ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
Thông cáo báo chí 
THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ-XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2010 (08:54 01/07/2010)

Năm 2010 là năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2010 không chỉ có ý nghĩa góp phần hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 mà còn tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục duy trì ổn định kinh tế, chính trị, xã hội và các tiền đề cho phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, cả nước đang ra sức nỗ lực, quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2010.

Sáu tháng đầu năm, kinh tế-xã hội nước ta tuy vẫn đang trên đà phục hồi nhanh và phát triển theo hướng tích cực với mức tăng trưởng khá ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, nhưng còn gặp một số khó khăn: Kinh tế thế giới nhìn chung đang thoát ra khỏi khủng hoảng nhưng chưa thực sự có những chuyển biến mạnh mẽ và vững chắc, một số quốc gia có dấu hiệu bất ổn về kinh tế tài chính. Ở trong nước, một số cân đối kinh tế vĩ mô có biểu hiện chưa ổn định, cùng với hạn hán kéo dài và dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi gây ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống dân cư.

Trong bối cảnh đó, từ đầu năm Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành kịp thời nhiều Chỉ thị, Nghị quyết quan trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương triển khai thực hiện. Trong đó, trọng tâm là Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010; Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% trong năm 2010. Nhờ đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ngành, lĩnh vực trong 6 tháng đầu năm đạt kết quả tích cực, tạo đà cho việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cả năm 2010.

I. KẾT QUẢ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.       Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

Tổng sản phẩm trong nước quý I/2010 tăng 5,83% so với cùng kỳ năm 2009, ước tính quý II/2010 tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước và bằng 109,8% tốc độ tăng quý I/2010. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng sản phẩm trong nước tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước và tăng đều cả ở ba khu vực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,31%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,50%, đóng góp 2,63 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,05%, đóng góp 2,94 điểm phần trăm. Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm tuy chưa bằng mục tiêu 6,5% đề ra cho cả năm nhưng là tốc độ tăng khá cao trong điều kiện xản xuất, kinh doanh trong nước còn gặp khó khăn (Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm 2009 so với cùng kỳ năm 2008 là 3,87%). Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm theo xu hướng mức tăng quý sau cao hơn quý trước và tăng cả ở ba khu vực cho thấy nền kinh tế nước ta đang phục hồi nhanh và có khả năng đạt mức tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 103,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm nông nghiệp đạt 75,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4%; lâm nghiệp đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4% và thuỷ sản đạt 24,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,3%.

a.       Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm 2010 cả nước ước tính đạt 3086,1 nghìn ha, tăng 25,4 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; năng suất đạt 62,2 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha; sản lượng đạt 19,2 triệu tấn, tăng 495 nghìn tấn.

Trong vụ đông xuân năm nay, các địa phương phía Bắc gặp khó khăn từ đầu vụ do thời tiết nắng hạn kéo dài nên diện tích gieo cấy ước tính đạt 1147,3 nghìn ha, giảm 3,2 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2009, do đó sản lượng chỉ đạt 6,8 triệu tấn, giảm 32,8 nghìn tấn. Ngược lại, thời tiết tại các địa phương phía Nam tương đối thuận nên diện tích gieo sạ lúa đông xuân ước tính đạt 1938,8 nghìn ha, tăng 28,6 nghìn ha so với vụ đông xuân trước, năng suất đạt 63,8 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha, do đó sản lượng đạt khá với 12,4 triệu tấn, tăng 528 nghìn tấn.

Các loại cây trồng đông xuân khác cũng đã cơ bản thu hoạch xong, trong đó sản lượng ngô đạt 2,3 triệu tấn, tăng 12,1% so với vụ đông xuân trước; khoai lang đạt 837,5 nghìn tấn, tăng 12,9%; đậu tương 164,4 nghìn tấn, tăng 121,9%. Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương đã xuống giống được 1940,4 nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 01/4/2010, đàn trâu cả nước có 2,9 triệu con, tăng 0,5% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 6 triệu con, giảm 1,4%; đàn lợn có 27,3 triệu con, tăng 3,1%; đàn gia cầm có 277,4 triệu con, tăng 8,1%. Sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước do dịch bệnh đã được khống chế kịp thời, trong đó thịt lợn hơi đạt 1,79 triệu tấn, tăng 4,7%; thịt gia cầm hơi đạt 330,7 nghìn tấn, tăng 17%; trứng gia cầm 3278,8 triệu quả, tăng 7,1%.

b. Lâm nghiệp

Tổng diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm ước tính tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán tăng 0,1%; diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 6,6%; diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi tái sinh tăng 6,3%; sản lượng gỗ khai thác tăng 6%. Trong 6 tháng đầu năm, diện tích rừng bị cháy và bị phá là 7384,2 ha, bao gồm 6348 ha bị cháy, gấp 4,5 lần cùng kỳ năm 2009 và 1006,2 ha bị phá, bằng 84,2%.

c. Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 2429,8 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 1883,8 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm 204,9 nghìn tấn, tăng 5,8%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 972,5 nghìn ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 312 nghìn ha, tăng 8%; diện tích nuôi tôm 623,5 nghìn ha, tăng 3%. Do diện tích thả nuôi tăng nên sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm tăng khá, ước tính đạt 1206,7 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản khai thác 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1223,1 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó khai thác biển đạt 1143,7 nghìn tấn, tăng 5,7%. Sản lượng thủy sản khai thác đạt khá chủ yếu do đang vào mùa cá nam nên nhiều loại cá xuất hiện trên ngư trường. Bên cạnh đó, giá cá ngừ đại dương ở mức cao đã khuyến khích ngư dân các địa phương tích cực bám biển.

3. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,7%; ngành công nghiệp khai thác giảm 4%; ngành sản xuất và phân phối điện, nước tăng 15,7%.

Giá trị sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện, nước 6 tháng đầu năm tăng chủ yếu do sản lượng điện sản xuất tăng cao với 15,5% (cùng kỳ năm 2009 tăng 7,9%). Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn huy động từ thủy điện gặp nhiều khó khăn do thời tiết khô hạn kéo dài và nhu cầu tiêu dùng điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng tăng cao nên khả năng đáp ứng bị hạn chế. Trong 6 tháng đầu năm, sản lượng điện cung cấp cho ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 30,5% so với cùng kỳ năm 2009; cung cấp cho ngành công nghiệp và xây dựng tăng 22,2%; cho ngành thương nghiệp, khách sạn nhà hàng tăng 12,9%; cho quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 5,6%. Thực tế trên đây cho thấy, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng điện cho sản xuất trong nước đang phát triển với tốc độ nhanh cần có sự điều tiết hợp lý giữa sản xuất và phân phối điện cho các mục đích tiêu dùng, đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, tránh để xảy ra tình trạng thiếu điện kéo dài gây ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh.

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai thác 6 tháng đầu năm giảm 4% so với cùng kỳ năm 2009, chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác chiếm tỷ trọng lớn nhưng giảm 16,2% và sản lượng than khai thác tăng thấp ở mức 5,4%. 

Khắc phục khó khăn trong sản xuất 6 tháng đầu năm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đạt tốc độ tăng khá, nhiều sản phẩm chủ yếu có sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Khí hóa lỏng tăng 94,5%; sữa bột tăng 39,4%; lốp ô tô, máy kéo tăng 32,4%; xe tải tăng 32,1%; xe chở khách tăng 30,8%; kính thủy tinh tăng 30,3%; xe máy tăng 29,8%; điều hoà nhiệt độ tăng 27,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 23,1%; xi măng tăng 19,2%; xà phòng tăng 18,5%; bia tăng 16,6%; quần áo người lớn tăng 15,7%. Chỉ số tiêu thụ một số sản phẩm công nghiệp chế biến 5 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sữa bột tăng 32,5%; thức ăn gia súc, gia cầm tăng 19,3%; bia lon tăng 44,4%; sợi xe từ sợi bông tăng 16,5%; thép tấm tăng 121,3%; gạch lát granit nhân tạo tăng 56,5%; gạch ốp tường tăng 40,8%; tôm đông tăng 9,1%; sữa tươi tiệt trùng tăng 39,1%; sữa bột tăng 32,5%; thức ăn cho thủy sản tăng 11,8%.

4. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm ước tính tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2009, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 16,4%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm, kinh doanh thương nghiệp tăng 27,6%; khách sạn nhà hàng tăng 22,1%; dịch vụ tăng 23,9%; du lịch tăng 32,6%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2010 ước tính tăng 13,4% về vận chuyển và tăng 15,6% về luân chuyển so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vận tải trung ương tăng 11,4% và tăng 14,4%; vận tải địa phương tăng 13,9% và tăng 15,9%. Vận tải hành khách đường bộ 6 tháng ước tính tăng 14,2% về vận chuyển và tăng 14% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; đường sông tăng 2,9% và tăng 0,6%; đường hàng không tăng 29,7% và tăng 26,9%; đường biển tăng 4,2% và tăng 5,5%; đường sắt tăng 4,4% và tăng 6,1%.

Vận tải hàng hóa 6 tháng ước tính tăng 11,4% về vận chuyển và tăng 9,4% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hoá đường bộ tăng 12,1% và tăng 12,2%; đường sông tăng 5,1% và tăng 1,8%; đường biển tăng 21% và tăng 10%; đường sắt giảm 0,8% và tăng 2,7%.

c. Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại mới 6 tháng đầu năm ước tính đạt 22,8 triệu thuê bao, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm 707,7 nghìn thuê bao cố định, giảm 58,7% và 22,1 triệu thuê bao di động, tăng 18,7%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến hết tháng 6/2010 đạt 151 triệu thuê bao, tăng 48,5% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 17,5 triệu thuê bao cố định, tăng 10,7% và 133,5 triệu thuê bao di động, tăng 55,4%.

