Tiếng Việt | FAQ | Sitemap
GENERAL STATISTICS OFFICE of VIET NAM
54 Nguyen Chi Thanh str, Dong Da, Ha Noi, Vietnam
  
TIẾNG VIỆT
Population and Employment 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 3/2016 (506)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 3/2016 (506)

Ra hàng tháng. Năm thứ 55

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

 

Hội nghị đại biểu công chức, viên chức và người lao động cơ quan Tổng cục Thống kê năm 2016

Phương án Điều tra Doanh nghiệp năm 2016

Ngành Thống kê tiến hành điều tra doanh nghiệp năm 2016

¨ TS. PHẠM ĐÌNH THÚY

Một số điểm lưu ý trong triển khai Điều tra doanh nghiệp năm 2016

¨ ThS. NGUYỄN HUY MINH

Big Data trong thống kê

¨ VŨ TRỌNG NGHĨA

 

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước Quý I năm 2016

Ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) - Cơ hội và thách thức cho các DNVVN Việt Nam

¨ TS. HÀ THỊ THÚY VÂN

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA)

¨ TS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – HUỲNH HUYỀN TRÂN

Ngân hàng Việt Nam hội nhập khung ngân hàng ASEAN (ABIF) trong AEC - Cơ hội và thách thức

¨ ThS. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao tại Việt Nam

¨ TS. ĐẶNG VĂN DÂN

Kinh nghiệm của một số quốc gia trong sản xuất nông sản “sạch” và gợi ý cho Việt Nam

¨ ThS. LƯƠNG HƯƠNG GIANG – BÙI THỊ HỒNG NHUNG

Các Chương trình Mục tiêu quốc gia góp phần nâng cao đời sống nhân dân

¨ ThS. NGUYỄN THỊ ANH PHƯƠNG

Những nét chính trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em qua kết quả MICS 2014

¨ ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGỌC

Một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch tới Bà Rịa - Vũng Tàu

¨ TS. PHẠM HÙNG CƯỜNG – TRỊNH THỤC QUÂN

Thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững tại Nghệ An

¨ LÊ VIỆT HÙNG

Một số kết quả giảm nghèo ở Cao Bằng giai đoạn 2011 – 2015

¨ ThS. ĐINH THỊ THÚY HƯỜNG

Tin địa phương

 

HÀ TĨNH - TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI ĐẦU TƯ

Hà Tĩnh đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội

¨ TRẦN NHẬT TÂN

Huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh - Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

Nét mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở Kỳ Giang

Đức Thọ - Tiềm năng và triển vọng hợp tác đầu tư

¨ TRẦN HOÀI ĐỨC

Đức Lâm: phát huy sức dân trong xây dựng nông thôn mới

¨ KIỀU THỦY

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Vài nét về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế của Việt Nam

¨ ThS. TRẦN THỊ THANH HƯƠNG

QUỐC TẾ

Một số bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển nông nghiệp của Đài Loan trong công nghiệp hóa

¨ ThS. VŨ THỊ THÚY HẰNG

VUI VUI THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số tháng 3/2016

 

NGÀNH THỐNG KÊ TIẾN HÀNH ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP NĂM 2016

 

TS. Phạm Đình Thúy

Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp – TCTK,

Tổ trưởng tổ thường trực chỉ đạo ĐTDN TW

 

Điều tra doanh nghiệp (ĐTDN) hàng năm là một trong những cuộc điều tra lớn và quan trọng nhất của ngành Thống kê trong Chương trình điều tra thống kê quốc gia do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cuộc ĐTDN năm 2016 nhằm thu thập thông tin về toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp năm 2015, là năm giữa thập kỷ, năm kết thúc kế hoạch 5 năm 2011-2016 và là năm gối đầu cho kế hoạch 5 năm 2016-2020. Với ý nghĩa quan trọng đó, ngành Thống kê rất quan tâm và tạo mọi điều kiện để tổ chức triển khai hiệu quả cuộc điều tra.

ĐTDN năm nay có nhiều điểm khác so các năm trước, có thể kể đến 4 điểm khác biệt chủ yếu sau:

Thứ nhất, bên cạnh việc thu thập thông tin đầy đủ theo đơn vị doanh nghiệp như hàng năm, trong cuộc ĐTDN năm nay, ngành Thống kê đặt trọng tâm vào việc thu thập đầy đủ thông tin theo đơn vị cơ sở trực thuộc doanh nghiệp, phục vụ tính toán, phân bổ đầy đủ và chính xác hơn kết quả SXKD nói chung và GDP nói riêng khu vực doanh nghiệp của cả nước cũng như của các tỉnh, TP (theo Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Hiện ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam có quy mô lớn, hoạt động đa ngành nghề, có nhiều cơ sở SXKD đóng ở nhiều địa điểm khác nhau trên phạm vi cả nước, thậm chí có các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài. Do vậy, việc thu thập đầy đủ thông tin theo đơn vị cơ sở trong tất cả các cuộc điều tra, đặc biệt là ĐTDN vào thời điểm hiện nay và thời gian tới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngành Thống kê.

