English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
  
ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
Thông cáo báo chí 
Kết quả tóm tắt khảo sát mức sống hộ gia đình 2006 (15:09 07/01/2008)

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập Tự do Hạnh phúc

 

 

Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2007

 

KẾT QUẢ TÓM TẮT

KHẢO SÁT MỨC SỐNG HỘ GIA ĐÌNH 2006

I. Giới thiệu

Để đánh giá mức sống phục vụ hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tiến hành nhiều cuộc điều tra mức sống hộ gia đình. Đặc biệt từ năm 2002 đến 2010, TCTK tiến hành Khảo sát mức sống hộ gia đình (KSMS) Việt Nam 2 năm một lần vào những năm chẵn nhằm theo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam; giám sát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo; góp phần đánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

TCTK tổ chức công bố kết quả chính thức KSMS 2006. Các số liệu thuộc các chuyên ngành thống kê khác được tổng hợp từ KSMS không nhằm thay thế các số liệu đã công bố của các cuộc điều tra của các chuyên ngành này, mà chỉ để làm rõ và phân tích sâu hơn về những nhân tố ảnh hưởng đến mức sống

II. Thực trạng mức sống

1. Quy mô hộ gia đình

Nhân khẩu bình quân 1 hộ chung cả nước năm 2006 là 4,2 người, giảm dần qua các năm điều tra đối với cả khu vực thành thị và nông thôn, các vùng, các nhóm dân tộc và các nhóm thu nhập.

Nhân khẩu bình quân 1 hộ gia đình thuộc khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị, của hộ gia đình nghèo cao hơn hộ giàu. Theo KSMS 2006, nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1) có số nhân khẩu bình quân 1 hộ là 4,6 người, cao gấp 1,2 lần so với nhóm hộ giàu nhất (nhóm 5). Các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có số nhân khẩu bình quân 1 hộ cao hơn các vùng khác.

2. Thu nhập

            Trong năm 2006, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt 636 nghìn đồng, tăng 31,3% so với năm 2004.

            Trong thời kỳ 2004-2006 thu nhập bình quân 1 người 1 tháng theo giá hiện hành tăng bình quân 14,6% năm, thấp hơn mức tăng 16,6% mỗi năm của thời kỳ 2002-2004. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì thu nhập thực tế thời kỳ 2004-2006 tăng 6,2%, thấp hơn mức tăng thu nhập thực tế 10,7% của thời kỳ 2002-2004. Thu nhập của năm 2006 tăng là do tháng 10/2005 Nhà nước tăng mức lương tối thiểu, kéo theo tiền công thuê ngoài xã hội cũng tăng; đồng thời sản xuất thời kỳ này tiếp tục tăng: sản lượng cây trồng, đặc biệt sản lượng lúa tăng; giá nông sản, thuỷ sản như thóc, cà phê, cao su, điều, lợn hơi, tôm, cá đều tăng so với 2004. Tuy nhiên tốc độ tăng thu nhập thời kỳ 2004-2006 không bằng  thời kỳ 2002-2004 là do tốc độ tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp giảm.

Thu nhập ở khu vực thành thị và nông thôn đều tăng. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị đạt 1.058 nghìn đồng, tăng 29,8%; khu vực nông thôn đạt 506 nghìn đồng, tăng 33,8% so với năm 2004 và tăng  nhanh hơn khu vực thành thị. Tuy nhiên thu nhập của hộ gia đình thành thị vẫn cao hơn nông thôn. Chênh lệch thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2002; 2004, 2006 của khu vực thành thị so với khu vực nông thôn tương ứng các năm là: 2,26; 2,15 và 2,09 lần và có xu hướng thu hẹp dần.

Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1) đạt 184 nghìn đồng, tăng 29,9%, của nhóm hộ giàu nhất (nhóm 5) đạt 1542 nghìn đồng, tăng 30,4% so 2004. Mức chênh lệch thu nhập bình quân 1 người 1 tháng giữa nhóm 5 và nhóm 1 là 8,37 lần, tăng nhẹ so năm 2004.

Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2006 theo giá hiện hành của các vùng đều tăng khá cao so năm 2004. Ba vùng có tốc độ tăng nhanh nhất là Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên là do giá cà phê và một số hàng nông sản tăng khá so năm 2004 và do tác động của các chính sách của Nhà nước đối với vùng Tây Nguyên, đặc biệt việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc tại chỗ, Nhà nước cấp nhà ở, cấp vật liệu làm nhà, bao cấp về y tế, giáo dục và do tác động của chính sách phát triển kinh tế- xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, thu nhập giữa các vùng còn có sự chênh lệch. Vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là Đông Nam Bộ, cao gấp 2,8 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Tây Bắc (năm 2004 con số này là 3,1 lần).

