English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa mùa và lúa thu đông trên cả nước; gieo trồng các loại cây màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc. Chăn nuôi bò và gia cầm phát triển tốt, dịch tả lợn châu Phi tại nhiều địa phương được kiểm soát, tổng đàn lợn giảm mạnh dẫn đến thiếu hụt nguồn cung gây nên tình trạng tăng giá. Sản xuất thủy sản tiếp tục giữ được đà tăng trưởng về sản lượng nuôi trồng.

a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Mười Một, cả nước thu hoạch được 1.457,3 nghìn ha lúa mùa, chiếm 90,5% diện tích gieo cấy[1] và bằng 95,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch 1.062,1 nghìn ha, chiếm 99,2% và bằng 97%; các địa phương phía Nam thu hoạch 395,2 nghìn ha, chiếm 73,1% và bằng 91,7%. Thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển nên năng suất lúa mùa năm nay đạt khá nhưng do diện tích gieo cấy giảm ở hầu hết các địa phương[2] làm sản lượng chung toàn vụ giảm. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa mùa năm nay của cả nước ước tính đạt 50,1 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; sản lượng đạt 8,08 triệu tấn, giảm 188,2 nghìn tấn. Trong đó, năng suất tại các địa phương phía Bắc đạt 50,7 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha so với vụ mùa trước; sản lượng đạt 5,43 triệu tấn, giảm 24,6 nghìn tấn, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 55,5 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; sản lượng đạt 2,76 triệu tấn, giảm 28,6 nghìn tấn. Tại các tỉnh phía Nam, năng suất lúa mùa ước tính đạt 48,9 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt 2,64 triệu tấn, giảm 163,6 nghìn tấn.

Diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2019 tại các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 724,2 nghìn ha, giảm 7,9 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch được 282,8 nghìn ha lúa, chiếm 39% diện tích gieo cấy và bằng 92,5% cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất toàn vụ ước tính đạt 54,5 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 3,9 triệu tấn, giảm 20,1 nghìn tấn. Kết quả sản xuất vụ lúa thu đông năm nay thấp hơn cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả sản xuất lúa không cao, vì vậy các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang trồng các loại cây hằng năm khác và cây lâu năm; một số diện tích được người dân chủ động làm đất, lấy nước đổ ải, đón phù sa chuẩn bị cho sản xuất lúa đông xuân chính vụ đạt hiệu quả hơn. Một số địa phương có diện tích gieo cấy và sản lượng giảm nhiều là: Cần Thơ giảm 9,9 nghìn ha và giảm 40,3 nghìn tấn; Vĩnh Long giảm 4,6 nghìn ha và giảm 19,8 nghìn tấn.

Tính đến ngày 15/11/2019, các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 340,7 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 193,4% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 339,5 nghìn ha, bằng 194,1%. Tiến độ gieo trồng lúa đông xuân nhanh hơn cùng kỳ năm trước do các địa phương chủ động điều chỉnh thời điểm xuống giống cho phù hợp với diễn biến thời tiết và dự báo của các ngành chức năng.

Tính đến trung tuần tháng Mười Một, cả nước gieo trồng được 94,2 nghìn ha ngô, bằng 99,6% so với cùng kỳ năm trước; 20,4 nghìn ha khoai lang và 5,3 nghìn ha đậu tương, tương đương cùng kỳ năm trước; 7,3 nghìn ha lạc, bằng 98%; 142,8 nghìn ha rau các loại, bằng 105,5%. Đến thời điểm này, thời tiết diễn biến thuận lợi, sâu bệnh ít xuất hiện, các loại cây vụ đông đang trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tốt.

Tình hình chăn nuôi trâu, bò, gia cầm trên cả nước trong tháng Mười Một nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Đàn trâu ước tính tiếp tục giảm 3,1% so với cùng thời điểm năm trước do hiệu quả kinh tế không cao và diện tích chăn thả bị thu hẹp. Đàn bò trong tháng ước tính tăng 2,4%. Đàn gia cầm cả nước tăng cao 12% so với cùng thời điểm năm trước do trong thời gian qua, nhiều hộ chuyển hướng từ chăn nuôi lợn sang gia cầm và các cơ sở chăn nuôi cũng chủ động tăng đàn gia cầm trước tình hình dịch bệnh ở lợn. Tuy nhiên, người chăn nuôi cần theo dõi sát tình hình thị trường, các cơ quan chức năng cần cung cấp thông tin kịp thời, kiểm soát tình hình chăn nuôi tại địa phương, không nên tăng đàn ồ ạt dẫn tới tình trạng dư thừa nguồn cung khiến giá bán giảm sâu gây thua lỗ. Chăn nuôi lợn trong tháng tiếp tục giảm mạnh 22% so với cùng thời điểm năm trước. Mặc dù dịch tả lợn châu Phi tại nhiều địa phương đã được kiểm soát, một số địa phương đã công bố hết dịch nhưng việc tái đàn diễn ra chậm do tâm lý của người sản xuất còn e ngại nguy cơ tái phát dịch bệnh, nguồn cung giảm là nguyên nhân chính khiến giá thịt lợn hơi trong tháng tăng cao. Lũy kế từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 19/11/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.505 xã thuộc 666 huyện của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng số lợn tiêu hủy gần 5,9 triệu con, tương đương với tổng trọng lượng 337,9 nghìn tấn, trong đó có 54% số xã qua 30 ngày không phát hiện ổ dịch mới. Cũng tính đến ngày 19/11/2019, cả nước không còn dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Quảng Trị.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Mười Một, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 32 nghìn ha, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7,1 triệu cây, tăng 2,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.542 nghìn m3, tăng 3,5%; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, tăng 0,6%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác lớn và tăng cao: Quảng Ngãi đạt 155,7 nghìn m3, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước; Nghệ An đạt 107,9 nghìn m3, tăng 19,1%; Phú Thọ đạt 67,7 nghìn m3, tăng 28,2%; Quảng Bình đạt 53 nghìn m3, tăng 32,5%.