Thứ hai, năm 2016 là năm ngành Thống kê thực hiện Tổng điều tra (TĐT) Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản (theo chu kỳ 5 năm 1 lần), do vậy các doanh nghiệp, HTX trong cuộc điều tra năm nay (là một bộ phận của cuộc Tổng điều tra này) sẽ được điều tra toàn bộ nhằm thu thập đầy đủ, chi tiết các thông tin đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Theo số liệu của Ngành Thống kê, hiện các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của nước ta chỉ chiếm chưa đến 1% số doanh nghiệp, đóng góp chưa tới 1% giá trị tăng thêm của khu vực doanh nghiệp và chưa tới 0,4% cho ngân sách Nhà nước. Các con số này cho thấy, hoạt động của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản nước ta (ngành hiện thu hút phần lớn lao động toàn xã hội) đến nay, vẫn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và do các hộ nông nghiệp thực hiện là chủ yếu. Thực trạng này tất yếu dẫn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của ngành này rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Thông tin đầy đủ thu được từ cuộc điều tra sẽ cung cấp một bức tranh rõ nét hơn về thực trạng và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Từ đó các nhà quản lý có căn cứ hoạch định các chủ trương, chính sách trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong doanh nghiệp.

Thứ ba, năm 2015 là năm chuyển đổi năm gốc so sánh của nhiều chỉ tiêu thống kê. Công nghiệp là một ngành kinh tế lớn (hiện chiếm khoảng 33% GDP) của nền kinh tế - sẽ được ngành Thống kê chuyển đổi năm gốc so sánh cho chỉ tiêu “chỉ số sản xuất, tiêu thụ và tồn kho” ngành công nghiệp (theo chu kỳ chuyển đổi năm gốc so sánh 5 năm một lần). Do vậy, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp sẽ được điều tra toàn bộ theo phiếu chuyên ngành công nghiệp, nhằm thu thập đầy đủ thông tin phục vụ cho mục đích này.

Thứ tư, ĐTDN 2016 sẽ thu thập, tổng hợp và công bố thông tin về thực trạng, sự hiểu biết cũng như công tác chuẩn bị, mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tham gia hội nhập quốc tế. Những năm gần đây, Chính phủ, các Bộ, ngành rất tích cực đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do trong khu vực và quốc tế, điển hình như các hiệp định FTA hay Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP. Chính phủ quan tâm là vậy, tuy nhiên theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, hiện vẫn còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự sẵn sàng trong đầu tư hay xây dựng chiến lược đầy đủ để tham gia hội nhập quốc tế. Thực trạng này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và hiệu quả hội nhập của chính các doanh nghiệp nói riêng. Do vậy, thông tin thu thập được từ cuộc ĐTDN năm nay về chủ đề hội nhập quốc tế sẽ giúp các nhà quản lý có bức tranh rõ nét hơn về thực trạng và mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam và tham gia hội nhập quốc tế. Từ đó, Chính phủ, các cấp, các ngành có căn cứ hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển cho phù hợp.

Công tác triển khai Điều tra Doanh nghiệp năm 2016

- Ngày 22/02/2016 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ký Quyết định số 47/QĐ-TCTK về việc tổ chức điều tra doanh nghiệp năm 2016. Ngay sau đó, trong hai ngày 25-26/02/2016, Tổng cục Thống kê đã tổ chức hội nghị tập huấn nghiệp vụ điều tra cho các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước tại tỉnh Khánh Hòa.

- Toàn bộ tài liệu liên quan đến cuộc điều tra gồm: Tài liệu hướng dẫn điều tra, phiếu điều tra và danh sách các doanh nghiệp chọn mẫu điều tra, danh sách các doanh nghiệp tăng mới, giải thể, phá sản, danh sách các cơ sở trực thuộc doanh nghiệp và các tài liệu liên quan khác đã được gửi đến Cục Thống kê tỉnh, thành phố trong tháng 2, đầu tháng 3/2016 phục vụ kịp thời cho công tác chuẩn bị điều tra tại các địa phương.

