vận tải hàng hóa 6 tháng đạt 796,2 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 147,9 tỷ tấn.km, tăng 6,6%.

Doanh thu hoạt động viễn thông 6 tháng đầu năm 2018 đạt 188,3 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến nước ta trong 6 tháng ước tính đạt 7,9 triệu lượt người, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/6/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 7,96% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm trước tăng 5,69%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 7,78% (cùng kỳ năm 2017 tăng 5,89%); tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2018 đạt 6,35% (cùng kỳ năm trước tăng 7,54%).

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng ước tính tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 32%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 13%.

  1. Đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành ước tính đạt 747,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,9% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 249,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,4% tổng vốn và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 308,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,3% và tăng 17,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 189,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,3% và tăng 8,5%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2018 thu hút 1.366 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11.799,8 triệu USD, tăng 15,5% về số dự án và giảm 0,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 507 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.434,2 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 6 tháng đạt 16.234 triệu USD, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 8,37 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 6 tháng năm 2018 còn có 2.749 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,1 tỷ USD, tăng 82,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 390 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 1,4 tỷ USD và 2.359 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,7 tỷ USD.

Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, trong 6 tháng năm nay có 67 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư của phía Việt Nam là 222,5 triệu USD; 16 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 40,6 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 6 tháng đầu năm 2018 đạt 263,1 triệu USD.

  1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2018 ước tính đạt 582,1 nghìn tỷ đồng, bằng 44,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 462,7 nghìn tỷ đồng, bằng 42,1%; thu từ dầu thô 27 nghìn tỷ đồng, bằng 75,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 92 nghìn tỷ đồng, bằng 51,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2018 ước tính đạt 586 nghìn tỷ đồng, bằng 38,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 416 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2%; chi trả nợ lãi 55,9 nghìn tỷ đồng, bằng 49,7%; riêng chi đầu tư phát triển mới bằng 27,8% dự toán năm tương ứng với 111,1 nghìn tỷ đồng.

  1. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước tính đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 33,07 tỷ USD, tăng 19,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 80,86 tỷ USD (chiếm tới 71% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 14,5%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng ước tính đạt 111,22 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 46,01 tỷ USD, tăng 12,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 65,21 tỷ USD, tăng 8,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Cán cân thương mại hàng hóa duy trì xuất siêu từ tháng 1 đến tháng 4 nhưng đã bắt đầu nhập siêu trong tháng 5 và tháng 6/2018. Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Năm nhập siêu 814 triệu USD[7]; tháng Sáu ước tính nhập siêu 100 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm tiếp tục xuất siêu 2,71 tỷ USD[8], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 12,94 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 15,65 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 7,5 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó dịch vụ du lịch đạt 5,2 tỷ USD (chiếm 69,1% tổng kim ngạch), tăng 18,9%; dịch vụ vận tải đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 18,7%), tăng 11,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,2 tỷ USD (chiếm 47,4% tổng kim ngạch), tăng 7,5%; dịch vụ du lịch đạt 2,7 tỷ USD (chiếm 31%), tăng 9,4%. Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng là 1,3 tỷ USD, bằng 18% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

  1. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2018 tăng 0,61% so với tháng trước, là tháng Sáu có CPI tăng cao nhất trong 7 năm qua[9]. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 3,29% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 6/2018 tăng 2,22% so với tháng 12/2017 và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 6/2018 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 1,35% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 6/2018 giảm 0,79% so với tháng trước; tăng 2,08% so với tháng 12/2017 và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2018 tăng 0,2% so với tháng trước; tăng 0,46% so với tháng 12/2017 và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm 2017.

  1. Một số tình hình xã hội

a) Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,66 triệu người, bao gồm dân số thành thị 33,63 triệu người, chiếm 35,5%; dân số nông thôn 61,03 triệu người, chiếm 64,5%; dân số nam 46,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,91 triệu người, chiếm 50,6%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/7/2018 ước tính là 55,1 triệu người, tăng 594 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2017; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính là 48,4 triệu người, tăng 539,8 nghìn người.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý II/2018 ước tính tương đương quý I/2018 là 2,2%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018 ước tính là 2,2%, trong đó khu vực thành thị là 3,12%; khu vực nông thôn là 1,74%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 1,52%; quý II ước tính là 1,50%. Tính chung 6 tháng đầu năm nay ước tính là 1,51%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,64%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,95%.

