English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Nông nghiêp, lâm nghiệp và thủy sản 
Phương án Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001

BAN CHỈ ĐẠO TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN TRUNG ƯƠNG

Số: 392/TCTK/NLTS

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà nội, ngày 10 tháng 7 năm 2001

PHƯƠNG ÁN TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN,

NÔNG NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN NĂM 2001

Ngày 13 tháng 3 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 34/2001/QĐ-TTg về việc tổ chức Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001. Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản Trung ương ban hành phương án Tổng điều tra để triển khai thống nhất trong cả nước.

1. MỤC ĐÍCH TỔNG ĐIỀU TRA

Cuộc Tổng điều tra thu thập những thông tin cơ bản về nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản, nhằm phục vụ yêu cầu của các ngành, các cấp trong việc đánh giá thực trạng, xu hướng biến đổi trong những năm qua và xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản trong thời kỳ 2001 - 2010 của cả nước cũng như từng địa phương. Kết quả Tổng điều tra còn là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn như: điện khí hoá nông thôn, đường giao thông nông thôn, nước sạch nông thôn, đưa bác sĩ về xã, kiên cố hoá kênh mương, đánh bắt thuỷ sản xa bờ, điểm bưu điện văn hoá xã,...

Đây là cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp lần thứ 2 (lần thứ nhất vào năm 1994) kết hợp Tổng điều tra thuỷ sản lần đầu tiên ở nước ta, trùng hợp với chương trình Tổng điều tra nông nghiệp thế giới năm 2000 theo chu kỳ 5 - 10 năm một lần. Vì vậy, cuộc Tổng điều tra năm 2001 còn nhằm mục đích so sánh quốc tế và khu vực về các chỉ tiêu tương ứng, góp phần thúc đẩy sự hoà nhập của thống kê nông nghiệp Việt Nam với hệ thống thống kê nông nghiệp của FAO.

Đối với công tác thống kê, cuộc Tổng điều tra còn có mục đích xây dựng cơ sở dữ liệu về nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản làm căn cứ lập dàn chọn mẫu cho các cuộc điều tra định kỳ hàng năm, kiểm tra kết quả các cuộc điều tra mẫu giữa hai kỳ Tổng điều tra nhằm từng bước nâng cao chất lượng số liệu thống kê trong lĩnh vực này.

2. NỘI DUNG TỔNG ĐIỀU TRA

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001 gồm 5 nội dung dưới đây:

2.1. Tình hình cơ bản của các hộ nông thôn: Số hộ, số nhân khẩu, lao động phân theo ngành nghề thực tế, đất nông nghiệp hộ sử dụng, máy móc, thiết bị, số lượng gia súc, gia cầm; diện tích gieo trồng một số cây công nghiệp lâu năm chủ yếu (cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, chè ...) và cây ăn quả có giá trị cao (cam, xoài, vải, nhãn,...). Đối với hộ thuỷ sản còn thu thập các thông tin về số tàu thuyền, máy móc thiết bị đánh bắt thuỷ sản và diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản. Đối với lao động trong độ tuổi có khả năng lao động được phân theo trình độ chuyên môn và ngành nghề chính, phụ.

2.2. Cơ sở hạ tầng của các xã và thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn: Thu thập các thông tin về điện, đường giao thông, trạm y tế, trường học, nước sạch, thông tin liên lạc, chợ, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản và kinh tế nông thôn, các làng nghề, dịch vụ nông thôn. Trình độ văn hoá, chuyên môn của một số chức vụ lãnh đạo chủ chốt của xã. Kết quả thực hiện một số chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản.

2.3. Quan hệ sản xuất nông thôn, kinh tế trang trại: Thu thập các thông tin về số lượng và thực trạng hoạt động của các hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản mới thành lập và chuyển đổi theo Luật hợp tác xã (HTX). Kết quả hoạt động của các loại hình doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Số lượng và loại hình trang trại được thống kê và đánh giá theo tiêu chí trang trại của thông tư Liên tịch ban hành năm 2000 giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê.

2.4. Tình hình cơ bản và năng lực sản xuất của ngành thuỷ sản: bao gồm số lượng hộ, lao động, tàu thuyền, máy móc thiết bị chủ yếu, cơ sở chế biến và nuôi trồng thuỷ sản, kết quả thực hiện chương trình đánh bắt thuỷ sản xa bờ.