- Các Cục Thống kê tỉnh, thành phố đã tiến hành xây dựng kế hoạch điều tra cấp tỉnh, thành lập tổ thường trực chỉ đạo điều tra doanh nghiệp cấp tỉnh, đồng thời tiến hành tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ điều tra cho các giám sát viên và điều tra viên cấp tỉnh và các chi cục thống kê cấp huyện.

- Thực hiện Quyết định số 87QĐ-TCTK ngày 09/3/2016 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về việc tăng cường công tác thanh, kiểm tra đối với các cuộc điều tra thống kê, Tổ thường trực chỉ đạo điều tra doanh nghiệp TW đã xây dựng kế hoạch, phân công trách nhiệm cho các thành viên Tổ Thường trực và các đơn vị liên quan, đặc biệt chú trọng công tác tổ chức các đoàn giám sát, kiểm tra việc triển khai thực hiện điều tra doanh nghiệp tại các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đảm bảo toàn Ngành Thống kê kê từ Trung ương tới các địa phương triển khai nghiêm túc, đúng kế hoạch quy định trong phương án điều tra, đồng thời đảm bảo ngày càng nâng cao chất lượng số liệu điều tra.

- Trang web điều hành tác nghiệp của cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2016 đã được thiết kế, đặt tại địa chỉ http://www.gso.gov.vn/ để các đối tượng cung cấp và người sử dụng thông tin có thể tham khảo các tài liệu liên quan đến cuộc điều Tra./.

 

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý TRONG TRIỂN KHAI ĐIỀU TRA

DOANH NGHIỆP NĂM 2016

ThS. Nguyễn Huy Minh

Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp – TCTK

 

Điều tra doanh nghiệp năm 2016 đã được Ngành Thống kê triển khai theo Quyết định số 47/QĐ- TCTK, ngày 22 tháng 02 năm 2016 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Đây là cuộc điều tra lớn, có nhiều nội dung phức tạp trong Chương trình điều tra thống kê quốc gia do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đơn vị điều tra: gồm doanh nghiệp/HTX và các cơ sở trực thuộc doanh nghiệp/HTX. Phiếu thu thập thông tin gồm 21 loại phiếu, chia ra:

+ Các phiếu điều tra áp dụng chung cho doanh nghiệp: gồm Phiếu 1A/ĐTDN-DN áp dụng đối với doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra và Phiếu 1B/ĐTDN-DS áp dụng cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước, HTX thuộc đối tượng lập danh sách;

+ Các phiếu điều tra theo chuyên ngành: gồm Phiếu 1A.1.1/ĐTDN-HTX đến 1A.9.3/ĐTDN-DVK áp dụng đối với doanh nghiệp đơn/cơ sở trực thuộc doanh nghiệp có các hoạt động chuyên ngành;

+ Các phiếu điều tra theo chuyên đề: gồm Phiếu 1A.10/ĐTDN-HĐTM và phiếu 1Am/ĐTDN-KH áp dụng cho doanh nghiệp được chọn vào mẫu điều tra;

Thời điểm điều tra, bắt đầu từ 01/3/2016 và kết thúc thu thập thông tin vào 05/6/2016.

Tính đến thời điểm này, khâu chuẩn bị đã hoàn tất và bước vào giai đoạn triển khai điều tra thu thập số liệu. Trong quá trình triển khai cần lưu ý một số nội dung sau:

(1) Đơn vị điều tra thực hiện phiếu 1A/ĐTDN-DN

Doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra phiếu 1A/ĐTDN-DN đã được Tổ Thường trực chỉ đạo điều tra TW chọn và gửi cho các Cục Thống kê tỉnh, thành phố cùng với danh sách các đơn vị trực thuộc doanh nghiệp trên địa bàn và danh sách doanh nghiệp tăng mới trong năm 2015. Trong quá trình rà soát danh sách DN được chọn mẫu điều tra theo phiếu 1A-ĐTDN, nếu Cục Thống kê phát hiện có DN thuộc đối tượng điều tra phiếu 1A/ĐTDN theo quy định trong phương án nhưng không có trong danh sách chọn mẫu do Tổng cục chọn và gửi về, các Cục Thống kê cần chủ động bổ sung các DN này thực hiện điều tra theo phiếu 1A/ĐTDN.

Doanh nghiệp có 2 cơ sở trở lên đóng trên cùng địa bàn tỉnh, TP với trụ sở chính của DN không được chọn mẫu điều tra phiếu 1A/ĐTDN-DN thì sẽ tiến hành điều tra phiếu 1B/ĐTDN-DS.