            Do thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng khá, đời sống các tầng lớp dân cư ở các vùng, đặc biệt tầng lớp nghèo tiếp tục được cải thiện nên số hộ nghèo tiếp tục giảm. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2006 tính theo chuẩn nghèo mới của Chính phủ (200 ngàn đồng cho khu vực nông thôn và 260 ngàn đồng cho khu vực thành thị) là 15,49%; con số này của năm 2004 là 18,1%. Tỷ lệ hộ nghèo của thành thị, nông thôn và các vùng năm 2006 đều giảm so năm 2004. 

Tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 và năm 2006

theo chuẩn mới của Chính Phủ giai đoạn 2006-2010 (%)

 

Năm 2004

(Tính theo chuẩn mới của Chính phủ giai đoạn 2006-2010 quy về giá tháng 1/2004)

Năm 2006

 

Cả nước

18,1

15,5

Chia theo khu vực

 

 

     Thành thị

8,6

7,7

     Nông thôn

21,2

17

Chia theo vùng

 

 

     Đồng bằng sông Hồng

12,9

10,1

     Đông Bắc

23,2

22,2

     Tây Bắc

46,1

39,4

     Bắc Trung Bộ

29,4

26,6

     Duyên hải Nam Trung Bộ

21,3

17,2

     Tây Nguyên

29,2

24,0

     Đông Nam Bộ

6,1

4,6

     Đồng bằng sông Cửu Long

15,3

13,0

 

3. Chênh lệch thu nhập và phân hoá giầu nghèo

Kết quả KSMS 2006 cho thấy chênh lệch về thu nhập bình quân 1 người 1 tháng giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất trong năm 2006 tăng nhẹ so với năm 2004.

So sánh 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 20% số hộ có thu nhập thấp nhất thì hệ số chênh lệch năm 2004 là 8,4 lần (hệ số này năm 1999 là 7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần, năm 2004 là 8,3 lần).

Chênh lệch thu nhập và phân hoá giầu nghèo trong dân cư còn được nhận biết qua hệ số GINI hoặc tiêu chuẩn “40%’’. Hệ số GINI nhận giá trị từ 0 đến 1. Hệ số GINI bằng 0 là không có sự chênh lệch. Hệ số GINI càng tiến dần đến 1 thì sự chênh lệch càng tăng, và bằng 1 khi có sự chênh lệch tuyệt đối.

KSMS 2006 cho thấy hệ số GINI về thu nhập tính chung cả nước là 0,42, tương đương năm 2004. Hệ số này năm 1999 là 0,39,  năm 2002 là 0,418. Như vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập ở mức thấp nhưng có xu hướng tăng.

Tiêu chuẩn “40%’’ của Ngân hàng Thế giới đưa ra nhằm đánh giá phân bố thu nhập của dân cư. Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư. Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập, nằm trong khoảng từ 12%-17% là có sự bất bình đẳng vừa và lớn hơn 17% là có sự tương đối bình đẳng. Tỷ trọng này ở nước ta tính theo số hộ là 18,7% năm 1999; 17,98%  năm  2002 ; 17,4% năm  2004 và 17,4 năm 2006. Theo tiêu chuẩn này thì Việt Nam có phân bố thu nhập trong dân cư ở mức tương đối bình đẳng nhưng đang có xu hướng tăng lên mức bất bình đẳng vừa.

4. Chi tiêu

            Tính chung cả nước, chi tiêu theo giá hiện hành năm 2006 bình quân đầu người 1 tháng đạt 511 nghìn đồng, tăng 28,9% so với năm 2004, trong đó chi tiêu cho đời sống đạt 460 nghìn đồng, tăng 27,9% so với năm 2004, bình quân mỗi năm tăng 13,5%, (thời kỳ 2002-2004 là 15,7% một năm). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì chi tiêu thực tế thời kỳ 2004-2006 tăng 5,2%, thấp hơn mức tăng chi tiêu thực tế 10,3% của thời kỳ 2002-2004.

            Ở các vùng, chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng năm 2006 tăng so năm 2004, trong đó tăng chậm nhất là Duyên hải Nam Trung Bộ, cao nhất là Tây Nguyên.