b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2018 được cải thiện, nhất là ở khu vực nông thôn. Thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Sáu, cả nước có 3,1 nghìn hộ thiếu đói, giảm 80,5% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 12,5 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 80,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có 94 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 39,6% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 373,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 41,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 6,9 nghìn tấn lương thực.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 6 tháng đầu năm là 3,6 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó có 21,7 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

c) Tai nạn giao thông

Trong 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8.999 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.644 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4.355 vụ va chạm giao thông, làm 4.103 người chết, 2.465 người bị thương và 4.562 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 6,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 9,2%); số người chết giảm 0,7%; số người bị thương tăng 3,3% và số người bị thương nhẹ giảm 17,8%.

Đáng lưu ý thời gian qua xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng. Trong 4 ngày liên tiếp cuối tháng Năm đã xảy ra 5 vụ tai nạn giao thông đường sắt, trong đó có vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa ngày 24/5 làm 2 người chết, 10 người bị thương, 150 m đường sắt bị hư hỏng, 6 toa tàu và đầu máy bị lật đổ; vụ tai nạn giao thông giữa hai tàu hàng xảy ra ngày 26/5 ngay trong khu vực ga Núi Thành, Quảng Nam làm 4 toa xe hàng trật khỏi đường ray, hai đầu máy hư hỏng nặng, dù không có thiệt hại về người nhưng ảnh hưởng đến tài sản nhà nước và uy tín của ngành.

  1. d) Thiệt hại do thiên tai 

Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, thiên tai trong 6 tháng đầu năm[10] đã làm 33 người chết và mất tích, 47 người bị thương; 15 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; gần 11 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính hơn 808 tỷ đồng. Đáng chú ý là đợt mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất xảy ra tại miền núi phía Bắc ngày 22-26/6 đã làm 15 người chết, 11 người mất tích, 7 người bị thương; hơn 1,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, hư hỏng, cuốn trôi và ngập nước; 1,2 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 5,5 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ bị sạt lở gây ách tắc giao thông, thiệt hại ước tính hơn 140 tỷ đồng.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan chức năng đã phát hiện 7.691 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 7.178 vụ với tổng số tiền phạt 98 tỷ đồng. Trong 6 tháng, cả nước xảy ra 2.091 vụ cháy, nổ, làm 67 người chết và 169 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 1.200 tỷ đồng.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ


[1] Tăng trưởng GDP 6 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 5,92%; năm 2012 tăng 4,93%; năm 2013 tăng 4,90%; năm 2014 tăng 5,22%; năm 2015 tăng 6,32%; năm 2016 tăng 5,65%; năm 2017 tăng 5,83%; năm 2018 tăng 7,08%.

[2] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 3,13%; năm 2013 tăng 2,06%; năm 2014 tăng 2,90%; năm 2015 tăng 2,22%; năm 2016 giảm 0,18%; năm 2017 tăng 2,75%; năm 2018 tăng 3,93%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản 6 tháng của các năm 2011-2018 lần lượt là: 3,40%; 4,85%; 2,34%; 5,89%; 3,30%; 1,25%; 5,08%; 6,41%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng của các năm 2012-2018 lần lượt là: 8,96%; 5,61%; 6,61%; 10%; 10,5%; 10,52%; 13,02%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành dịch vụ 6 tháng của các năm 2012-2018 lần lượt là: 6,11%; 6,13%; 5,82%; 5,86%; 6,47%; 6,89%; 6,90%.

[6] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể tăng cao trong đó có nguyên nhân thời gian này các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[7] Ước tính tháng Năm nhập siêu 500 triệu USD.

[8] Trong đó, 6 tháng đầu năm nhập siêu từ Hàn Quốc 13,9 tỷ USD, giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 14,5 tỷ USD, tăng 4%.

[9] Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Sáu so với tháng trước một số năm như sau: Năm 2012 giảm 0,26%; năm 2013 tăng 0,05%; năm 2014 tăng 0,3%; năm 2015 tăng 0,35%; năm 2016 tăng 0,46%; năm 2017 giảm 0,17%; năm 2018 tăng 0,61%.

[10] Chưa bao gồm thiệt hại do mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất tại các tỉnh miền núi phía Bắc ngày 22-26/6/2018.