(2)  Đơn vị cơ sở trong điều tra doanh nghiệp 2016

Được xác định theo 3 tiêu chí: Là đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có địa điểm cố định (cùng hoặc không cùng địa điểm với trụ sở chính của doanh nghiệp), có người quản lý; Trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD, cung cấp dịch vụ cho bên ngoài hoặc để sử dụng nội bộ trong DN và tính toán được một số chỉ tiêu như lao động, doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hoặc chi phí SXKD và được cơ quan thuế cấp mã số thuế 13 số. Do đó, đối với doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra phiếu 1A/ĐTDN-DN có cơ sở thì yêu cầu DN kê khai mỗi cơ sở thực hiện một phiếu chuyên ngành tương ứng với ngành hoạt động chính của cơ sở.

Trường hợp DN có nhiều cơ sở trực thuộc, chỉ tính là đơn vị điều tra đối với các cơ sở trực tiếp SXKD. Đối với các cơ sở mặc dù đóng ở địa điểm khác với trụ sở chính của DN, có mã số thuế 13 số nhưng không trực tiếp SXKD (kể cả cơ sở có địa điểm đóng ở tỉnh, TP khác trụ sở chính của DN), ví dụ: cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm chỉ của DN, trường mẫu giáo, trung tâm đào tạo của DN thì không tính là một cơ sở, không áp dụng phiếu chuyên ngành. Các cơ sở này gộp chung vào văn phòng trụ sở chính - ghi toàn bộ thông tin vào câu 19.1 phiếu 1A/ĐTDN -DN dành cho trụ sở chính của DN.

(3) Phiếu điều tra

Doanh nghiệp chỉ khai thông tin phiếu chuyên ngành cho doanh nghiệp đơn/cơ sở trực thuộc doanh nghiệp đối với doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra phiếu 1A/ĐTDN-DN, ngoại trừ các DN/cơ sở trực thuộc DN có hoạt động công nghiệp sẽ thực hiện 100% theo phiếu chuyên ngành công nghiệp - phiếu 1A.2/ĐTDN-CN.

Doanh nghiệp không thuộc mẫu điều tra phiếu 1A/ĐTDN thì thực hiện phiếu 1B/ĐTDN-DS.

Lưu ý: Phiếu 1A.7.2/ĐTDN-XNKDVTCNH: Hoạt động xuất, nhập khẩu dịch vụ của ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ do Tổng cục Thống kê chủ trì thu thập thông tin.

(4) Thay thế mẫu điều tra

Trong quá trình triển khai thu thập thông tin đối với doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra phiếu 1A/ĐTDN -DN; phiếu 1Am/ĐTDN-KH nếu doanh nghiệp đó ngừng hoạt động, giải thể, phá sản; chuyển đổi ngành hoạt động thì sẽ chọn mẫu thay thế theo nguyên tắc chọn doanh nghiệp cùng loại hình, cùng ngành hoạt động SXKD cấp 4 và quy mô doanh thu hoặc lao động gần bằng nhất với doanh nghiệp được thay thế.

Riêng đối với doanh nghiệp được chọn điều tra mẫu Phiếu 1A.10/ĐTDN-HĐTM trong quá trình thu thập thông tin nếu doanh nghiệp đó ngừng hoạt động, giải thể, phá sản; chuyển đổi ngành hoạt động sẽ không chọn thay thế./.

 

NGÂN HÀNG VIỆT NAM HỘI NHẬP KHUNG NGÂN HÀNG ASEAN (ABIF)
TRONG AEC - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ThS. Nguyễn Mạnh Hùng

Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

 

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập đã đánh dấu cột mốc quan trọng trong quá trình hội nhập ASEAN. Với việc tự do hóa luồng hàng hóa dịch vụ, dòng chu chuyển đầu tư và dòng vốn, AEC sẽ đem lại những cơ hội cũng như thách thức cho sự phát triển thị trường tài chính, ngân hàng của các nước AEC nói chung và cho Việt Nam nói riêng.