2.5. Cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản, vốn trong nông thôn: Cơ cấu kinh tế nông thôn được phân theo 3 khu vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; Công nghiệp, xây dựng và Dịch vụ; cơ cấu sản xuất trong nội bộ từng ngành: nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp), lâm nghiệp (lâm sinh, khai thác lâm sản, dịch vụ lâm nghiệp), thuỷ sản (nuôi trồng, đánh bắt, dịch vụ thuỷ sản),... Vốn trong nông thôn: vốn đầu tư phát triển trong năm 2000, vốn tích luỹ trong dân và khả năng huy động vốn của hộ nông thôn.

3. ĐỐI TƯỢNG, ĐƠN VỊ VÀ PHẠM VI ĐIỀU TRA

3.1. Đối tượng và đơn vị điều tra:

- Các xã.

- Các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập và chịu sự chi phối của Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài đang hoạt động sản xuất và dịch vụ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và các đơn vị cơ sở (hạch toán phụ thuộc).

- Các hợp tác xã trên địa bàn nông thôn và các hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản trên địa bàn thành thị đã chuyển đổi hoặc thành lập mới theo Luật HTX.

- Các hộ trên địa bàn nông thôn; hộ nông nghiệp, hộ lâm nghiệp, hộ thuỷ sản ở khu vực thành thị.

- Các trang trại (theo tiêu chí của Thông tư Liên tịch số: 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23 tháng 6 năm 2000).

3.2. Phạm vi Tổng điều tra:

- Bốn nội dung 1, 2, 3 và 4 được tiến hành điều tra toàn bộ các đối tượng điều tra đã xác định ở mục 3.1.

- Nội dung thứ 5 tiến hành điều tra mẫu 1% hộ nông thôn (khoảng 14,5 vạn hộ) đại diện cho các vùng, các ngành chủ yếu ở khu vực nông thôn trên phạm vi cả nước.

4. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA

4.1. Điều tra toàn bộ đối với nội dung 1,2,3 và 4.

4.1.1. Đối với hộ (hộ nông thôn, hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở thành thị) - Phiếu số: 1/ĐTH.

- Lập bảng kê: Nhằm không bỏ sót và ghi trùng các hộ trong quá trình điều tra và là căn cứ để xác định số lượng điều tra viên, số lượng phiếu điều tra. Phương pháp lập bảng kê: Cán bộ lập bảng kê phải đến từng hộ gặp trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện để hỏi theo các tiêu thức qui định trên bảng kê (như họ, tên chủ hộ, số nhân khẩu, ngành sản xuất chính của hộ,…). Trình tự lập bảng kê phải ghi danh sách các hộ theo địa bàn từng điểm dân cư, qui ước: thống nhất từ đầu thôn đến cuối thôn hoặc theo hướng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây tuỳ theo vị trí từng thôn (ấp, bản) và theo các trục đường thuận tiện cho điều tra viên trong quá trình điều tra. (Xem qui trình lập bảng kê).

- Rà soát, hiệu chỉnh bảng kê: Trước thời điểm Tổng điều tra, Ban chỉ đạo các cấp cần tổ chức tổng rà soát, hiệu chỉnh lại bảng kê ở tất cả các địa bàn điều tra. Yêu cầu của công tác này là đem bảng kê đã lập đối chiếu với tình hình thực tế của từng hộ để điều chỉnh lại danh sách hộ theo đúng qui định (nhất là các hộ có biến động chuyển đi và chuyển đến trên mỗi địa bàn điều tra).

- Phương pháp thu thập số liệu tại hộ: Điều tra viên trực tiếp phỏng vấn chủ hộ kết hợp quan sát tình hình thực tế để ghi vào phiếu điều tra. Chủ hộ là người giữ vai trò quản lý, điều hành, quyết định mọi hoạt động trong hộ, nhưng không nhất thiết là chủ hộ theo sổ hộ khẩu. Nếu chủ hộ không nắm đầy đủ các thông tin cần điều tra thì điều tra viên phải hỏi thêm những người khác liên quan trong hộ để bổ sung. Sau khi ghi chép đầy đủ các thông tin, điều tra viên cùng chủ hộ kiểm tra lại những thông tin trong phiếu điều tra, sau đó ký và ghi rõ họ tên vào phiếu điều tra.

4.1.2. Đối với trang trại - Phiếu số: 2/ĐTTT

Đối với các hộ đạt tiêu chí là trang trại: phần hộ, nhân khẩu, lao động, điều tra viên lấy các thông tin cơ bản từ phiếu hộ, sau đó phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại kết hợp quan sát tình hình thực tế ở trang trại, kiểm tra các thông tin do chủ trang trại cung cấp và ghi vào phiếu điều tra. Phương pháp thu thập thông tin trang trại tương tự như đối với hộ.