Tính chung 11 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 238,7 nghìn ha, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 75 triệu cây, giảm 1,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 14,5 triệu m3, tăng 4,5%; sản lượng củi khai thác đạt 17,2 triệu ste, giảm 1,3%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Mười Một là 47,4 ha, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 5,2 ha, gấp hơn 2 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 42,2 ha, tăng 37%, trong đó nhiều nhất là khu vực Tây Nguyên với 25 ha (Đắk Nông 15,5 ha, Kon Tum 3,5 ha Lâm Đồng 4,7 ha). Tính chung 11 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 3.275,2 ha, gấp hơn 3 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2.707,7 ha, gấp gần 5 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 567,4 ha, tăng 8,5%.

c) Thủy sản

Trong tháng Mười Một, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 763,8 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 551,3 nghìn tấn, tăng 6,4%; tôm đạt 106,7 nghìn tấn, tăng 10,1%; thủy sản khác đạt 105,8 nghìn tấn, tăng 5,2%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 456,9 nghìn tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 319,1 nghìn tấn, tăng 6,9%; tôm đạt 94,8 nghìn tấn, tăng 12,5%. Nuôi cá tra trong tháng tiếp tục đạt khá, xuất khẩu cá tra vào một số thị trường châu Á như Trung Quốc, Hồng Công, ASEAN có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên giá cá tra nguyên liệu vẫn còn thấp. Sản lượng cá tra tháng Mười Một ước tính đạt 170,1 nghìn tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 45,9 nghìn tấn, tăng 7,5%; An Giang đạt 43,2 nghìn tấn, tăng 12,4%; Cần Thơ đạt 23,8 nghìn tấn, tăng 2%. Môi trường nuôi tôm ổn định, giá tôm tăng nhẹ, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt cao, sản lượng tôm sú tăng trở lại. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Mười Một ước tính đạt 65,6 nghìn tấn, tăng 14,1% so cùng kỳ, sản lượng tôm sú đạt 25,6 nghìn tấn, tăng 3,6%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Mười Một ước tính đạt 306,9 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 232,2 nghìn tấn, tăng 5,6%; tôm đạt 11,9 nghìn tấn, giảm 5,6%; thủy sản khác đạt 62,8 nghìn tấn, tăng 4,7%. Nhìn chung, thời tiết ngư trường khai thác trong tháng thuận lợi (ngoại trừ một số tỉnh Duyên hải miền Trung bị ảnh hưởng bởi bão số 6 đầu tháng Mười Một), số tàu khai thác xa bờ trong tháng tăng, sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 288,4 nghìn tấn; tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 11 tháng năm 2019, sản lượng thủy sản ước tính đạt 7.473,7 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.998,9 nghìn tấn, tăng 6,4%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.474,8 nghìn tấn, tăng 4,8% (sản lượng khai thác biển đạt 3.298,2 nghìn tấn, tăng 5,1%).

 
   2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Mười Một có dấu hiệu tăng chậm lại với mức tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp nhất kể từ đầu năm 2019 do sụt giảm của ngành khai khoáng và sự giảm tốc của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên tính chung 11 tháng, sản xuất công nghiệp vẫn đạt mức tăng khá 9,3%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,6%.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 11/2019 ước tính giảm 1,6% so với tháng trước, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, là tháng có tốc độ tăng IIP thấp nhất kể từ đầu năm[3], trong đó ngành khai khoáng giảm 5,3% (khai thác dầu thô giảm 10,4%; khai thác than tăng 6,6%); chế biến, chế tạo tăng thấp 6,5% chủ yếu do sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 46,4% và sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng thấp 2,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%.

Tính chung 11 tháng năm 2019, IIP ước tính tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10% của cùng kỳ năm 2018. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 0,9% (cùng kỳ năm trước giảm 1,9%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng khá 10,6% (cùng kỳ năm trước tăng 12,1%), đóng góp 8,2 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,5%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất kim loại tăng 31,7%; khai thác quặng kim loại tăng 24,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 24,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,4%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 13,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 12,1%; khai thác than cứng và than non tăng 11,9%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 11,4%; dệt tăng 11,3%; sản xuất đồ uống tăng 10,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 6,9% (cùng kỳ năm trước tăng 11,9%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 6,6%; sản xuất thuốc lá tăng 3,3%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng tăng 1,6%; khai khoáng khác (đá, cát, sỏi...) tăng 1,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 2,9% (khai thác dầu thô giảm 7,2%, khai thác khí đốt tự nhiên tăng 1,2%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 3%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 5,5%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sắt, thép thô tăng 37,5%; xăng, dầu tăng 23,9%; thép thanh, thép góc tăng 20,5%; tivi tăng 14,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 12,7%; điện thoại di động tăng 12,3% (điện thoại thông minh tăng 14,2%); vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 11,7%; sơn hóa học tăng 11,2%; thủy hải sản chế biến tăng 10,3%; điện sản xuất tăng 9,5%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sữa bột tăng 1,5%; phân u rê tăng 1,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 1,2%; phân hỗn hợp NPK tăng 0,6%; xe tải giảm 0,4%; thức ăn cho gia súc giảm 1,2%; dầu thô khai thác giảm 7,2%; xe máy giảm 8,7%; đường kính giảm 11,9%; linh kiện điện thoại giảm 12,9%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/11/2019 tăng 1,5% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,7% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,4%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,4%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp phân theo ngành công nghiệp

