English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Công nghiệp 
Phương án điều tra doanh nghiệp năm 2005

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

**********

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

************

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2005

PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP NĂM 2005

(Theo Quyết định số: 86/2005/QĐ-TCTK ngày 18 tháng 01 năm 2005

của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê)

1. Mục đích điều tra

Cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2005 nhằm các mục đích sau:

1.1. Thu thập thông tin về các yếu tố của sản xuất (lao động, vốn, tài sản,...) và kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp năm 2004, nhằm đánh giá thực trạng và năng lực của các doanh nghiệp thuộc các ngành và các thành phần kinh tế. Đồng thời, cung cấp những thông tin cần thiết để tính các chỉ tiêu thuộc hệ thống tài khoản quốc gia và so sánh quốc tế đối với khu vực doanh nghiệp.

1.2. Cập nhật cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp phục vụ các yêu cầu thống kê doanh nghiệp và các yêu cầu khác.

2. Đối tượng, phạm vi và đơn vị điều tra

2.1. Đối tượng điều tra

Là các doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập được thành lập, chịu sự điều tiết bởi Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đi vào hoạt động SXKD trước 01/01/2005 và hiện đang tồn tại. Trong đó, bao gồm cả những doanh nghiệp hoạt động theo thời vụ không sản xuất đủ 12 tháng trong năm 2004, những doanh nghiệp tạm ngừng SXKD để đầu tư đổi mới, sửa chữa, xây dựng, mở rộng sản xuất, những doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ sát nhập, giải thể nhưng vẫn còn bộ máy quản lý để có thể trả lời được các câu hỏi trong phiếu điều tra (trường hợp không còn bộ máy quản lý để trả lời các câu hỏi của phiếu điều tra thì không đưa vào đối tượng điều tra).

2.2. Phạm vi điều tra

Gồm toàn bộ các doanh nghiệp thuộc đối tượng điều tra nói trên, đang hoạt động trong các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (trừ các hợp tác xã của 3 ngành này); Công nghiệp khai thác mỏ, Công nghiệp chế biến, Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước; Xây dựng; Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình; Khách sạn và nhà hàng; Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; Tài chính tín dụng; Hoạt động khoa học và công nghệ; Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn; Giáo dục và đào tạo; Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội; Hoạt động văn hoá và thể thao; Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng.

2.3. Đơn vị điều tra

Là các doanh nghiệp thuộc phạm vi điều tra, có đầy đủ tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, cụ thể gồm:

- Doanh nghiệp Nhà nước.

- Doanh nghiệp hợp tác xã (trừ hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản).

- Doanh nghiệp tư nhân.

- Công ty hợp danh.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn.

- Công ty cổ phần.

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

- Doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài.

Trường hợp doanh nghiệp cho thuê toàn bộ dây chuyền sản xuất kèm theo cả lao động, thì doanh nghiệp đi thuê báo cáo toàn bộ lao động, kết quả SXKD, nộp ngân sách của dây chuyền sản xuất đi thuê tạo ra. Đồng thời, doanh nghiệp cho thuê vẫn là 1 đơn vị điều tra và báo cáo số lao động còn lại, toàn bộ giá trị tài sản, nguồn vốn cho thuê và kết quả SXKD là khoản thu về cho thuê dây chuyền sản xuất cùng với các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp cho thuê toàn bộ dây chuyền sản xuất theo hình thức cho thuê tài chính thì bên đi thuê báo cáo toàn bộ lao động, nguồn vốn và giá trị tài sản, kết quả SXKD, nộp ngân sách của dây chuyền sản xuất đi thuê. Đồng thời, doanh nghiệp cho thuê vẫn là 1 đơn vị báo cáo theo ngành hoạt động là “cho thuê tài chính” (lưu ý: chỉ tiêu nguồn vốn và tài sản không bao gồm giá trị của dây chuyền sản xuất đã cho thuê).

3. Nội dung điều tra

3.1. Những chỉ tiêu nhận dạng đơn vị điều tra:

- Tên doanh nghiệp.

- Địa chỉ, điện thoại, Fax, Email.

- Loại hình doanh nghiệp.

- Ngành nghề hoạt động SXKD.

3.2. Những chỉ tiêu về SXKD

- Lao động.

- Tai nạn lao động.

- Thu nhập của người lao động.

- Số cơ sở.

- Tài sản và nguồn vốn.

- Tồn kho.