4.1.3. Đối với xã - Phiếu số: 3/ĐTX

Khai thác sổ sách của thống kê xã kết hợp phỏng vấn cán bộ xã có liên quan về những thông tin cần thiết ghi trên phiếu điều tra. Các thông tin cơ sở hạ tầng, tình hình cơ bản, làng nghề lấy phạm vi trên địa bàn xã.

4.1.4. Đối với hợp tác xã - Phiếu số: 4/ĐTHTX

Điều tra viên đến tận nơi để khai thác số liệu trong sổ sách kế toán, thống kê hợp tác xã, kết hợp phỏng vấn Chủ nhiệm hợp tác xã về những thông tin không có trong sổ sách. Trong trường hợp số liệu trong sổ sách và báo cáo của hợp tác xã có sự khác nhau, điều tra viên cần trao đổi với cán bộ có liên quan của hợp tác xã để tìm nguyên nhân và thống nhất số liệu.

4.1.5. Đối với doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản - Phiếu số: 5/ĐTDN.

Điều tra viên tiến hành khai thác những thông tin sẵn có từ nguồn số liệu có liên quan như: số liệu báo cáo của các doanh nghiệp đã có ở cơ quan thống kê (tỉnh, huyện), khai thác từ kết quả cuộc điều tra doanh nghiệp để ghi vào phiếu điều tra. Đối với những thông tin còn thiếu như: diện tích đất, máy móc thiết bị, kết quả sản xuất kinh doanh, kết quả tài chính,… điều tra viên đến doanh nghiệp để thu thập từ sổ sách kế toán, thống kê và các nguồn số liệu liên quan.

4.2. Điều tra mẫu đối với nội dung thứ 5 - Phiếu số: 6/ĐTHM

Các hộ mẫu thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được chọn ra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 3 cấp: xã, thôn (ấp, bản) và hộ với cỡ mẫu khoảng 14,5 vạn hộ (chiếm 1% trong tổng số 14,5 triệu hộ). Mẫu được phân bổ theo tỷ lệ với số lượng các loại hộ thuộc các vùng, miền, các ngành kinh tế ở khu vực nông thôn 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Căn cứ vào số xã và hộ nông thôn do các Cục Thống kê báo cáo theo công văn số 144/TCTK-NLTS ngày 16/3/2001 của Tổng cục Thống kê, Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương phân bổ số xã và số hộ điều tra mẫu cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