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp phân theo địa phương

    3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]

Số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Mười Một đạt mức cao với gần 12,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng năm nay, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 163,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,8%. Đáng chú ý là vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đạt mức khá cao với 12,4 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 11/2019, cả nước có 12.265 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 139,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 112,5 nghìn lao động, tăng 0,7% về số doanh nghiệp, giảm 2,5% về vốn đăng ký và tăng 18,9% về số lao động so với tháng 10/2019[5]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 11,4 tỷ đồng, giảm 3,2% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước còn có 3.326 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 54,1% so với tháng trước và giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước; 2.119 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 1,6% và tăng 8,6%; 4.230 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 15,6% và tăng 67,4%; 1.486 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 5,4% và giảm 4,4%; 3.081 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 64,4% so với cùng kỳ năm 2018.

 Tính chung 11 tháng năm 2019, cả nước có 126,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.574,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.137,1 nghìn lao động, tăng 4,5% về số doanh nghiệp, tăng 27,5% về vốn đăng ký và tăng 11,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đạt 12,4 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 2.101,3 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 36,5 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 11 tháng năm 2019 là 3.675,7 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 36,9 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2018, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 11 tháng năm 2019 lên 163,6 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có gần 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, trong 11 tháng năm nay có 1,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2018; 33,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 5,5%; 90,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 4%. Một số lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: công nghiệp chế biến, chế tạo có 16 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2018; xây dựng có 15,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 1,7%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 10,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,4%; kinh doanh bất động sản có 7,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 13,8%; vận tải, kho bãi có 5,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 36,8%; thông tin và truyền thông có 3,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 10,4%; sản xuất phân phối điện, nước, ga có 1,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 45,7%. Có 4 lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 41,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 6,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,5%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 1,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 21,3%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 1,3 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,9%.

Cũng trong 11 tháng năm nay, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 27,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 38,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 39,8%, trong đó có 15,8 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu từ năm 2018, 12,5 nghìn doanh nghiệp thông báo giải thể và 9,8 nghìn doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể với cơ quan thuế.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 11 tháng năm 2019 là 15 nghìn doanh nghiệp, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 13,5 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 0,4%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 6,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 21%; xây dựng có 1,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 15,8%; kinh doanh bất động sản có 603 doanh nghiệp, tăng 38%; tài chính ngân hàng có 182 doanh nghiệp, tăng 26,4%. Trong 11 tháng, trên cả nước còn có gần 41,5 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm trước.

 

Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn

Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể

   4. Đầu tư

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đang tập trung triển khai thực hiện các dự án, công trình nhằm giải ngân hết kế hoạch vốn đã giao năm 2019, tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 11 tháng mới đạt 78,6% kế hoạch năm và tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp nhất trong giai đoạn 2016-2019[6]. Trong khi đó, vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ đà phát triển với số vốn thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây[7].

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 11/2019 ước tính đạt 39,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương 7,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14%; vốn địa phương 32,4 nghìn tỷ đồng, tăng 8,3%. Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 299,4 nghìn tỷ đồng, bằng 78,6% kế hoạch năm và tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 bằng 80,6% và tăng 12,4%), gồm có:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 43,7 nghìn tỷ đồng, bằng 72,6% kế hoạch năm và giảm 15,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 12.365 tỷ đồng, bằng 69,9% và giảm 23,5%; Bộ Y tế 3.429 tỷ đồng, bằng 64,8% và tăng 41,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2.560 tỷ đồng, bằng 75,3% và giảm 56,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 1.122 tỷ đồng, bằng 60,7% và tăng 20,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 886 tỷ đồng, bằng 67,6% và giảm 19,1%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 536 tỷ đồng, bằng 71,9% và giảm 7%; Bộ Khoa học và Công nghệ 255 tỷ đồng, bằng 79,7% và tăng 34,2%; Bộ Xây dựng 210 tỷ đồng, bằng 84,2% và giảm 7,7%; Bộ Công Thương 203 tỷ đồng, bằng 83,1% và tăng 5,5%; Bộ Thông tin và Truyền thông 127 tỷ đồng, bằng 72,9% và tăng 13,8%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 255,7 nghìn tỷ đồng, bằng 79,7% kế hoạch năm và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 172,4 nghìn tỷ đồng, bằng 76,4% và tăng 6,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 70,1 nghìn tỷ đồng, bằng 86,4% và tăng 17,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 13,2 nghìn tỷ đồng, bằng 93,8% và tăng 20,4%. Vốn thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước 11 tháng năm 2019 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 39,2 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% kế hoạch năm và tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 20,4 nghìn tỷ đồng, bằng 55,4% và giảm 12,2%; Quảng Ninh 10,4 nghìn tỷ đồng, bằng 89,7% và tăng 8,3%; Hải Phòng 9.154 tỷ đồng, bằng 89% và tăng 3,1%; Bình Dương 8.571 tỷ đồng, bằng 70,6% và tăng 24,1%; Thanh Hóa 7.071 tỷ đồng, bằng 90,6% và tăng 23,7%; Đồng Nai 6.032 tỷ đồng, bằng 90,2% và giảm 2%; Bà Rịa - Vũng Tàu 6.027 tỷ đồng, bằng 91,4% và tăng 0,8%; Quảng Nam 5.856 tỷ đồng, bằng 78,9% và tăng 33,3%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến 20/11/2019 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 31,8 tỷ USD, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó có 3.478 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 14,7 t USD, tăng 28,2% về số dự án và giảm 7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; 1.256 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5,9 t USD, giảm 20,7%; 8.561 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 11,2 tỷ USD, tăng 47,1%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần2.092 lượt làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là hơn 6,8 tỷ USD và 6.469 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị gần 4,4 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng ước tính đạt 17,6 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 tháng năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án đạt 10.333,5 triệu USD, chiếm 70,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1.439,1 triệu USD, chiếm 9,8%; các ngành còn lại đạt 2.907,5 triệu USD, chiếm 19,8%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 11 tháng đạt 15.438,7 triệu USD, chiếm 75,1% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1.415,9 triệu USD, chiếm 6,9%; các ngành còn lại đạt 3.698,9 triệu USD, chiếm 18%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6.122,5 triệu USD, chiếm 54,5% tổng giá trị góp vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1.898,4 triệu USD, chiếm 16,9%; các ngành còn lại đạt 3.220,7 triệu USD, chiếm 28,6%.