         Năm 2006 chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người 1 tháng khu vực nông thôn đạt 359 nghìn đồng, tăng 27% so với năm 2004; khu vực thành thị đạt 738 nghìn đồng, tăng 24% so năm 2004. Mức chi tiêu cho đời sống khu vực thành thị gấp 2,06 lần khu vực nông thôn (thời kỳ 2002-2004 là 2,1 lần). So năm 2004 chi tiêu cho đời sống của nhóm hộ nghèo nhất tăng 26,3% (thấp thua 30,1% của thời kỳ 2002-2004); nhóm hộ giàu nhất tăng 28,3% (thời kỳ 2002-2004 là 30,4%). Chi tiêu đời sống của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 4,54 lần nhóm hộ nghèo nhất (hệ số này năm 2004 và 2002 đều là 4,45 lần).

Tỷ trọng chi ăn uống trong chi tiêu đời sống là một chỉ tiêu đánh giá mức sống cao hay thấp. Tỷ trọng này càng cao thì mức sống càng thấp và ngược lại. Việt Nam là một nước còn nghèo nên tỷ trọng này còn cao, nhưng đã có xu hướng giảm rõ rệt: Chi ăn uống trong chi tiêu đời sống từ 57% năm 2002, năm 2004 xuống đến 53,5% và năm 2006 chỉ là 52,8%. Tỷ trọng này năm 2006 của khu vực thành thị, nông thôn và hầu hết các nhóm thu nhập đều thấp thua năm 2004.

Các gia đình thuộc nhóm hộ trung bình, hộ khá và hộ giàu chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu ngoài ăn uống. Tỷ trọng 1 số khoản chi ngoài nhu cầu ăn uống qua các năm: Chi mua sắm thiết bị và đồ dùng từ 8,1% năm 2002 lên 9,1% năm 2004 và năm 2006 là 9,2%; chi y tế và chăm sóc sức khoẻ tăng từ 5,6% năm 2002 lên 7% năm 2004 và năm 2006 là 6,4%; chi giáo dục tăng từ 6,1% lên 6,3% và năm 2006 lên 6,4%; chi đi lại và bưu điện tăng từ 10% lên 11% và 2006 lên 11,9%. Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt giữa thành thị, nông thôn, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo. Năm 2006 tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống trong chi tiêu ở thành thị là 43,9% trong khi ở nông thôn là 50,2, (năm 2004 tỷ lệ tương ứng là 44,6% và 51,1%).

Nhóm hộ giàu nhất có mức chi tiêu những hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ngoài ăn uống lớn gấp 7,1 lần so với nhóm hộ nghèo nhất, trong đó chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 8,8 lần; chi thiết bị và đồ dùng gia đình gấp 7,2 lần, chi y tế chăm sóc sức khoẻ gấp 3,9 lần, chi đi lại và bưu điện gấp 12,1 lần, chi giáo dục gấp 5,2 lần, chi văn hoá thể thao giải trí gấp 69,8 lần. Như vậy, những hộ giàu có điều kiện nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện sinh hoạt tốt hơn, đồng thời có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội chất lượng cao hơn.

Tỷ lệ chi ăn uống, hút trong chi tiêu cho đời sống (%)

                                               

Năm  2002

Năm  2004

Năm 2006

Cả nước

56,7

53,5

52,8

Chia theo khu vực

 

 

 

   Thành thị

51,6

48,9

48,2

   Nông thôn

60,0

56,7

56,2

Chia theo vùng

 

 

 

   Đồng bằng sông Hồng

53,8

51,1

51,5

   Đông Bắc

   Tây Bắc

61,2

64,2

58,2

60,0

57

60,2

   Bắc Trung Bộ

58,3

56,3

55,1

   Duyên hải Nam Trung Bộ

56,4

53,1

54,4

   Tây Nguyên

58,6

51,3

52,2

   Đông Nam Bộ

52,7

50,4

48

   Đồng bằng sông Cửu Long

60,5

56,7

56,2

Chia theo nhóm thu nhập

 

 

 

   Nhóm 1 (20% số hộ nghèo nhất)

70,1

66,5

65,2

   Nhóm 5 (20% số hộ nghèo nhất)

49,6

46,9

45,8

5. Giáo dục

Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên đạt ở mức cao: 93,1%. Tuy nhiên, tỷ lệ này cao hơn đáng kể ở nhóm hộ giàu nhất so với nhóm hộ nghèo nhất; ở hộ thành thị so với hộ nông thôn và ở nam so với nữ.

Tỷ lệ không có bằng cấp hoặc chưa bao giờ đến trường của dân số từ 15 tuổi trở lên của nhóm hộ nghèo nhất là 38%, cao hơn 3,5 lần so với nhóm hộ giàu nhất.