TT

Tỉnh, thành phố

Số xã điều tra

Số hộ điều tra

Cả nước

1450

145000

1

Hà Nội

28

2800

2

Hải Phòng

30

3000

3

Hà Tây

40

4000

4

Hải Dương

39

3900

5

Hưng Yên

29

2900

6

Hà Nam

22

2200

7

Nam Định

40

4000

8

Thái Bình

40

4000

9

Ninh Bình

22

2200

10

Hà Giang

14

1400

11

Cao Bằng

14

1400

12

Lào Cai

14

1400

13

Bắc Cạn

12

1200

14

Lạng Sơn

14

1400

15

Tuyên Quang

14

1400

16

Yên Bái

14

1400

17

Thái Nguyên

22

2200

18

Phú Thọ

25

2500

19

Vĩnh Phúc

24

2400

20

Bắc Giang

30

3000

21

Bắc Ninh

22

2200

22

Quảng Ninh

22

2200

23

Lai Châu

16

1600

24

Sơn La

16

1600

25

Hoà Bình

16

1600

26

Thanh Hoá

40

4000

27

Nghệ An

40

4000

28

Hà Tĩnh

32

3200

29

Quảng Bình

20

2000

30

Quảng Trị

18

1800

31

Thừa Thiên - Huế

20

2000

32

T/P Đà Nẵng

4

400

33

Quảng Nam

30

3000

34

Quảng Ngãi

30

3000

35

Bình Định

30

3000

36

Phú Yên

22

2200

37

Khánh Hoà

22

2200

38

Kon Tum

14

1400

39

Gia Lai

18

1800

40

Đắc Lắc

20

2000

41

T/P Hồ Chí Minh

18

1800

42

Lâm Đồng

18

1800

43

Ninh Thuận

16

1600

44

Bình Phước

22

2200

45

Tây Ninh

22

2200

46

Bình Dương

22

2200

47

Đồng Nai

34

3400

48

Bình Thuận

22

2200

49

Bà Rịa - Vũng Tàu

10

1000

50

Long An

28

2800

51

Đồng Tháp

32

3200

52

An Giang

35

3500

53

Tiền Giang

32

3200

54

Vĩnh Long

22

2200

55

Bến Tre

30

3000

56

Kiên Giang

30

3000

57

Cần Thơ

30

3000

58

Trà Vinh

22

2200

59

Sóc Trăng

22

2200

60

Bạc Liêu

22

2200

61

Cà Mau

22

2200

Trên cơ sở số đơn vị mẫu đã phân bổ, Ban chỉ đạo Tổng điều tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn đơn vị mẫu và tổ chức chỉ đạo điều tra theo đúng qui trình điều tra chọn mẫu trong Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001. (Xem qui trình điều tra chọn mẫu).

5. THỜI ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TỔNG ĐIỀU TRA

Thời điểm Tổng điều tra là 01/10/2001. Những tỉnh, thành phố do điều kiện đặc biệt, triển khai trước hoặc sau thời điểm 01/10 phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương.

Các thông tin thời điểm: Lấy số liệu thực tế có đến 01/10/2001.

Các thông tin thời kỳ: Tuỳ theo chỉ tiêu và đơn vị điều tra có thể lấy số liệu chính thức năm 2000 hoặc tính từ ngày 01/10/2000 đến ngày 30/9/2001.

Thời gian thu thập số liệu cho cả 5 nội dung tại địa bàn là 30 ngày, kết thúc vào ngày 30/10/2001.

6. TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO TỔNG ĐIỀU TRA

Thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra các cấp:

Ở Trung ương Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương, do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê làm Trưởng ban, lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thuỷ sản, Văn phòng Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương là Uỷ viên. Giúp việc cho Ban chỉ đạo Trung ương có Tổ thường trực gồm các cán bộ cấp Vụ và chuyên viên chính của Tổng cục Thống kê và các Bộ, Ngành là thành viên Ban chỉ đạo.

Ban chỉ đạo Trung ương có trách nhiệm chuẩn bị phương án, biểu mẫu, kinh phí và tập huấn cho Ban chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố; kiểm tra, giám sát quá trình triển khai Tổng điều tra; nghiệm thu kết quả Tổng điều tra của cấp tỉnh, thành phố; tổng hợp báo cáo nhanh, báo cáo chính thức trình Chính phủ theo tiến độ quy định. Tổ thường trực Tổng điều tra đặt trụ sở tại Vụ Nông Lâm nghiệp và Thuỷ sản - Tổng cục Thống kê với các số máy điện thoại liên hệ là: (04) 8463522, 8234903 và 0913345358.

Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Ban chỉ đạo Tổng điều tra do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố làm Trưởng ban, Cục trưởng Cục Thống kê làm Phó Ban thường trực, lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành hữu quan làm thành viên. Giúp việc Ban chỉ đạo có Tổ thường trực do Phó cục trưởng Cục Thống kê, uỷ viên Ban chỉ đạo làm Tổ trưởng với sự tham gia của cán bộ cấp phòng và chuyên viên Cục Thống kê, các Sở, Ngành có thành viên trong Ban chỉ đạo. Ban chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Tổng điều tra theo phương án của Ban chỉ đạo Trung ương trên địa bàn.

Ở huyện (thị xã): Ban chỉ đạo Tổng điều tra do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND huyện (thị xã) làm Trưởng ban, Trưởng phòng thống kê huyện làm Phó ban thường trực, lãnh đạo các Phòng, Ban liên quan làm uỷ viên. Giúp việc cho Ban chỉ đạo cấp huyện có Tổ thường trực gồm các cán bộ cấp phòng và chuyên viên của Phòng thống kê huyện, các Phòng, Ban có thành viên trong Ban chỉ đạo Tổng điều tra huyện (thị xã).

Ở xã: Ban chỉ đạo Tổng điều tra cấp xã do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, cán bộ các ngành Thống kê, Nông nghiệp, Thuỷ sản xã làm uỷ viên, trong đó cán bộ thống kê xã là Uỷ viên thường trực.

Đối với phường và thị trấn: Chỉ thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra đối với những phường và thị trấn có trên 60% số hộ trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản. Những phường, thị trấn không đạt tỷ lệ nêu trên không thành lập Ban chỉ đạo, công tác chỉ đạo Tổng điều tra do chủ tịch UBND trực tiếp chỉ đạo theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo Tổng điều tra hoặc UBND cấp trên trực tiếp.