Trong số 76 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 11 tháng, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 2.913,6 triệu USD, chiếm 19,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 2.281 triệu USD, chiếm 15,5%; Xin-ga-po 1.951,7 triệu USD, chiếm 13,3%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 1.928,4 triệu USD, chiếm 13,1%; Nhật Bản 1.656,8 triệu USD, chiếm 11,3%; Đài Loan 726,6 triệu USD, chiếm 4,9%; Xa-moa 569,9 triệu USD, chiếm 3,9%; Thái Lan 557,5 triệu USD, chiếm 3,8%.

Đầu tư của Việt nam ra nước ngoài trong 11 tháng năm nay có 148 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 353,8 triệu USD; 29 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 105 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 11 tháng năm 2019 đạt 458,8 triệu USD, trong đó lĩnh vực bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 118,2 triệu USD, chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 65,6 triệu USD, chiếm 14,3%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 60 triệu USD, chiếm 13,1%; hoạt động kinh doanh bất động sản 59,3 triệu USD, chiếm 12,9%. Trong 11 tháng có 31 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Ô-xtrây-li-a là nước dẫn đầu với 141,3 triệu USD, chiếm 30,8%; Hoa Kỳ 93,4 triệu USD, chiếm 20,4%; Tây Ban Nha 59,8 triệu USD, chiếm 13%; Cam-pu-chia 50,7 triệu USD, chiếm 11,1%; Xin-ga-po 48 triệu USD, chiếm 10,5%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 11 và 11 tháng năm 2019

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được cấp phép từ 01/01- 20/11/2019

    5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Trong 11 tháng năm 2019, tiến độ thu ngân sách Nhà nước đạt khá; chi ngân sách tiếp tục bảo đảm đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi trả nợ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy Nhà nước.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2019 ước tính đạt 1.299,4 nghìn tỷ đồng, bằng 92,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 1.051,2 nghìn tỷ đồng, bằng 89,6%; thu từ dầu thô 49,5 nghìn tỷ đồng, bằng 111,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 194,5 nghìn tỷ đồng, bằng 102,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 142,5 nghìn tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 178,3 nghìn tỷ đồng, bằng 83,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 204,7 nghìn tỷ đồng, bằng 84,8%; thu thuế thu nhập cá nhân 97,8 nghìn tỷ đồng, bằng 86,4%; thu thuế bảo vệ môi trường 50,8 nghìn tỷ đồng, bằng 73,6%; thu tiền sử dụng đất 115,3 nghìn tỷ đồng, bằng 128,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2019 ước tính đạt 1.211,1 nghìn tỷ đồng, bằng 74,1% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 858,4 nghìn tỷ đồng, bằng 85,9%; chi đầu tư phát triển 228,9 nghìn tỷ đồng, bằng 53,3%; chi trả nợ lãi 93,4 nghìn tỷ đồng, bằng 74,8%.

6. Thương mại, giá, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2019 tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất của tháng Mười Một trong 6 năm trở lại đây[8]. Tính chung 11 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước (11,8%), thị trường sôi động, phát triển ổn định, hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm cung -  cầu các loại hàng hóa trong những tháng cuối năm 2019.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một ước tính đạt 425,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 321 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% và tăng 13,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 49,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% và tăng 9,7%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 4,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% và tăng 12,3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 50,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,2% và tăng 11,8%.

Tính chung 11 tháng năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.481,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước[9], nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,3% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,7%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 11 tháng đạt 3.400,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 16,8%; lương thực, thực phẩm tăng 15,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,5%; may mặc tăng 12,6%; phương tiện đi lại tăng 10,6%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 11 tháng đạt mức tăng khá nhờ sức mua tiêu dùng tăng ở nhiều nhóm hàng thiết yếu, trong khi nguồn cung hàng hóa dồi dào, mặt bằng giá ổn định, không có tình trạng thiếu hàng, sốt giá. Một số địa phương có mức tăng khá: Quảng Ninh tăng 20,1%; Bình Dương tăng 17,2%; Thanh Hóa tăng 15,2%; Hải Phòng tăng 15,1%; Đà Nẵng tăng 14,7%; Nghệ An tăng 13,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,4%; Hà Nội tăng 12,7%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 11 tháng năm nay ước tính đạt 533,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng mức và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Định tăng 19,8%; Quảng Bình tăng 16,3%; Quảng Ninh và Lâm Đồng cùng tăng 16%; Thanh Hóa tăng 15,8%; Hải Phòng tăng 14,5%; Đà Nẵng tăng 11,7%; Hà Nội tăng 10,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10%.