- Vốn đầu tư.

- Doanh thu.

- Sản phẩm SXKD.

- Lợi nhuận.

- Thuế và các khoản nộp ngân sách.

- Đào tạo nghề của doanh nghiệp.

- Cán bộ khoa học và đầu tư phát triển khoa học công nghệ.

-?ng dụng công nghệ thông tin.

- Một số chỉ tiêu về bảo vệ môi trường.

4. Phiếu điều tra và các bảng danh mục sử dụng cho cuộc điều tra

4.1. Phiếu điều tra: Có 2 loại phiếu điều tra:

4.1.1. Loại phiếu điều tra toàn bộ: Có các phiếu sau:

(1) Phiếu số 1A-ĐTDN: Phiếu thu thập thông tin về doanh nghiệp năm 2004

(Áp dụng cho toàn bộ các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên, 20% các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động được chọn điều tra và toàn bộ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc tất cả các ngành kinh tế quốc dân).

(2) Phiếu số 1B-ĐTDN: Phiếu thu thập thông tin về doanh nghiệp năm 2004

(Áp dụng cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động thuộc tất cả các ngành kinh tế quốc dân, nhưng không được chọn để điều tra theo phiếu 1A-ĐTDN).

(3) Phiếu số 2B-ĐTDN: Kết quả hoạt động trung gian tài chính và hoạt động hỗ trợ cho hoạt động tài chính tiền tệ năm 2004

(Áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng: Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân,...)

(4) Phiếu số 2C-ĐTDN: Kết quả hoạt động bảo hiểm và môi giới bảo hiểm năm 2004

(Áp dụng cho các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm)

Ghi chú: Mỗi doanh nghiệp thuộc phạm vi điều tra chỉ áp dụng một trong hai phiếu điều tra (hoặc phiếu số 1A hoặc phiếu số 1B). Riêng đối với các doanh nghiệp là tổ chức tín dụng: Ngân hàng, công ty tài chính, qũy tín dụng nhân dân,... thực hiện thêm phiếu số: 2B-ĐTDN; các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành bảo hiểm và môi giới bảo hiểm thực hiện thêm phiếu số: 2C-ĐTDN.

4.1.2. Loại phiếu điều tra mẫu: Có 1 phiếuC:

(1) Phiếu số 3-ĐTDN/M: Phiếu thu thập thông tin chi tiết về vốn đầu tư và tài sản cố định năm 2004

(Áp dụng cho các doanh nghiệp được chọn điều tra mẫu).

4.2. Bảng danh mục:

Có 5 bảng danh mục áp dụng cho cuộc điều tra:

- Bảng phân ngành kinh tế quốc dân.

- Bảng danh mục các đơn vị hành chính.

- Bảng danh mục sản phẩm công nghiệp, vận tải, viễn thông.

- Bảng danh mục các nước và vùng lãnh thổ.

- Bảng danh mục các ngành sản phẩm tính năng lực sản xuất mới tăng.

5. Thời điểm điều tra và thời kỳ thu thập số liệu

- Thực hiện điều tra thu thập số liệu tại các doanh nghiệp bắt đầu từ 01/3/2005.

- Số liệu thu thập của các chỉ tiêu thời kỳ (doanh thu, thuế, sản phẩm, thu nhập,...) là số chính thức của cả năm 2004, của các chỉ tiêu thời điểm (lao động, tài sản, nguồn vốn,...) là số liệu đầu năm và cuối năm 2004.

6. Phương pháp điều tra

Cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2005 được thực hiện theo phương pháp điều tra toàn bộ kết hợp với điều tra chọn mẫu.

6.1. Lập danh sách các đơn vị điều tra

Danh sách các đơn vị điều tra được lập trước khi tiến hành điều tra trên cơ sở các thông tin từ cuộc Điều tra toàn bộ doanh nghiệp (DN) năm 2004 và các nguồn thông tin của cơ quan thuế.

Cụ thể danh sách điều tra doanh nghiệp năm 2005 gồm:

- Danh sách các DN đã thu được phiếu trong cuộc điều tra DN năm 2004 (kể cả DN Nhà nước) (có tại Cục Thống kê tỉnh, TP).

- Danh sách các DN có đến 31/12/2004 nhưng chưa đi vào SXKD (có tại Cục Thống kê tỉnh, TP).