7. TRƯNG TẬP ĐIỀU TRA VIÊN VÀ ĐỘI TRƯỞNG

Nhiệm vụ của điều tra viên là trực tiếp đến các đơn vị điều tra được phân công để thu thập những thông tin cần thiết ghi vào phiếu điều tra.

Đội trưởng có trách nhiệm điều hành và quản lý đội điều tra tại địa bàn xã, quan hệ trực tiếp với địa phương, tuyên truyền giải thích mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra, khoanh địa bàn, xây dựng kế hoạch điều tra. Đội trưởng có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát công tác điều tra, hoàn thiện phiếu điều tra của điều tra viên và cập nhật báo cáo kết quả điều tra theo định kỳ qui định trên địa bàn phụ trách.

Ban chỉ đạo Tổng điều tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào hướng dẫn của Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương để quy định số lượng điều tra viên, đội trưởng cần trưng tập cho mỗi huyện và cấp tương đương tuỳ theo số hộ điều tra, định mức điều tra cho 1 điều tra viên có tính đến điều kiện cụ thể của địa hình, đường giao thông, mật độ dân số, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, miền núi cao, hải đảo...

Lực lượng điều tra viên, đội trưởng trưng tập cần chọn theo địa bàn điều tra và hướng vào học sinh đã tốt nghiệp phổ thông trung học, giáo viên, cán bộ hưu trí, cán bộ xã, trưởng thôn (ấp, bản) có trình độ văn hóa khá, hiểu biết về nông thôn, nông nghiệp, thuỷ sản, nhiệt tình với công việc. ? vùng miền núi cao, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa có thể trưng tập bộ đội biên phòng, công an xã làm điều tra viên. Vùng dân tộc thiểu số cần trưng tập thêm phiên dịch, dẫn đường với số lượng phù hợp yêu cầu cần thiết.

8. TẬP HUẤN CÁN BỘ CHỈ ĐẠO VÀ ĐIỀU TRA VIÊN

8.1. Ở Trung ương:

Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương:

- Tổ chức hội nghị toàn quốc triển khai quyết định của Thủ tướng Chính phủ và quán triệt phương án, kế hoạch Tổng điều tra cho toàn bộ thành viên Ban chỉ đạo Trung ương và Tổ thường trực; Trưởng ban, Phó trưởng ban thường trực và Tổ trưởng Tổ thường trực Ban chỉ đạo Tổng điều tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thời gian là 2 ngày tại Hà Nội.

- Tổ chức 3 lớp tập huấn cho Ban chỉ đạo và Tổ trưởng Tổ thường trực Tổng điều tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở 3 miền: Bắc, Trung, Nam. Thời gian mỗi lớp là 5 ngày. (Trong đó có 1 ngày thực tập tại xã)

- Tổ chức 3 lớp tập huấn xử lý thông tin cho các Trung tâm tính toán của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở 3 miền: Bắc, Trung, Nam.

8.2. Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

Ban chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập huấn cho cán bộ chủ chốt trong Ban chỉ đạo cấp huyện và cán bộ trưng tập cấp huyện, thời gian 4 ngày. (Trong đó có 1 ngày thực tập tại xã, thôn)

8.3. Ở cấp huyện:

Ban chỉ đạo Tổng điều tra cấp huyện mở các lớp tập huấn cho Ban chỉ đạo điều tra các xã và điều tra viên, đội trưởng, thời gian 4 ngày (Trong đó có 1 ngày thực tập).

8.4. Nội dung và phương pháp tập huấn cụ thể ở mỗi cấp theo quy trình thống nhất do Ban chỉ đạo Trung ương soạn thảo. (Xem quy trình tập huấn).

9. CHUẨN BỊ VÀ TRIỂN KHAI ĐIỀU TRA Ở ĐỊA PHƯƠNG

9.1 Công tác chuẩn bị:

Ban chỉ đạo Tổng điều tra các cấp cần thực hiện các công tác chuẩn bị sau:

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương và kế hoạch Tổng điều tra ở địa phương bằng cách sử dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng như: báo, đài phát thanh, đài truyền hình, loa truyền thanh, áp phích, khẩu hiệu. Đối tượng tuyên truyền là cán bộ cơ sở và các hộ, đơn vị thuộc đối tượng điều tra.

- Lập bảng kê danh sách các đơn vị điều tra.