 Doanh thu du lịch lữ hành 11 tháng ước tính đạt 41,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước do một số địa phương có thế mạnh về du lịch đã triển khai các chương trình quảng bá thu hút khách trong và ngoài nước. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 11 tháng là: Quảng Ngãi tăng 18,8%; Quảng Ninh tăng 17,1%; Bình Định tăng 16,2%; Thanh Hóa tăng 15,2%; Nghệ An tăng 13,7%; Khánh Hòa tăng 12,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10%; Thừa Thiên - Huế tăng 9,1%; Hải Phòng tăng 7,7%; Hà Nội tăng 6,1%.

Doanh thu dịch vụ khác 11 tháng ước tính đạt 505,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3% tổng mức và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu của Bình Dương tăng 17,9%; Bình Định tăng 17,1%; Cần Thơ tăng 12,2%; Hải Phòng tăng 10,9%; Quảng Ngãi tăng 10,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 8%; Đà Nẵng tăng 5,6%; Hà Nội tăng 4,8%.

 

 

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2019 ước tính đạt 473,73 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 241,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 18,1%, cao hơn nhiều tốc độ tăng 11 tháng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (3,8%), đồng thời tỷ trọng xuất khẩu của khu vực này chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng 2,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng ước tính xuất siêu 9,1 tỷ USD. 

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 10/2019 đạt 24.233 triệu USD, cao hơn 1.833 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 518 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 320 triệu USD; giày dép cao hơn 243 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 209 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 137 triệu USD; thủy sản cao hơn 76 triệu USD; sơ, sợi dệt và phương tiện vận tải cùng cao hơn 69 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11/2019 ước tính đạt 22,6 tỷ USD, giảm 6,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,45 tỷ USD, giảm 1,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,15 tỷ USD, giảm 9,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một tăng 3,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng cao 25,8%, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 4,5%.

Tính chung 11 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 241,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018[10], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 74,72 tỷ USD, tăng 18,1%, chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 166,7 tỷ USD, tăng 3,8%, chiếm 69% (tỷ trọng giảm 2,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Trong 11 tháng năm 2019 có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên
1 tỷ USD, chiếm 91,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,6%), trong đó điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 48,7 tỷ USD, chiếm 20,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 32,4 tỷ USD, tăng 19,4%; hàng dệt may đạt 29,9 tỷ USD, tăng 7,8%; giày dép đạt 16,5 tỷ USD, tăng 12,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD, tăng 9,8%. Kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 7,8 tỷ USD, giảm 2,3%; rau quả đạt 3,4 tỷ USD, giảm 2,4%; hạt điều đạt 3 tỷ USD, giảm 3,4% (lượng tăng 21,5%); gạo đạt 2,6 tỷ USD, giảm 8,3% (lượng tăng 4,8%); cà phê đạt 2,5 tỷ USD, giảm 22,2% (lượng giảm 14,6%); hạt tiêu đạt 672 triệu USD, giảm 6,5% (lượng tăng 21%). Riêng cao su đạt 2 tỷ USD, tăng 7,6% (lượng tăng 8,1%); chè đạt 212 triệu USD, tăng 8,2% (lượng tăng 5,8%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 11 tháng năm 2019, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 55,6 tỷ USD, tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là thị trường EU đạt 38 tỷ USD, giảm 2,3%; Trung Quốc đạt 37,4 tỷ USD, giảm 0,6%; thị trường ASEAN đạt 23,4 tỷ USD, tăng 2,4%; Nhật Bản đạt 18,6 tỷ USD, tăng 7,6%; Hàn Quốc đạt 18,4 tỷ USD, tăng 10,1%

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 10/2019 đạt 22.373 triệu USD, thấp hơn 127 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 270 triệu USD; dầu thô thấp hơn 151 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 83 triệu USD; xăng dầu cao hơn 210 triệu USD; than đá cao hơn 109 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 68 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 11/2019 ước tính đạt 22,5 tỷ USD, tăng 0,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,7 tỷ USD, giảm 1,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,8 tỷ USD, tăng 2,5%. So với cùng kỳ năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Một tăng 4,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,1%.

Tính chung 11 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 232,31 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 98,21 tỷ USD, tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 134,1 tỷ USD, tăng 3,1%.

Trong 11 tháng có 35 mặt hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 90% tổng kim ngạch nhập khẩu (2 mặt hàng đạt trên 20 tỷ USD, chiếm 34,7%), trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 47,3 tỷ USD (chiếm 20,4% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,2 tỷ USD, tăng 11%; điện thoại và linh kiện đạt 13,6 tỷ USD, giảm 5,3%; vải đạt 12,2 tỷ USD, tăng 4,2%; sắt thép đạt 8,9 tỷ USD, giảm 1,9%; chất dẻo đạt 8,2 tỷ USD, giảm 1,1%; ô tô đạt 6,8 tỷ USD, tăng 40,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 5,9 tỷ USD, tăng 9,7%; kim loại thường đạt 5,9 tỷ USD, giảm 12,5%. 

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 11 tháng năm 2019, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 212,1 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 91,3% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 20,2 tỷ USD, tăng 11,6% và chiếm 8,7% (tăng 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 11 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 68,7 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 43,6 tỷ USD, tương đương cùng kỳ năm trước; thị trường ASEAN đạt 29,6 tỷ USD, tăng 1,7%; Nhật Bản đạt 18,1 tỷ USD, tăng 3,5%; thị trường EU đạt 13,4 tỷ USD, tăng 6,1%; Hoa Kỳ đạt 13 tỷ USD, tăng 11,3%. 