- Danh sách các DN thực tế còn tồn tại đến 31/12/2004 nhưng trong cuộc điều tra DN năm 2004 không thu được phiếu (có tại Cục Thống kê tỉnh, TP).

- Danh sách các DN được cơ quan thuế cấp mã số thuế trong năm 2004 (tính từ 01/01 đến 31/12/2004). Danh sách này do Tổng cục lập và gửi về cho các tỉnh, TP.

- Danh sách các DN ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động được chọn để điều tra theo phiếu 1A-ĐTDN do Tổng cục lập và gửi về cho các tỉnh, TP.

- Danh sách các DN được chọn mẫu để điều tra phiếu số 3-ĐTDN/M do Tổng cục lập và gửi về cho các tỉnh, TP.

6.2. Chọn mẫu điều tra

6.2.1. Chọn mẫu các DN ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động để điều tra theo phiếu 1A-ĐTDN

(1) Lập dàn chọn mẫu:

Dàn chọn mẫu được lập dựa trên danh sách các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động và số liệu từ cuộc Điều tra doanh nghiệp năm 2004. Dàn mẫu được phân tổ theo các ngành kinh tế cấp 2 (riêng ngành thương nghiệp, vận tải phân tổ theo ngành chi tiết hơn); Trong mỗi tổ (ngành), các doanh nghiệp được sắp xếp theo thứ tự giảm dần của chỉ tiêu doanh thu thuần hoạt động SXKD năm 2003.

(2) Chọn mẫu:

Số lượng DN ngoài quốc doanh được chọn để điều tra theo phiếu 1A-ĐTDN là 20% số DN có dưới 10 lao động trong danh sách các DN có thu được phiếu ở cuộc điều tra năm 2004.

Mẫu chọn theo nguyên tắc đại diện cho từng tổ (ngành) trên địa bàn tỉnh, TP theo phương pháp ngẫu nhiên rải đều. Nhưng do số lượng DN có dưới 10 lao động ở các tỉnh, TP rất chênh lệch, nhiều tỉnh có số lượng không nhiều, nên việc chọn các DN có dưới 10 lao động để điều tra phiếu 1A-ĐTDN chỉ được thực hiện ở 22 tỉnh, TP là: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hoà, TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ và Cà Mau. Các tỉnh còn lại thực hiện điều tra toàn bộ các DN theo phiếu 1A-ĐTDN.

6.2.2. Chọn mẫu các DN để điều tra theo phiếu số 3-ĐTDN/M

(1) Lập dàn chọn mẫu:

Dàn chọn mẫu được lập dựa trên danh sách toàn bộ các doanh nghiệp và số liệu từ cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2004 (72012 DN). Dàn mẫu được phân tổ theo 3 loại hình doanh nghiệp là :

- Doanh nghiệp nhà nước.

- Doanh nghiệp ngoài nhà nước.

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Số doanh nghiệp trong mỗi loại hình doanh nghiệp lại được phân thành các tiểu tổ theo ngành kinh tế cấp 2 hoặc nhóm ngành kinh tế cấp 2 có đặc trưng cơ cấu chủng loại TSCĐ gần như nhau. Các doanh nghiệp trong mỗi tiểu tổ được sắp xếp theo thứ tự giảm dần của chỉ tiêu giá trị tài sản cố định có đến 31/12/2003.

(2) Chọn mẫu:

Số lượng mẫu được chọn để điều tra phiếu số 3-ĐTDN/M là 9800 DN (chiếm khoảng 12% tổng số doanh nghiệp có đến 31/12/2004).

Mẫu được phân bổ cho các tổ và tiểu tổ theo tỷ trọng giá trị tài sản cố định của mỗi tổ và tiểu tổ trong tổng giá trị TSCĐ của doanh nghiệp có đến 31/12/2003.

Mẫu chọn theo nguyên tắc đại diện cho từng ngành kinh tế cấp 2 hoặc nhóm ngành kinh tế cấp 2 của mỗi loại hình doanh nghiệp trên phạm vi cả nước (không đại diện cho cấp tỉnh, thành phố). Phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên rải đều trên danh sách dàn mẫu của mỗi tiểu tổ.

6.2.3. Bổ sung khi mẫu bị mất:

Trường hợp mẫu chọn bị mất, giám sát viên được quyền bổ sung mẫu theo thứ tự ưu tiên sau:

(1) Doanh nghiệp trên địa bàn có cùng ngành, cùng loại hình, có qui mô lao động gần sát nhất với doanh nghiệp mẫu bị mất.