 

Khung hợp nhất ngân hàng ASEAN (ABIF)

Khung ngân hàng ASEAN được thiết kế để cho phép các ngân hàng trong khối ASEAN hòa nhập và hoạt động ổn định tại môi trường các nước thành viên khác trong ASEAN, với mục đích loại bỏ phân biệt đối xử với các ngân hàng nước ngoài và để tạo ra một môi trường ngân hàng không biên giới, phát triển bền vững trong khắp khu vực. (…)

Hội nhập ngân hàng sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế và hòa nhập tài chính. Một ngân hàng tích hợp khu vực sẽ mang đến sự cạnh tranh lớn hơn, cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng tính hiệu quả và giảm chi phí hoạt động, do đó sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư trong ASEAN. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) sẽ tiếp cận tốt hơn các dịch vụ tài chính của các ngân hàng ASEAN. Đồng thời, các ngân hàng mạnh trong khu vực có thể tiếp cận và cung cấp sản phẩm dịch vụ tới phân khúc rộng lớn trong ASEAN. (…)

Trong bối cảnh hội nhập AEC, các ngân hàng sẽ cạnh tranh gay gắt và khốc liệt do đó các ngân hàng sẽ không ngừng tự hoàn thiện và phát triển sản phẩm dịch vụ, nâng cao hiệu quả hoạt động, dịch vụ hậu mãi, hướng đến các tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao vị thế, uy tín, phong cách làm việc tới công chúng, nhà đầu tư đồng thời giúp khách hàng có thể chắt lọc, lựa chọn sản phẩm, dịch vụ một cách tốt nhất.

Cơ hội và thách thức cho ngành ngân hàng Việt Nam

Đón đầu xu thế hội nhập từ AEC, nhiều ngân hàng thương mại của các nước ASEAN như Kasikorn của Thái Lan, Ngân hàng Phát triển Singapore, Maybank của Malaysia… đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mang lại cơ hội cho người tiêu dùng có sự lựa chọn đa dạng hóa hơn đối với các sản phẩm dịch vụ tài chính, chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao do các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt hơn. Bên cạnh đó, một số ngân hàng thương mại Việt Nam như BIDV, VietinBank, Vietcombank cũng tăng sự hiện diện của mình ở một số nước trong khu vực như Lào, Campuchia, Myanmar và Singapore bằng việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện. Theo nhận định của chuyên gia kinh tế, với nỗ lực mở rộng cơ hội đầu tư ra ngoài lãnh thổ, ngân hàng các nước ASEAN đã góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch giữa các nước thành viên. Xu hướng này sẽ còn tiếp tục tăng khi AEC chính thức đi vào hoạt động. Ngoài ra, cạnh tranh khốc liệt hơn sẽ buộc các ngân hàng phải tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới, bằng cách mở rộng hoạt động về nông thôn, vùng sâu và vùng xa, vốn thường là những “điểm trắng” về dịch vụ ngân hàng. Sự hiện diện nhiều hơn của các ngân hàng ở nông thôn, vùng sâu và vùng xa sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương nói riêng và cả nước nói chung. (…)

Khuyến nghị

Về phía Ngân hàng Nhà nước, cần đảm bảo ổn định tài chính, an toàn hệ thống thông tin, an ninh tiền tệ. Tiếp tục đổi mới mô hình và cách thức giám sát thị trường tài chính, đồng thời xây dựng các quy định, tiêu chuẩn thanh tra, giám sát trên cơ sở thông lệ và chuẩn mực quốc tế hiện hành. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập, môi trường kinh doanh bình đẳng; Tăng cường phối hợp và gấp rút hoàn thiện khung pháp lý chung với các nước trong khu vực ASEAN trong việc quản lý hoạt động ngân hàng; Tiếp tục chủ trương tái cấu trúc tổng thể ngành ngân hàng (tài chính, nhân lực, quản trị, công nghệ).

Về phía các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, nâng cao năng lực tài chính, quản trị, xây dựng ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế; Nỗ lực chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ, áp dụng công nghệ thông tin – điện tử tiên tiến, triển khai áp dụng các tiêu chuẩn Basel II, minh bạch hóa thông tin.

Thứ hai, đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính, tạo tiền đề phát triển bền vững và hội nhập toàn diện.

Thứ ba, củng cố hạ tầng công nghệ thông tin, điện tử thanh toán, an ninh mạng nhằm kết nối an toàn, thông suốt với các ngân hàng trong khối.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cả về chuyên môn nghiệp vụ và giao tiếp quốc tế.

Trước những cơ hội và thách thức từ AEC, để hội nhập bền vững và ổn định, đòi hỏi cần có những chiến lược cụ thể trong việc cải tổ, hoàn thiện và nâng cao năng lực hoạt động của ngành Ngân hàng nhằm mục tiêu đưa nền kinh tế Việt Nam từng bước đi lên và hội nhập toàn diện./.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TỚI BÀ RỊA – VŨNG TÀU

 
TS. Phạm Hùng Cường - Trịnh Thục Quân

Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II. TP. Hồ Chí Minh

 

Với bờ biển dài và thời tiết thuận lợi, Bà Rịa – Vũng Tàu đã trở thành điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Từ những lợi thế vốn có này, Bà Rịa – Vũng Tàu đã tập trung đa dạng hóa các loại hình sản phẩm du lịch chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của du khách.