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười xuất siêu 1,86 tỷ USD[11]; đẩy mức xuất siêu 10 tháng lên 9 tỷ USD; tháng Mười Một ước tính xuất siêu 100 triệu USD. Ước tính chung 11 tháng năm 2019 xuất siêu 9,1 tỷ USD[12], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 23,5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,6 tỷ USD.

 
Hàng hóa xuất khẩu

Hàng hóa nhập khẩu

    c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2019 tăng 0,96% so với tháng trước - mức tăng cao nhất của chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 trong 9 năm trở lại đây[13], nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung thịt lợn giảm làm giá thịt lợn và các thực phẩm chế biến từ thịt tăng cao. Tuy nhiên, tính bình quân 11 tháng, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 2,57% so với cùng kỳ năm 2018, là mức tăng bình quân 11 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây[14].

Trong mức tăng 0,96% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2019 so với tháng trước có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 2,74% (Lương thực tăng 0,26%[15], thực phẩm tăng 4,11%[16]); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,2%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,13% (chủ yếu do giá gas trong nước điều chỉnh tăng vào thời điểm 1/11/2019 làm chỉ số giá gas tăng 0,99%, nhóm nhà ở đi thuê tăng 0,38% và dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,4%); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục cùng tăng 0,04%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,16%. Hai nhóm có chỉ số giá giảm là: Giao thông giảm 0,73% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 31/10/2019 và điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 15/11/2019 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 1,7% (tác động làm CPI chung giảm 0,07%); bưu chính viễn thông giảm 0,09%.

CPI bình quân 11 tháng năm 2019 tăng 2,57% so với bình quân cùng kỳ năm 2018; CPI tháng 11/2019 tăng 3,78% so với tháng 12/2018 và tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 11/2019 tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 11 tháng năm 2019 tăng 1,94% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Giá vàng trong nước giảm theo giá vàng thế giới do Cục Dự trữ liên bang Mỹ đưa ra công bố về việc chưa có chính sách hạ lãi suất âm. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/11/2019 giảm 1,65% so với tháng 10/2019. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 11/2019 giảm 0,63% so với tháng trước; tăng 11,65% so với tháng 12/2018 và tăng 17,12% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2019 giảm 0,13% so với tháng trước; giảm 0,58% so với tháng 12/2018 và giảm 0,66% so với cùng kỳ năm trước.

 

 
   d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải trong tháng Mười Một và 11 tháng năm 2019 duy trì mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành đường bộ và đường hàng không đều tăng trên 10% do được chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, đảm bảo kết nối thuận tiện giữa các địa phương và chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao; riêng ngành đường sắt chưa có dấu hiệu cải thiện cả về vận tải hành khách và hàng hóa.

Vận tải hành khách tháng Mười Một ước tính đạt 444,8 triệu lượt khách, tăng 1% so với tháng trước và 21,3 tỷ lượt khách.km, tăng 1,3%. Tính chung 11 tháng năm 2019, vận tải hành khách đạt 4.676,9 triệu lượt khách, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước và 226 tỷ lượt khách.km, tăng 10,7%, trong đó vận tải trong nước đạt 4.660,9 triệu lượt khách, tăng 10,9% và 177,8 tỷ lượt khách.km, tăng 11,2%; vận tải ngoài nước đạt 16 triệu lượt khách, tăng 7,9% và 48,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,9%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ 11 tháng đạt 4.427,9 triệu lượt khách, tăng 11,2% 148,4 tỷ lượt khách.km, tăng 11,3%; đường hàng không đạt 50,3 triệu lượt khách, tăng 10,7% và 70,5 tỷ lượt khách.km, tăng 10,8%; đường thủy nội địa đạt 184,1 triệu lượt khách, tăng 5,5% và 3,6 tỷ lượt khách.km, tăng 6,9%; đường biển đạt gần 7 triệu lượt khách, tăng 5,7% và 423,4 triệu lượt khách.km, tăng 6,9%; đường sắt đạt gần 7,6 triệu lượt khách, giảm 6,6% và 3 tỷ lượt khách.km, giảm 9,3%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Một ước tính đạt 145,3 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và 27,9 tỷ tấn.km, tăng 1,1%. Tính chung 11 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.533 triệu tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước và 293,4 tỷ tấn.km, tăng 7,7%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.502 triệu tấn, tăng 9,7% và 163,6 tỷ tấn.km, tăng 10,3%; vận tải ngoài nước đạt 31 triệu tấn, tăng 4,2% và 129,8 tỷ tấn.km, tăng 4,7%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ 11 tháng đạt 1.176,7 triệu tấn, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước và 78,9 tỷ tấn.km, tăng 11,1%; đường thủy nội địa đạt 276,6 triệu tấn, tăng 5,6% và 57,7 tỷ tấn.km, tăng 6,5%; đường biển đạt 74,6 triệu tấn, tăng 5,7% và 152,4 tỷ tấn.km, tăng 6,9%; đường hàng không đạt 405,9 nghìn tấn, tăng 10,7% và 1.055,4 triệu tấn.km, tăng 10,2%; đường sắt đạt 4,7 triệu tấn, giảm 10,2% và gần 3,4 tỷ tấn.km, giảm 7,9%.