(2) Doanh nghiệp trên địa bàn có cùng ngành và có qui mô lao động gần sát nhất với doanh nghiệp mẫu bị mất.

(3) Doanh nghiệp trên địa bàn có qui mô lao động gần sát nhất với doanh nghiệp mẫu bị mất.

6.3. Phương pháp thu thập số liệu

Do tính chất phức tạp trong nội dung điều tra và trình độ kế toán, thống kê cũng như ứng dụng công nghệ thông tin của các đơn vị điều tra rất khác nhau, nên áp dụng 2 phương pháp thu thập số liệu là: trực tiếp và gián tiếp.

- Thu thập trực tiếp: Điều tra viên trực tiếp phỏng vấn đối tượng điều tra, đề nghị cung cấp số liệu, giải thích tình hình, trên cơ sở đó điều tra viên ghi vào phiếu điều tra. Phương pháp này được áp dụng đối với những đơn vị điều tra chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, không có khả năng tự ghi được phiếu điều tra (doanh nghiệp nhỏ dưới 10 lao động, doanh nghiệp chuẩn bị giải thể, doanh nghiệp đang bị thanh tra,...).

- Thu thập gián tiếp: Tổ chức hội nghị gồm kế toán trưởng, cán bộ nghiệp vụ kế toán hoặc thống kê của các đơn vị điều tra, hoặc điều tra viên trực tiếp hướng dẫn phương pháp ghi phiếu điều tra và những quy định cụ thể về nơi gửi, hình thức gửi, thời gian gửi, để các đơn vị điều tra tự ghi phiếu gửi cho cơ quan điều tra.

Trong thực tế cần kết hợp chặt chẽ cả 2 phương pháp để vừa tiết kiệm kinh phí và công sức của điều tra viên, vừa đảm bảo yêu cầu nhanh và chính xác của số liệu.

7. Kế hoạch tiến hành điều tra

Kế hoạch điều tra được chia ra các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị điều tra: Thời gian thực hiện từ 01/11/2004 đến 31/01/2005

Gồm các công việc:

(1) Ra quyết định điều tra.

(2) Xây dựng phương án điều tra.

(3) Xây dựng quy trình tổ chức chỉ đạo, triển khai điều tra.

(4) Xây dựng các bảng danh mục áp dụng cho cuộc điều tra.

(5) Lập danh sách các đơn vị điều tra.

(6) In phương án và phiếu điều tra.

Bước 2: Triển khai điều tra: Thời gian thực hiện từ 10/01 đến 15/5/2005.

Gồm các công việc:

(1) Chọn mẫu điều tra.

(2) Tuyển chọn điều tra viên và giám sát viên theo tiêu chuẩn quy định.

(3) Tập huấn nghiệp vụ cho điều tra viên và giám sát viên: Cục Thống kê tỉnh, TP chịu trách nhiệm tập huấn nghiệp vụ cho các điều tra viên, giám sát viên của tỉnh, TP và hướng dẫn cán bộ các doanh nghiệp về nội dung và phương pháp ghi phiếu điều tra trên cơ sở phương án điều tra của Tổng cục quy định.

Do phương án điều tra, phiếu điều tra và nội dung các chỉ tiêu điều tra cơ bản tương tự như cuộc điều tra toàn bộ doanh nghiệp năm 2004, nên tại cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2005 Tổng cục không tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các tỉnh, TP. Việc chỉ đạo thực hiện cuộc điều tra giữa Tổng cục với các Cục Thống kê tỉnh, TP sẽ được thực hiện qua các phương tiện: Mạng GSO, thư điện tử, công văn, điện thoại,...

(4) Triển khai điều tra thu thập thông tin tại các đơn vị điều tra.

(5) Thu thập, chỉnh lý, đánh ký mã hiệu phiếu điều tra tại các tỉnh, TP.

(6) Xây dựng hệ thống biểu tổng hợp đầu ra và chương trình phần mềm nhập tin, chương trình kiểm tra và tổng hợp kết quả điều tra cho các tỉnh, TP và cả nước.

Bước 3: Xử lý tổng hợp số liệu: Thời gian thực hiện từ 16/5 đến 30/6/2005.