Chi phí cho giáo dục bình quân một thành viên hộ đi học trong 12 tháng qua tăng so với năm 2004. Trung bình các hộ gia đình phải chi 1,211 triệu đồng cho một thành viên đang đi học, tăng 47% so với năm 2004. Tốc độ tăng này là 32% trong năm 2004 so với 2002. Các khoản học phí, học thêm và chi giáo dục khác là các khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong chi giáo dục cho các thành viên hộ. Chi tiêu cho giáo dục, đào tạo đều tăng ở thành thị, nông thôn và 5 nhóm thu nhập. Các hộ gia đình khu vực thành thị chi cho giáo dục, đào tạo bình quân là 2,096 triệu đồng cho 1 người đi học, cao hơn 2,3 lần so với mức chi bình quân của một hộ gia đình ở nông thôn. Chi tiêu cho giáo dục bình quân một người đi học trong năm của nhóm hộ giàu nhất cao hơn 5 lần so với nhóm hộ nghèo nhất.

6. Y tế và chăm sóc sức khoẻ

Theo KSMS 2006, 35,2% thành viên hộ gia đình điều tra có khám chữa bệnh trong 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn, trong đó 32,6% có khám/chữa bệnh ngoại trú và 6,3% có khám chữa bệnh nội trú. So với năm 2004, tỷ lệ khám/chữa bệnh của thành viên hộ gia đình tăng, trong đó tỷ lệ khám/chữa bệnh ngoại trú tăng nhưng tỷ lệ khám chữa bệnh nội trú giảm nhẹ.

Nhóm hộ giàu nhất có tỷ lệ lượt người khám chữa bệnh cao hơn nhóm hộ nghèo nhất (36,3% so với 33,8%).

Khi phải nhập viện, người dân chủ yếu đã đến các bệnh viện nhà nước. Tỷ lệ lượt người khám chữa bệnh nội trú tại các bệnh viện nhà nước năm 2006 là 78%, xấp xỉ năm 2004.

Tuy nhiên, so với người dân thành thị thì người dân nông thôn có ít hơn cơ hội được khám chữa bệnh tại các bệnh viện nhà nước. Chỉ có 74% lượt người ở khu vực nông thôn khám, chữa bệnh nội trú tại các bệnh viện nhà nước, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 89%. Thay vào đó họ đã đến điều trị nội trú tại các trạm y tế xã. Nhóm hộ giàu nhất có tỷ lệ khám chữa bệnh nội trú tại các bệnh viện nhà nước cao hơn nhóm hộ nghèo nhất. Chênh lệch này còn cao hơn đối với khám chữa bệnh ngoại trú.

Theo kết quả KSMS 2006, đã có trên 50% số người có thẻ bảo hiểm y tế hoặc sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí khi đi khám, chữa bệnh, tăng đáng kể so 2004, kể cả ở nông thôn. Đặc biêt đã có 71% số người thuộc nhóm hộ nghèo nhất có thẻ bảo hiểm y tế hoặc sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí trong khi nhóm hộ giàu nhất chỉ có 61%. Những vùng nghèo nhất như Tây Bắc và Tây Nguyên, những nhóm dân tộc thiểu số có tỷ lệ này cao nhất cả nước.

7. Tỷ lệ người khuyết tật

KSMS 2006 đã có một số câu hỏi về khuyết tật theo phương pháp đánh giá chức năng dựa trên Bảng phân loại chức năng (ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Mỗi thành viên 5 tuổi trở lên của hộ gia đình được phỏng vấn 6 câu hỏi để đánh giá thực hiện các chức năng cơ bản của con người là: nghe, nhìn, vận động, nhận thức, khả năng ghi nhớ/tập trung, tự chăm sóc bản thân, và chức năng giao tiếp. Người trả lời tự đánh giá việc thực hiện các chức năng đó dựa trên 4 mức phân loại: (1) Không khó khăn; (2) Khó khăn; (3) Rất khó khăn; và (4) Không thể thực hiện được. Trong tài liệu này, nếu một người có phương án trả lời là 2, 3 hoặc 4 khi thực hiện bất kỳ chức năng nào trong sáu chức năng nói trên sẽ được coi là khuyết tật.   

Tỷ lệ người khuyết tật chung cả nước là 15,3%. Vùng có tỷ lệ khuyết tật cao nhất là Đông nam Bộ, thấp nhất là Tây Bắc. Tỷ lệ người khuyết tật khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (17,8% so với 14,4%).

Tỷ lệ người khuyết tật nữ cao hơn nam (16,58% so với 13,69%) là do nhóm dân số nữ cao tuổi chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với nhóm dân số cao tuổi là nam giới.