 

Vận tải hành khách

Vận tải hàng hoá

   e) Khách quốc tế đến Việt Nam

Tháng Mười Một ghi nhận mốc mới của du lịch Việt Nam với lượng khách quốc tế đạt trên 1,8 triệu lượt người, cao nhất từ trước đến nay, nâng tổng số khách quốc tế đến nước ta trong 11 tháng đạt gần 16,3 triệu lượt người, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Một ước tính đạt 1.809,6 nghìn lượt người, tăng 11,8% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 13%; bằng đường bộ tăng 8,6%, riêng khách đến bằng đường biển trong tháng giảm mạnh 19,2% do ảnh hưởng của Bão số 6 đổ bộ vào các tỉnh Nam Trung Bộ. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Một tăng 39%, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 44,2%; bằng đường bộ tăng 13,2% và đường biển tăng mạnh 342,7%. Trong tháng, khách đến từ Châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất với 81,1% tổng số khách quốc tế đến nước ta (riêng Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 57,3%) và tăng 47,6% so với cùng kỳ năm trước; từ châu Âu chiếm 12,3% và tăng 13,4%; từ châu Mỹ chiếm 4,7% và tăng 10,2%; từ châu Úc chiếm 1,7% và tăng 0,4%; từ châu Phi chiếm 0,2% và tăng 19,8%.

Tính chung 11 tháng năm 2019, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 16.298,4 nghìn lượt người, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 13.005,1 nghìn lượt người, chiếm 79,8% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 14,1%; bằng  đường bộ đạt 3.060,8 nghìn lượt người, chiếm 18,8% và tăng 21,4%; bằng đường biển đạt 232,4 nghìn lượt người, chiếm 1,4% và tăng 13,7%.

Trong 11 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 12.978,8 nghìn lượt người, chiếm 79,6% tổng số khách quốc tế, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Trung Quốc đạt 5.248 nghìn lượt người, tăng 15,1%; Hàn Quốc đạt 3.866,1 nghìn lượt người, tăng 22,3%; Nhật Bản 872,2 nghìn lượt người, tăng 15,4%; Đài Loan 846,2 nghìn lượt người, tăng 30,2%; Ma-lai-xi-a 535,9 nghìn lượt người, tăng 12,9%; Thái Lan 451,2 nghìn lượt người, tăng 47,1%. Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số khách đến nước ta giảm như: Lào đạt 90,7 nghìn lượt người, giảm 18,3%; Hồng Công đạt 35,4 nghìn lượt người, giảm 37,5%.

Khách đến từ châu Âu 11 tháng ước tính đạt 1.985,3 nghìn lượt người, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở hầu hết các thị trường, trong đó khách đến từ Liên bang Nga đạt 585,6 nghìn lượt người, tăng 6,1%; Vương quốc Anh 292,5 nghìn lượt người, tăng 6,1%; Pháp 265,8 nghìn lượt người, tăng 2,7%; Đức 208 nghìn lượt người, tăng 6,3%; riêng Phần Lan giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước với lượng khách đến Việt Nam đạt 18,8 nghìn lượt người.

Khách đến từ châu Mỹ 11 tháng ước tính đạt 891,8 nghìn lượt người, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 683,9 nghìn lượt người, tăng 8,2%. Khách đến từ châu Úc đạt 399,6 nghìn lượt người, giảm 1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 353,8 nghìn lượt người, giảm 0,6%. Khách đến từ châu Phi đạt 42,9 nghìn lượt người, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

 

 

7. Một số tình hình xã hội

a) Thiếu đói trong nông dân

Tình hình thiếu đói trong tháng Mười Một được cải thiện, cả nước chỉ có tỉnh Gia Lai phát sinh thiếu đói với 512 hộ thiếu đói, giảm 63,5% so với cùng kỳ năm 2018, tương ứng với 2,4 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 61,3%. Đây là tháng thứ 7 liên tiếp kể từ đầu năm có số hộ và số nhân khẩu thiếu đói giảm so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng năm 2019, cả nước có khoảng 68,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 34,2% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 278 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 33,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói hơn 3,9 nghìn tấn gạo.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng (từ 19/10 đến 18/11/2019), tình hình mắc bệnh sốt xuất huyết tiếp tục diễn biến phức tạp, số trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết trên cả nước là 46 nghìn trường hợp, gấp 1,6 lần cùng kỳ năm trước (10 trường hợp tử vong); 22,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 43 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (1 trường hợp tử vong); 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 5,3 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 1,5 nghìn trường hợp mắc sởi dương tính. Tính chung 11 tháng, cả nước có 277,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, gấp 2,8 lần cùng kỳ năm 2018 (49 trường hợp tử vong); 89,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 553 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (13 trường hợp tử vong); 26 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong); 41,8 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 8,2 nghìn trường hợp mắc sởi dương tính (3 trường hợp tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/11/2019 là 209,98 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là gần 96,99 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS tính đến thời điểm trên là 98,47 nghìn người.

Trong tháng xảy ra 5 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 55 người bị ngộ độc. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 63 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 1.723 người bị ngộ độc (9 trường hợp tử vong).

c) Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 15/10 đến 14/11), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.634 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 860 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 774 vụ va chạm giao thông, làm 657 người chết, 479 người bị thương và 790 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng 11/2019 giảm 17,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 14,8% và số vụ va chạm giao thông giảm 19,8%); số người chết và số người bị thương cùng giảm 20%; số người bị thương nhẹ giảm 17,4%. Đáng lưu ý, trong tháng xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng: Vụ tai nạn giữa xe bồn và xe máy xảy ra ngày 31/10 tại Khuất Duy Tiến, Hà Nội làm 2 người chết; vụ tai nạn giữa xe buýt và 8 xe máy xảy ra ngày 13/11 tại thành phố Hồ Chí Minh làm 8 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 15/11 trên đường sắt Bắc - Nam tại Nghệ An làm 1 người chết; vụ tai nạn giữa 1 ô tô và 2 xe máy xảy ra ngày 20/11 tại đường Lê Văn Lương, Hà Nội làm 1 người chết và 3 người bị thương; vụ tai nạn giữa ô tô tải và xe máy xảy ra ngày 20/11 tại Hoài Đức, Hà Nội làm 2 người chết; vụ tai nạn xe tải xảy ra ngày 21/11 tại Quảng Trị làm 2 người chết.