 

Tiềm năng được khai thác có hiệu quả

Nằm trong vùng Đông Nam Bộ, Bà Rịa - Vũng Tàu có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông thuận lợi. Bên cạnh đó, Tỉnh còn có bờ biển dài 305,4 km với khoảng 156 km có bãi cát thoai thoải, nước xanh, có thể sử dụng làm bãi tắm và hình thành các resort cao cấp kết hợp các loại hình du lịch thể thao biển. Vị trí địa lý và khí hậu đã mang lại cho Bà Rịa - Vũng Tàu nhiều thuận lợi về mặt du lịch đó là: Nằm trong vùng năng động nhất về kinh tế của Việt Nam nên có nhiều thuận lợi trong việc thu hút các nguồn khách du lịch của vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và TP. Hồ Chí Minh; Số giờ nắng cao trong năm, nhiệt độ không khí khá ổn định, không có mùa đông và ít bão là các yếu tố tạo cho Tỉnh có lợi thế hơn hẳn so với các tỉnh ven biển miền Bắc và miền Trung trong phát triển du lịch biển. (…)

Những vấn đề đặt ra

Bên cạnh kết quả đạt được, du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng đang tồn tại một số hạn chế, bất cập như:

Thương hiệu du lịch biển Vũng Tàu nhiều năm qua chưa phát triển, chưa thu hút được nhiều du khách có thu nhập cao, chịu chi tiêu và đặc biệt là khách quốc tế vẫn còn ít. Doanh thu từ ngành du lịch so với lượng khách đến thấp. (…)

Sản phẩm du lịch trên địa bàn Tỉnh chưa có đột biến, chưa có sản phẩm du lịch đặc trưng cho thương hiệu du lịch của Tỉnh. Là tỉnh có tiềm năng tài nguyên biển và đảo, nhưng số lượng và chất lượng sản phẩm du lịch gắn với tiềm năng còn đơn điệu, chưa khai thác được giá trị tài nguyên biển, hệ sinh thái biển và đảo.

Các cơ sở kinh doanh du lịch (các khu du lịch, bãi tắm, cơ sở lưu trú, điểm tham quan, điểm mua sắm, dịch vụ giải trí) trên địa bàn Tỉnh tuy khá nhiều, nhưng ít cơ sở có sản phẩm du lịch chất lượng và quy mô lớn để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách chi tiêu cao. Sản phẩm du lịch vui chơi giải trí hầu như chưa phát triển, dẫn đến hiện tượng “khách cần tiêu tiền nhưng không có chỗ để tiêu”.

Đội ngũ nhân viên phục vụ trong ngành du lịch đa phần là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, nhất là về trình độ ngoại ngữ. Một số doanh nghiệp du lịch chưa thực hiện nghiêm quy định về giá các loại dịch vụ, như: buồng phòng, ăn uống, mua sắm, phao, dù...; vẫn còn tình trạng tăng giá vào mùa cao điểm.

Một số đề xuất

Một là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu và mở rộng thị trường, trong đó các sở, ngành liên quan cần tiến hành xây dựng và thực hiện đề án“Nghiên cứu thị trường mục tiêu”, đồng thời cam kết triển khai đồng bộ các nhiệm vụ đặt ra trong đề án; Tiến hành điều tra, thống kê, phân tích động cơ du lịch, số lượng du khách quốc tế, thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân của họ, từ đó xác định thị trường quốc tế trọng điểm, nhu cầu và sở thích của mỗi thị trường để định hình những sản phẩm du lịch chuyên biệt. (…)

Hai là, cải thiện chất lượng dịch vụ du lịch, theo đó cần: Tích cực thu hút đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí, mua sắm tổng hợp có quy mô lớn để đáp ứng cho nhu cầu của du khách quốc tế; Chú trọng xây dựng, nâng cấp các sân khấu, nhà hát lớn trên địa bàn để có nơi phục vụ cho công tác biểu diễn nghệ thuật truyền thống cũng như hiện đại, đem lại các trải nghiệm văn hóa thú vị cho du khách quốc tế; (…)

Ba là, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư và triển khai dự án, trong đó cần:

Theo dõi, cập nhật thường xuyên tiến độ các dự án đầu tư, kịp thời hỗ trợ chủ đầu tư tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai dự án nhằm đảm bảo tiến độ triển khai dự án đúng cam kết; (…)

Bốn là, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.