- Lập dàn chọn mẫu và chọn đủ số mẫu điều tra phiếu số: 6/ĐTHM do Ban chỉ đạo Tổng điều tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện.

- Đảm bảo thông tin liên lạc thường xuyên thông suốt giữa các cấp phục vụ cho công tác chỉ đạo Tổng điều tra, đặc biệt chú ý những vùng sâu, vùng xa, điều kiện thông tin liên lạc còn khó khăn.

9.2 Triển khai thu thập số liệu:

Vào thời điểm triển khai thu thập số liệu ở cấp xã (01/10/2001), Ban chỉ đạo xã cần tập trung điều tra viên và đội trưởng tại trụ sở ?y ban Nhân dân xã, có băng cờ, khẩu hiệu, phù hiệu và loa truyền thanh cổ động cho cuộc Tổng điều tra, sau đó điều tra viên về các địa bàn điều tra để thu thập số liệu tại các đơn vị điều tra được phân công.

Đối với việc thu thập số liệu phiếu 1/ĐTH, trước khi đến hộ, điều tra viên cần có đủ bảng kê danh sách các hộ được phân công điều tra, cùng trưởng thôn kiểm tra lại các thông tin sẵn có của từng hộ. Các hộ cần được thông báo trước ngày, giờ điều tra viên đến điều tra và các đối tượng điều tra viên cần gặp. Đối với những hộ đầu tiên, điều tra viên đi cùng cán bộ thôn (ấp, bản) để cùng họ phỏng vấn chủ hộ, đồng thời xem xét các thông tin chủ hộ cung cấp có sát với thực tế hay không, từ đó rút kinh nghiệm phương pháp phỏng vấn đối với các hộ sau. Trong trường hợp chưa rõ, điều tra viên cần gợi ý để chủ hộ kiểm tra và cung cấp hoặc giải thích. Điều tra viên chỉ ghi vào phiếu những thông tin trung thực và đã được kiểm tra, nhất là các số liệu về ruộng đất cho thuê mướn, chuyển nhượng, đấu thầu, cầm cố, vượt mức hạn điền, nguồn thu nhập,... Các đơn vị điều tra khác như xã, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp, vv... nên bố trí những điều tra viên có trình độ nghiệp vụ và am hiểu thực tế địa bàn trực tiếp thu thập số liệu.

10. CÔNG TÁC GIÁM SÁT, KIỂM TRA

Công tác giám sát, kiểm tra Tổng điều tra ở cơ sở do Ban chỉ đạo địa phương thực hiện. Lực lượng giám sát là các thành viên Ban chỉ đạo, Tổ thường trực Ban chỉ đạo cấp tỉnh, huyện và Ban chỉ đạo cơ sở. Công tác kiểm tra được tiến hành thường xuyên trong suốt thời gian thu thập, xử lý số liệu điều tra tại các địa bàn. (Xem quy trình giám sát, kiểm tra).

Đội trưởng điều tra chịu trách nhiệm kiểm tra số liệu tất cả các phiếu điều tra cả về nội dung, phương pháp tính, tính logic, kiểm tra số học, các thủ tục hành chính bắt buộc (chữ ký, dấu) do điều tra viên thu thập. Quy trình kiểm tra của đội trưởng là cập nhật hàng ngày, ngày nào xong ngày đó, không để dồn nhiều ngày, nhiều phiếu. Ban chỉ đạo Tổng điều tra các cấp kiểm tra điển hình toàn bộ công tác điều tra của các đội điều tra. Tuỳ tình hình và điều kiện của các địa phương, Ban chỉ đạo Tổng điều tra các cấp tổ chức các đoàn kiểm tra đột xuất đối với cấp dưới trong quá trình thu thập số liệu ở cơ sở để phát hiện và giải quyết tại chỗ, kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình điều tra. Để tránh tính hình thức và giảm bớt nặng nề cho cơ sở, công tác kiểm tra của Ban chỉ đạo các cấp phải có kế hoạch cụ thể gắn với nội dung Tổng điều tra (có qui trình riêng).

Nội dung kiểm tra gồm: Kiểm tra bảng kê, số lượng phiếu, cách hỏi và ghi phiếu của điều tra viên, tính logic giữa các cột, dòng, các chỉ tiêu, quan hệ giữa các biểu, kiểm tra số học, đơn vị tính, đánh mã, chữ ký, con dấu, họ tên, đơn vị điều tra, họ, tên điều tra viên, kiểm tra thực địa tại địa bàn, ...