Tính chung 11 tháng năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 15.885 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 8.402 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 7.483 vụ va chạm giao thông, làm 6.975 người chết, 4.591 người bị thương và 7.553 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 11 tháng năm nay giảm 5,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 8,1%); số người chết giảm 6,9%; số người bị thương giảm 2,3% và số người bị thương nhẹ giảm 10,1%. Bình quân 1 ngày trong 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 47 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 22 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 36 người bị thương và 23 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai

Thiên tai xảy ra trong tháng 11/2019 chủ yếu là mưa lớn, lốc xoáy, sét đánh, sạt lở và triều cường tại một số địa phương làm 3 người chết, 33 người bị thương; 247 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 2,4 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; gần 6,4 nghìn ha lúa và hơn 4,1 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng ước tính gần 1,1 nghìn tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, thiên tai làm 129 người chết và mất tích, 208 người bị thương; 1.851 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 68,5 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; 72,7 nghìn ha lúa và hơn 25,5 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai xảy ra trong 11 tháng ước tính hơn 6,1 nghìn tỷ đồng.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 11/2019, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.094 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.030 vụ với tổng số tiền phạt 12,8 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng đã phát hiện 11.281 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 10.211 vụ với tổng số tiền phạt 112,2 tỷ đồng.

Tháng 11/2019, cả nước xảy ra 260 vụ cháy, nổ, làm 6 người chết và 19 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính hơn 25,4 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.454 vụ cháy, nổ, làm 88 người chết và 160 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 1.126,8 tỷ đồng.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước năm 2019 đạt 1.611,1 nghìn ha, giảm 72,2 nghìn ha so với vụ mùa năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.070,7 nghìn ha, giảm 33,5 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 540,4 nghìn ha, giảm 38,7 nghìn ha.

[2] Diện tích gieo cấy lúa mùa giảm chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ. Một số địa phương có diện tích gieo trồng giảm nhiều so với năm trước: Cà Mau giảm 38,3 nghìn ha; Nghệ An giảm 6 nghìn ha; Thanh Hóa giảm 5,2 nghìn ha; Hà Nội giảm 5,4 nghìn ha; Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, Phú Thọ, Bình Định đều giảm trên 2 nghìn ha.

[3] Tốc độ tăng IIP từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2019 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 8,1%; 10,1%; 9,2%; 9%; 10,2%; 9%; 9,8%; 10,5%; 9,9%; 9,8%; 5,4%.

[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[5] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 5,4%; số vốn đăng ký tăng 18,2%; số lao động đăng ký tăng 21,9%.

[6] Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN 11 tháng so với kế hoạch năm giai đoạn 2016-2019 lần lượt là: 85,5%; 82,0%; 80,6%; 78,6%. Tốc độ tăng vốn đầu tư từ nguồn NSNN 11 tháng so với cùng kỳ năm trước: năm 2016 là 15%; năm 2017 là 7,5%; năm 2018 là 12,4%; năm 2019 là 5,5%.

[7] Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện các năm 2016-2019 lần lượt là: 14,3 tỷ USD; 16 tỷ USD; 16,5 tỷ USD; 17,6 tỷ USD.

[8] Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một so với cùng kỳ năm trước: năm 2014 là 7,6%; năm 2015 là 9,8%; năm 2016 là 10,1%; năm 2017 là 11%; năm 2018 là 10,8% năm 2019 là 12,6%.

[9] Thấp hơn mức tăng của 11 tháng năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 11 tháng của các năm giai đoạn 2015-2017. Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng các năm 2015-2019 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10,5%; 10,1%; 10,7%; 12%; 11,8%.

[10] Thấp hơn mức tăng 22,1% của 11 tháng năm 2017 và 14,6% của 11 tháng năm 2018.

[11] Tháng Mười ước tính nhập siêu 100 triệu USD.

[12] Trong đó, 11 tháng năm 2019 xuất siêu sang EU đạt 24,6 tỷ USD, giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 31,3 tỷ USD, tăng 42,3 %; nhập siêu từ Hàn Quốc 25,2 tỷ USD, giảm 6,4%; nhập siêu từ ASEAN 6,2 tỷ USD, giảm 0,8%.

[13] Tốc độ tăng CPI tháng 11 so với tháng trước giai đoạn 2011-2019 lần lượt là: 0,39%; 0,47%; 0,34%; -0,27%; 0,07%; 0,48%;  0,13%; -0,29%; 0,96%.

[14] Tốc độ tăng CPI bình quân 11 tháng năm 2017, năm 2018, năm 2019 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 3,61%; 3,59% và 2,57%.

[15] Chủ yếu do các tiểu thương và doanh nghiệp đang đẩy mạnh thu mua phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước cuối năm làm giá gạo ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng.

[16] Nguyên nhân chính là do giá thịt lợn tăng 18,51% (tác động CPI chung tăng 0,78%) và giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn và giá các mặt hàng thay thế tăng: giá thịt quay, giò chả tăng 5,99%; giá thịt hộp, chế biến khác tăng 0,59%; giá thịt bò tăng 1,29%; giá thịt gà tăng 1,57%; giá cá, tôm tươi ướp lạnh tăng từ 0,89%-1,36%; giá thủy sản chế biến tăng 0,49%.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Báo cáo tình hình kinh tế xã hội Quý II và 6 tháng đầu năm 2020
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2020
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2020
  Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2020
  Tỉnh hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2020