Trong đó cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn và dài hạn, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin cho các cán bộ quản lý Nhà nước và sự nghiệp trong ngành du lịch, tăng cường biên chế cán bộ phụ trách du lịch ở các huyện, thành phố để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch. (…)

Năm là, tăng cường công tác xúc tiến quảng bá và liên kết du lịch

Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu thông qua việc sử dụng biểu tượng du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu để quảng bá rộng rãi các sản phẩm du lịch, trong đó sử dụng biểu tượng và khẩu hiệu du lịch một cách nhất quán trong các chiến dịch truyền thông, quảng bá, xúc tiến du lịch nhằm để lại dấu ấn riêng biệt đối với du khách quốc tế (…)

Tập trung truyền thông vào các thị trường quốc tế trọng điểm thông qua các hình thức: website bằng ngôn ngữ của thị trường mục tiêu, các ấn phẩm quảng bá, tuyên truyền thông qua các đoàn ngoại giao của Tỉnh khi đến xúc tiến du lịch ở thị trường nước bạn hoặc ở các hội chợ quốc tế; Lựa chọn hợp tác với các kênh truyền hình quốc tế, các báo, tạp chí quốc tế về du lịch./.

 

HÀ TĨNH ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TẠO BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Trần Nhật Tân

Giám đốc Sở Công Thương Hà Tĩnh

Trước đây, Hà Tĩnh vốn là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước, nhưng những năm gần đây, bằng sự đổi mới tư duy, năng động, sáng tạo trong việc triển khai các giải pháp đột phá trong phát triển kinh tế, đặc biệt, với việc ưu tiên đẩy mạnh, phát triển ngành công nghiệp, Hà Tĩnh đã dần khẳng định được vị thế của mình, trở thành một trong những trung tâm công nghiệp trọng điểm của khu vực miền Trung và là một trong những tỉnh đứng tốp đầu về thu hút đầu tư nước ngoài (có dự án FDI lớn nhất Việt Nam 10 tỷ USD). (…)

Có thể nói, sự bứt phá tăng tốc của ngành công nghiệp trong những năm gần đây chính là nhân tố chủ lực đóng góp cho các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thu ngân sách tăng nhanh, năm 2015 đạt trên 15.000 tỷ đồng, gấp 7,6 lần so năm 2010 (riêng Khu kinh tế Vũng Áng đóng góp 42%); Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ chiếm 83,69%, nông nghiệp chỉ chiếm 16,31%); Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 tăng 38,3%; Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng giá trị công nghiệp chế biến, chế tạo từ 66,43% (năm 2010) lên 69,69% năm 2015; Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn (2011-2015) của các ngành dịch vụ đạt trên 15%; Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội bình quân tăng trên 23%/năm. (…)

Có thể nói, những kết quả ấn tượng về phát triển công nghiệp sẽ là tiền đề tốt để Hà Tĩnh bứt phá trong giai đoạn tiếp theo bằng hướng đi vững chắc. Với sự tự tin và quyết tâm cao, Hà Tĩnh đang nỗ lực huy động các nguồn lực, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội để nâng cấp Quốc lộ 1A, Quốc lộ 8A, Quốc lộ 12, đường ven biển; Cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương; Đầu tư kết cấu hạ tầng cho các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của Tỉnh; xây dựng Khu kinh tế Vũng Áng sớm trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ, cảng biển lớn của cả nước, khu vực và quốc tế; Phát triển nhanh các ngành công nghiệp nặng, cơ khí, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và công nghiệp hỗ trợ./.

 

MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

NÔNG NGHIỆP CỦA ĐÀI LOAN TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA

ThS. Vũ Thị Thúy Hằng

Đại học Lâm nghiệp

 

Là một lãnh thổ đất chật người đông, có tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn nhưng chỉ trong mấy chục năm qua Đài Loan đã thành công trong việc chuyển đổi từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang một nền kinh tế công nghiệp hóa mới. Vì vậy, những kinh nghiệm của Đài Loan trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn và chính sách phát triển nông nghiệp nói riêng là khá hữu ích đối với các nước đang phát triển

 
Xác định đúng vai trò của nông nghiệp và kịp thời điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của tiến trình CNH

Đài Loan hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp và công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn theo phương châm ‘‘lấy nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” và thực hiện chiến lược ‘‘nông nghiệp và công nghiệp cùng phát triển”.