Gồm các công việc:

(1) Nhập tin và kiểm tra số liệu sau nhập tin tại các tỉnh, TP và truyền số liệu về Trung tâm Tin học thống kê (chậm nhất là ngày 15/6/2005).

Nhập tin số liệu về doanh nghiệp sẽ được thực hiện trên cùng một chương trình phần mềm thống nhất cho cả nước do Trung tâm Tin học thống kê biên soạn. Chương trình nhập tin, kiểm tra nghiệm thu và tổng hợp số liệu sẽ được gửi tới các tỉnh, TP qua mạng GSO.

(2) Nghiệm thu số liệu đã nhập tin: Sau khi nhận được số liệu đã nhập tin của các tỉnh, TP truyền về Trung tâm Tin học thống kê, Tổ thường trực có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu kết quả qua mạng. Đối với các tỉnh, TP gửi số liệu về Tổng cục chậm hoặc số liệu qua kiểm tra nghiệm thu tại Tổng cục chưa đạt yêu cầu, Tổ Thường trực sẽ tổ chức nghiệm thu trực tiếp tại Cục Thống kê. Số liệu sau khi đã được Tổ Thường trực nghiệm thu đạt yêu cầu mới được đưa vào khai thác, tổng hợp ở các bước tiếp theo.

(3) Suy rộng từ kết quả điều tra mẫu các DN dưới 10 lao động

Các DN ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động được điều tra theo phiếu 1B sẽ có một số chỉ tiêu không có hoặc không được chi tiết như các DN điều tra phiếu 1A. Những chỉ tiêu không có hoặc không được chi tiết đó sẽ được suy rộng từ số liệu điều tra của các DN mẫu. Cụ thể:

a. Các chỉ tiêu không có sẽ được tính toán suy rộng như sau:

Chỉ tiêu

suy rộng

=

Chỉ tiêu mẫu

x

Tổng số DN ngoài QD có thu được phiếu 1B

Số DN mẫu

b. Các chỉ tiêu chỉ có tổng số, thiếu phần chi tiết, thì các phần chi tiết sẽ được suy rộng như sau:

Chỉ tiêu chi tiết suy rộng

=

Tỷ trọng chỉ tiêu chi tiết của mẫu

x

Tổng số chỉ tiêu đó được tổng hợp từ phiếu 1B

Tỷ trọng chỉ tiêu chi tiết

của mẫu

=

Chỉ tiêu chi tiết của mẫu

Tổng chỉ tiêu đó của mẫu

Ví dụ: + Chỉ tiêu lao động của mẫu là:

Tổng số : 1000 người

Nữ: 450 người

LĐ hợp đồng : 900 người

+ Tổng số lao động tổng hợp từ phiếu 1B là: 20000 người.

Vậy suy rộng chỉ tiêu chi tiết là lao động nữ và lao động có hợp đồng trong tổng số lao động của các doanh nghiệp điều tra theo phiếu 1B là:

· Tổng số lao động nữ = 450 người /1000 người x 20000 người = 9000 người.

· Tổng số lao động có hợp đồng = 900 người /1000 người x 20000 người = 18000 người.

(4) Khai thác số liệu để làm báo cáo chính thức năm 2004 tại các tỉnh, TP sau khi số liệu nhập tin đã được nghiệm thu đạt yêu cầu.

Bước 4: Tổng hợp, phân tích và công bố kết quả điều tra: Trong quí 3 và quí 4 năm 2005.

(1) Tổng hợp kết quả đầy đủ của cuộc điều tra.

(2) Phân tích và công bố kết quả điều tra.

8. Tổ chức chỉ đạo thực hiện

8.1. Chỉ đạo điều tra

Ở cấp Trung ương, thành lập Tổ thường trực giúp Tổng cục trưởng chỉ đạo triển khai điều tra. Tổ thường trực gồm Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Vụ trưởng Vụ Thống kê Thương mại - Dịch vụ và Giá cả, Vụ trưởng Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia và Giám đốc Trung tâm tin học thống kê, do Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng làm tổ trưởng. Tổ thường trực có trách nhiệm xây dựng phương án điều tra và các văn bản có liên quan, chỉ đạo triển khai, kiểm tra, giám sát điều tra ở các tỉnh, thành phố và tổng hợp, phân tích kết quả cuộc điều tra.

Các Vụ liên quan trực tiếp đến nội dung điều tra có trách nhiệm cử cán bộ làm giám sát viên theo dõi kiểm tra theo chức năng của các Vụ trong nội dung của cuộc điều tra.

Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do 1 lãnh đạo Cục Thống kê trực tiếp chỉ đạo. Giúp lãnh đạo Cục có các trưởng phòng nghiệp vụ: Công nghiệp và Xây dựng; Thương mại, Dịch vụ và Giá cả; Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Tổng hợp. Tùy tình hình cụ thể của từng tỉnh, thành phố mà Cục trưởng giao cho 1 trong các trưởng phòng nghiệp vụ nói trên làm tổ trưởng. Tổ trưởng có trách nhiệm điều hành hoạt động của tổ, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng nghiệp vụ có liên quan của Cục Thống kê và Phòng Thống kê các quận, huyện trong quá trình triển khai điều tra. Các phòng nghiệp vụ có liên quan chịu trách nhiệm chính trong việc thu thập, kiểm tra, chỉnh lý, đánh ký mã hiệu, nhập tin số liệu và kiểm tra số liệu đã nhập tin của các phiếu điều tra thuộc nghiệp vụ mình quản lý.

8.2. Tổ chức điều tra và xử lý tổng hợp

8.2.1. Tổ chức điều tra

Cuộc điều tra được tổ chức thực hiện theo lãnh thổ. Cục Thống kê tỉnh, TP chịu trách nhiệm hướng dẫn triển khai điều tra thu thập số liệu tại các đơn vị điều tra trên địa bàn lãnh thổ; kiểm tra, chỉnh lý, đánh ký mã hiệu và nhập tin các phiếu điều tra.

8.2.2. Tổ chức xử lý tổng hợp số liệu điều tra

Cuộc điều tra được xử lý tổng hợp tập trung bằng máy tính như sau:

- Trung tâm Tin học thống kê xây dựng chương trình phần mềm nhập tin, kiểm tra tính hợp lý của số liệu, suy rộng và tổng hợp kết quả cho toàn bộ cuộc điều tra.

- Cục Thống kê tỉnh, thành phố tự nhập tin toàn bộ phiếu điều tra đã thu thập trên địa bàn.

Sau khi số liệu nhập tin được nghiệm thu đạt yêu cầu, các Cục Thống kê tỉnh, TP sử dụng chương trình phần mềm thống nhất cả nước do Trung tâm Tin học thống kê xây dựng, cài đặt và hướng dẫn sử dụng để tổng hợp số liệu làm báo cáo chính thức năm 2004 và tổng hợp toàn bộ kết quả điều tra doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố.

- Số liệu nhập tin của các tỉnh, TP được truyền qua mạng về cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Tin học thống kê để xử lý tổng hợp chung cho cả nước.

Dữ liệu ban đầu của cuộc điều tra sau khi đã nghiệm thu, chỉnh sửa phục vụ cho yêu cầu tổng hợp, sẽ được lưu giữ tại cơ sở dữ liệu của Tổng cục và các Cục Thống kê nhằm phục vụ cho các nhu cầu khai thác của các Vụ, các đơn vị trong Tổng cục và các Cục Thống kê tỉnh, TP. Trung tâm Tin học thống kê xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu của cuộc điều tra doanh nghiệp để các đơn vị trong ngành có thể khai thác dễ dàng bằng các công cụ thông dụng.

- Kết quả tổng hợp của cuộc điều tra sẽ được công bố nhằm đáp ứng yêu cầu của các đối tượng dùng tin.

9. Kinh phí điều tra

Tổng cục Thống kê cấp kinh phí để bảo đảm yêu cầu thu thập và xử lý tổng hợp theo nội dung của phương án điều tra.

Tổ trưởng Tổ thường trực điều tra, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính, Chánh Văn phòng Tổng cục và các Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh, TP có trách nhiệm quản lý và sử dụng chặt chẽ, hiệu quả nguồn kinh phí được cấp theo quy định, bảo đảm điều kiện để thực hiện tốt cuộc điều tra theo phương án đã quy định.

TỔNG CỤC TRƯỞNG

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

(Đã ký)

Lê Mạnh Hùng

 
CÁC PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRA KHÁC
  Điều tra doanh nghiệp năm 2013
  Điều tra mẫu hàng tháng ngành công nghiệp năm gốc so sánh 2010
  Phương án điều tra doanh nghiệp năm 2011
  Phương án điều tra doanh nghiệp năm 2009
  Phương án điều tra doanh nghiệp năm 2006