Nước

Năm

Tỷ lệ

Khuyết tật (%)

New Zeland

1996

20

Úc

2000

20

Zambia

2006

13.1

Thụy Điển

1988

12.1

Nicaragua

2003

10.3

Mỹ

2000

19.4

 

8. Sinh đẻ

Số con đẻ bình quân 1 người phụ nữ 15-49 tuổi là 2,33 con. Số con đẻ bình quân 1 người phụ nữ 15-49 tuổi cao hơn ở nhóm hộ nghèo (2,75 con) so với nhóm hộ giàu (2,01 con); cao hơn ở nông thôn, ở nhóm dân tộc thiểu số, ở những bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn.

9. Hút thuốc

Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hút thuốc hàng ngày là 19,5%, trong đó chủ yếu là nam giới (39%); chỉ có khoảng 1% nữ từ 15 tuổi hút thuốc. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hút thuốc hàng ngày cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, thấp nhất ở Đồng bằng sông Hồng. Tỷ lệ này cao hơn ở nông thôn, ở nhóm dân số nghèo, ở người có trình độ học vấn thấp.

Độ tuổi bắt đầu hút thuốc tập trung ở khoảng từ 17 đến 20 tuổi. Tuy nhiên có 0,5% trẻ em từ 10-14 tuổi đã từng hút thuốc, trong đó khoảng 50% hút thuốc lá hàng ngày.

10. Nhà ở, tiện nghi, đồ dùng lâu bền

Đời sống của các tầng lớp dân cư trong những năm gần đây được cải thiện rõ rệt thể hiện qua điều kiện nhà ở. Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố tăng từ 12,7% năm 2002 lên 20,8 năm 2004 và 23,7% năm 2006; tỷ lệ hộ có nhà tạm và nhà khác giảm nhanh, từ 24,6% năm 2002, 20,4% năm 2004 xuống còn 16,4% năm 2006.

Tuy nhiên có sự chênh lệch về chất lượng nhà ở giữa thành thị và nông thôn và giữa các nhóm thu nhập. Toàn bộ nhà biệt thự đều thuộc về 40% hộ có thu nhập cao nhất. Nhóm hộ giàu nhất (nhóm 5) có tới 46% số hộ có nhà kiên cố, trong khi nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1) chỉ có 7,5%. Ngược lại số nhà tạm và nhà khác của nhóm hộ nghèo nhất cao gần gấp 5 lần nhóm hộ giàu nhất.

            Tỷ lệ hộ có điện lưới thắp sáng tăng từ 86,5% năm 2002 lên 96% năm 2006, trong đó khu vực nông thôn tăng mạnh, từ 83% lên 95%. Tuy nhiên Vùng Tây bắc còn có khoảng 1/5 số hộ không được sử dụng điện lưới. Các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Bắc và  Tây Nguyên còn có nhiều hộ không được sử dụng điện lưới.

            Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch tiếp tục tăng.

Hầu hết các loại đồ dùng lâu bền hiện có của các hộ đều tăng ở cả khu vực thành thị, nông thôn, các vùng và các nhóm thu nhập. Tuy nhiên số hộ có đồ dùng lâu bền ở thành thị vẫn cao hơn nhiều so với hộ ở nông thôn, ví dụ có 72% số hộ thành thị có xe máy trong khi chỉ có 46% số hộ nông thôn có xe máy; tương ứng 67% và 21% đối với điện thoại; 53% và 11% đối với tủ lạnh; 92% và 73% đối với máy thu hình; 20% và 3% đối với máy vi tính.

III. Kết luận

 Cùng với tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực của Đảng và Chính phủ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, thu nhập năm 2006 của dân cư tiếp tục tăng khá, tỷ lệ hộ nghèo giảm, đời sống của các tầng lớp dân cư tiếp tục ổn định. Đặc biệt, do tác động của các chính sách đầu tư, các chính sách xã hội cho các vùng nghèo và người nghèo nên thu nhập và đời sống của vùng nông thôn, vùng xa, vùng nghèo và người nghèo đều tăng và phát triển.

Tuy nhiên, thu nhập và chi tiêu trong thời kỳ 2004- 2006 có xu hướng tăng chậm hơn thời kỳ 2002-2004; mức sống vẫn có sự cách biệt xa giữa thành thị, nông thôn, giữa nhóm dân cư giàu và nghèo, giữa một số vùng, đặc biệt vùng Tây Bắc còn khó khăn nhất so với các vùng khác. Đây là vấn đề đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải tiếp tục quan tâm.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 
CÁC THÔNG CÁO KHÁC
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2015 (02/04/2015)
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014 (30/09/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2014 (02/04/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI SÁU THÁNG ĐẦU NĂM 2013 (27/06/2013)
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2013 (28/03/2013)
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (1/11/2012)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40