Đầu những năm 50, Đài Loan có nền sản xuất nông nghiệp là chính. Để nền kinh tế phát triển ổn định lâu dài, Đài Loan đã xác định rõ trước tiên phải phát triển nông nghiệp, đặt nền móng tốt trong nông nghiệp, sau đó lấy sức mạnh của nông nghiệp hỗ trợ công nghiệp phát triển. Vì vậy, ngay từ năm 1949, Đài Loan đã thực hiện chính sách ‘‘Lấy nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp”. (…)

Sự lựa chọn chiến lược nông nghiệp và công nghiệp cùng phát triển của Đài Loan trong quá trình công nghiệp hoá không những làm cho nông nghiệp phát triển ổn định, tăng trưởng nông nghiệp Đài Loan luôn ở mức trên 5%/năm trong giai đoạn 1950 – 1980 mà còn làm cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 9% trong suốt giai đoạn 1960-1980, tạo tiền đề vững chắc cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt, hơn 70% lao động nông nghiệp của Đài Loan đã dịch chuyển sang các ngành công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ trong thời kỳ này.

Chú trọng thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học – kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nhằm gia tăng sản lượng, giá trị nông sản hàng hóa

Chính sách này không chỉ nhằm mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp mà còn tác động đến phát triển nông nghiệp.

Trong nhiều năm, Đài Loan đã dành không ít chi phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) với nhiều chính sách ưu đãi, như: Cung cấp vốn cho các quỹ đầu tư mạo hiểm; Tạo điều kiện tài chính thuận lợi cho các công ty phát triển các sản phẩm chiến lược; Thực hiện các biện pháp khuyến khích các công ty tư nhân phát triển sản phẩm bằng các khoản vay lãi thích hợp; Miễn toàn bộ thuế cho các chi phí trong hoạt động R&D và thực hiện chích sách khấu hao nhanh đối với các thiết bị nghiên cứu... (…)

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, dù không được xác định là trọng điểm của hoạt động R&D song Đài Loan cũng đã thành lập các cơ quan nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp để nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp như nghiên cứu và lai tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi, ứng dụng rộng rãi các loại thuốc nông nghiệp và máy móc nông nghiệp mới. Qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp về năng suất, chất lượng sản phẩm, giá trị sản lượng, giá trị nông sản hàng hóa.

Đẩy mạnh phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn

Xác định phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng là một trong những nội dung quan trọng nhằm khuyến khích, thu hút đầu tư, vì vậy ngay từ giai đoạn đầu công nghiệp hóa, Đài Loan đã chú trọng đầu tư vốn cải tạo và xây dựng mới hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển nông nghiệp như hệ thống thủy lợi, giao thông nông thôn…

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, Đài Loan đã hình thành nhiều khu công nghiệp ở các vùng nông thôn để khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nông thôn, nhất là các ngành công nghiệp chế biến nhằm gia tăng giá trị hàng hóa nông sản.

Việc hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng ở các vùng nông thôn đã mang lại hiệu quả cao, góp phần giảm chi phí sản xuất, chế biến, vận chuyển, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cư dân nông thôn.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn

Để thực hiện các mục tiêu đề ra trong công nghiệp hóa, Đài Loan đã tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với biện pháp hàng đầu là phát triển giáo dục đào tạo.

Một trong những chủ trương đầu tiên của chính sách này là phát triển giáo dục một cách toàn diện và hài hoà giữa các cấp bậc phổ thông, đại học và dạy nghề, giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, thực hiện chính sách phát triển giáo dục một cách đa dạng, bằng nhiều hình thức…

Đồng thời Đài Loan dành sự ưu tiên đặc biệt cho các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp, nơi đào tạo ra những kỹ sư, nhà khoa học,… để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Cùng với đó là những chính sách hấp dẫn để khuyến khích, thu hút du học sinh về nước.

Đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo đã cải thiện đáng kể trình độ văn hóa của dân cư và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đài Loan. Phần lớn nông dân Đài Loan đã có khả năng nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng những kỹ thuật mới, đưa những loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường vào sản xuất. Nhờ đó, năng suất lao động, giá trị sản lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp được nâng cao./.

 

 
OTHER INFORMATION
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2018 (536)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Special subject of analysis
  Statistical science activities
  GDDS
  Figures and Events Journal
  Exchange Rate (1/11/2012)
 BuySell
USD20820.0020870.00
JPY258.08264.47
HKD2641.742709.76
SGD16196.9316614.00
EUR26424.6826888.58
GBP32563.7233202.40