Hình thức kiểm tra: Kiểm tra chéo, cấp trên kiểm tra cấp dưới, kiểm tra thường xuyên và kiểm tra đột xuất, kiểm tra trọng điểm, tổng kiểm tra trước khi nghiệm thu, ...

11. PHÚC TRA

Tiến hành phúc tra ở một số địa bàn đối với phiếu 1/ĐTH. Tỉ lệ phúc tra là 3% số hộ nông thôn.

Mục đích phúc tra là để đánh giá độ tin cậy của số liệu điều tra, tính toán sai số điều tra, làm căn cứ cho việc xử lý, phân tích số liệu điều tra.

Nội dung phúc tra là kiểm tra phỏng vấn lại một số chỉ tiêu cơ bản đã ghi trong phiếu điều tra số: 1/ĐTH. Mỗi huyện (thị xã) là một địa bàn chọn mẫu. Cách chọn số hộ mẫu phúc tra theo mẫu phân tầng 3 cấp.

Phương pháp phúc tra là phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện cho hộ có tên trong phiếu điều tra được chọn, kết hợp với quan sát thực tế để ghi vào phiếu phúc tra (Xem quy trình phúc tra).

12. TỔNG HỢP NHANH VÀ NGHIỆM THU TÀI LIỆU TỔNG ĐIỀU TRA

12.1. Tổng hợp nhanh: Để phục vụ kịp thời yêu cầu của Nhà nước và chính quyền các cấp ở địa phương, kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001 được tổng hợp nhanh một số thông tin chủ yếu về số lượng và cơ cấu các loại hộ nông thôn theo các ngành sản xuất chính, cơ sở hạ tầng nông thôn, tình hình cơ bản của ngành thuỷ sản,... Ban chỉ đạo các cấp, nhất là cấp tỉnh và huyện cần tăng cường giúp đỡ Ban chỉ đạo các xã kiểm tra số liệu trước khi tổng hợp nhanh, chú ý số liệu của xã và của hộ. Tuỳ theo tình hình trang bị máy tính ở mỗi địa phương và khối lượng tổng hợp của từng loại phiếu điều tra có thể tổng hợp kết hợp giữa thủ công và máy tính để đảm bảo thời gian và chất lượng của công tác tổng hợp.

Thời gian tổng hợp nhanh ở mỗi cấp quy định như sau: Cấp xã 10 ngày từ 1/11 đến 10/11/2001, cấp huyện 5 ngày từ 11/11 đến 15/11/2001, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 15 ngày từ 16/11 đến 30/11/2001, ở cấp Trung ương 15 ngày từ 5/12 đến 20/12/2001.

12.2. Nghiệm thu kết quả Tổng điều tra các cấp: Nội dung nghiệm thu bao gồm: kiểm kê số lượng phiếu đã điều ra mỗi loại, chất lượng số liệu và thời gian giao nộp phiếu điều tra ở mỗi cấp. Quy trình nghiệm thu được tiến hành ở các cấp theo trình tự: Ban chỉ đạo cấp trên trực tiếp nghiệm thu phiếu điều tra của Ban chỉ đạo cấp dưới. Sau khi nghiệm thu, Ban chỉ đạo các cấp ký vào biên bản nghiệm thu và chịu trách nhiệm về kết quả đã nghiệm thu. Thời gian nghiệm thu ở mỗi cấp từ 1 - 2 ngày tùy theo số lượng đơn vị điều tra và chất lượng phiếu điều tra ở địa phương và cơ sở. (Xem qui trình nghiệm thu).

13. XỬ LÝ SỐ LIỆU:

Ban Chỉ đạo Trung ương giao cho Trung tâm tính toán Thống kê Trung ương tổ chức, chỉ đạo và triển khai công tác xử lý số liệu Tổng điều tra theo kế hoạch và phần mềm thống nhất. Trung tâm tính toán Thống kê Trung ương có trách nhiệm tập huấn nghiệp vụ, tổ chức hệ thống truyền tin, xử lý số liệu ở mỗi cấp theo yêu cầu và tiến độ của Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương. (Xem quy trình xử lý số liệu).

14. KINH PHÍ TỔNG ĐIỀU TRA:

Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương cấp kinh phí cho Ban chỉ đạo Tổng điều tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo khối lượng công việc và định mức kinh phí bình quân cho từng loại công việc theo chế độ hiện hành phù hợp với điều kiện của từng vùng và địa phương, trên cơ sở đã thống nhất với Bộ Tài chính bằng văn bản.

Tổng cục Thống kê thay mặt Ban chỉ đạo Trung ương (sau khi thống nhất với Bộ Tài chính về định mức và chế độ chi tiêu) sẽ hướng dẫn cho Ban chỉ đạo Tổng điều tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và công khai các khoản được chi theo chế độ. Ban chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố cũng thực hiện như vậy đối với Ban chỉ đạo cấp huyện và chịu trách nhiệm quyết toán với Ban chỉ đạo Trung ương (Tổng cục Thống kê) theo đúng chế độ qui định (có văn bản kèm theo). Kinh phí Tổng điều tra phải sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích, đúng khoản mục.

Kinh phí được cấp từ ngân sách Trung ương chỉ dùng để điều tra theo nội dung và phạm vi quy định trong phương án. Những địa phương có yêu cầu kết hợp mở rộng nội dung và phạm vi điều tra thì do ngân sách địa phương chi trả.

15. BẢO QUẢN VÀ BẢO MẬT TÀI LIỆU:

Toàn bộ phiếu điều tra sau khi nghiệm thu phải được bảo quản an toàn tuyệt đối cho đến khi bàn giao cho các Trung tâm tính toán. Biên bản bàn giao tài liệu phải đảm bảo đầy đủ các thủ tục hành chính qui định (chữ ký có đóng dấu của người có trách nhiệm của bên giao, bên nhận, ngày tháng và địa điểm giao, số lượng và loại phiếu giao nhận,…). Các Trung tâm tính toán có trách nhiệm bảo quản tài liệu gốc và bảo mật các thông tin theo đúng qui định hiện hành. Kho, phòng bảo quản tài liệu, phiếu điều tra phải khô ráo, có khoá cửa, có các phương tiện chống cháy nổ, chống mối mọt, ẩm ướt và có người bảo vệ.

Mọi thông tin về kết quả Tổng điều tra do Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương công bố, kể cả tổng hợp nhanh và chính thức. Ban chỉ đạo Tổng điều tra địa phương chỉ công bố kết quả Tổng điều tra ở địa phương mình theo đúng kết quả do Ban chỉ đạo Trung ương công bố.

16. THỜI GIAN TIẾN HÀNH:

Tháng 7 - 2001:

Hội nghị quán triệt quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phương án Tổng điều tra với Trưởng, Phó Ban chỉ đạo và Tổ trưởng Tổ thường trực Tổng điều tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tháng 8 - 2001:

- In ấn biểu mẫu Tổng điều tra.

- Ban chỉ đạo Trung ương tập huấn cho Ban chỉ đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở 3 vùng.

Tháng 9 - 2001:

- Ban chỉ đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập huấn cho Ban chỉ đạo các huyện (thị xã), xã, phường, thị trấn.

- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về cuộc Tổng điều tra.

- Chuyển biểu mẫu và kinh phí về các địa phương.

Tháng 10 - 2001:

Triển khai thu thập số liệu ở 61 tỉnh, thành phố và kết thúc khâu thu thập số liệu tại xã, hộ, trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Tháng 11 - 2001:

- Kiểm tra tại xã, huyện.

- Phúc tra 3% số hộ nông thôn đối với phiếu số:1/ĐTH.

- Tổng hợp nhanh các chỉ tiêu chủ yếu.

- Tổ chức nghiệm thu ở các cấp.

- Tổ chức tập huấn về xử lý số liệu Tổng điều tra cho các Trung tâm tính toán và một số Cục Thống kê.

- Bàn giao tài liệu cho Trung tâm tính toán các Cục Thống kê.

Tháng 12 - 2001:

- Công bố kết quả tổng hợp nhanh

Tháng 1-2002 đến tháng 11- 2002:

- Xử lý số liệu Tổng điều tra.

- Tổng hợp, phân tích kết quả Tổng điều tra.

Tháng 12 - 2002:

- In ấn kết quả Tổng điều tra.

- Tổng kết Tổng điều tra.

- Họp báo công bố kết quả Tổng điều tra.

TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO TỔNG ĐIỀU TRA TRUNG ƯƠNG

Q. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ

(Đã ký)

Lê Mạnh Hùng

 
CÁC PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRA KHÁC
  Tổng Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2011
  Điều tra trang trại (định kỳ năm chẵn)
  Điều tra năng suất, sản lượng cây hàng năm khác theo từng vụ sản xuất
  Điều tra năng suất, sản lượng cây lâu năm định kỳ hàng năm
  Điều tra năng suất, sản lượng cây lúa theo từng vụ sản xuất