Số thuê bao internet băng rộng trên cả nước tính đến hết tháng 6/2010 ước tính đạt 3,4 triệu thuê bao, tăng 33,5% so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 6 tháng đầu năm ước tính đạt 56,1 nghìn tỷ đồng, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm trước.

d. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta 6 tháng đầu năm ước tính đạt 2510,5 nghìn lượt người, tăng 32,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1595,2 nghìn lượt người, tăng 40,3%; đến vì công việc 502 nghìn lượt người, tăng 44,6%; thăm thân nhân đạt 288,9 nghìn lượt người, tăng 2,9%.

Hầu hết khách từ các nước đến nước ta trong 6 tháng đầu năm đều tăng mạnh, trong đó khách đến từ Trung Quốc tăng 92,5%; Cam-pu-chia tăng 88,9%; Hàn Quốc tăng 28,3%; Thái Lan tăng 28,1%; Ôx-trây-li-a tăng 25,7%; Đài Loan tăng 20,5%; Nhật Bản tăng 18,5%.

II. KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG  TĂNG TRƯỞNG VÀ NGĂN CHẶN LẠM PHÁT CAO TRỞ LẠI

1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 390,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 166,8 nghìn tỷ đồng, tăng 17,8%; khu vực ngoài Nhà nước 120 nghìn tỷ đồng, tăng 9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 103,3 nghìn tỷ đồng, tăng 11,8%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 63 nghìn tỷ đồng, bằng 50,4% kế hoạch năm.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/6/2010 đạt 8,4 tỷ USD, bằng 80,9% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn đăng ký của 438 dự án được cấp phép mới đạt 7,9 tỷ USD; vốn đăng ký bổ sung của 121 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 525 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2009. Trong các lĩnh vực có vốn đầu tư nước ngoài, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 34% tổng vốn đăng ký 6 tháng đầu năm; lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa chiếm 25,5%; kinh doanh bất động sản chiếm 21,2%.

2. Cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2010 ước tính bằng 47,8% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 47,4%; thu từ dầu thô bằng 41,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 53,6%. Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2009 và bằng 52,5% dự toán năm.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2010 ước tính bằng 42,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 45,5%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính bằng 42,8%; chi trả nợ và viện trợ bằng 46,9%. Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và bằng 46,9% dự toán năm. Bội chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước tính bằng 11,2% tổng số chi và bằng 25,6% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội quyết định và được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và ngoài nước theo quy định.

3. Cân đối thương mại

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước tính đạt 32,1 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ xuất khẩu vàng và các sản phẩm vàng thì tăng 22,4%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,9 tỷ USD, tăng 5,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 17,2 tỷ USD, tăng  khá cao ở mức 26,2%. Nếu loại trừ yếu tố giá thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng 5,4%. Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm có sự thay đổi so với cùng kỳ năm trước, tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng tăng từ 29,2% lên 30,2%; tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 37,7% lên 43,3%; tỷ trọng nhóm hàng nông, lâm sản giảm nhẹ.  

Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 6 tháng đầu năm ước tính đạt 6,2 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là ASEAN đạt 5,3 tỷ USD, tăng 21%; EU đạt 4,8 tỷ USD, tăng 5,9%; Nhật Bản đạt 3,5 tỷ USD, tăng 31%; Trung Quốc đạt 2,8 tỷ USD, tăng 44%; Hàn Quốc đạt 1,2 tỷ USD, tăng 35%.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước tính đạt 38,9 tỷ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng 8,7%), bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 22,7 tỷ USD, tăng 18,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16,2 tỷ USD, tăng 48,9%. Trong tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm, nhóm hàng tiêu dùng chiếm 7,2%, giảm so với mức 9,7% của cùng kỳ năm 2009; nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu tăng từ 61% lên 65,2% và chiếm 81,5% mức tăng chung của tổng kim ngạch 6 tháng; nhóm hàng máy móc, thiết bị giảm nhẹ từ 29,4% xuống 27%.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng từ các thị trường chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm 2009, trong đó nhập từ Trung Quốc đạt 9,1 tỷ USD, tăng 34%; từ ASEAN đạt 7,8 tỷ USD, tăng 20,4%; từ Nhật Bản 4 tỷ USD, tăng 31%; từ EU đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,4%; từ Đài Loan 3,2 tỷ USD, tăng 11%.

Nhập siêu hàng hoá 6 tháng đầu năm ước tính đạt 6,7 tỷ USD, bằng 20,9% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu, trong đó chủ yếu nhập siêu từ thị trường Trung Quốc với trên 6 tỷ USD. Nếu không tính xuất khẩu vàng và sản phẩm của vàng thì nhập siêu 6 tháng đầu năm đạt 8,1 tỷ USD, bằng 26,2% kim ngạch xuất khẩu.

4. Kết quả ngăn ngừa lạm phát cao trở lại

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2010 tăng 0,22% so với tháng trước. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,62%; bưu chính viễn thông tăng 0,49%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,37% (lương thực giảm 0,83%; thực phẩm tăng 0,71%); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,33%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm là: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,09%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,01%; giao thông giảm 0,7%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2010 tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,78% so với tháng 12/2009. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm tăng 8,75% so với bình quân 6 tháng đầu năm 2009.

Năm 2009 là năm được đánh giá là thành công của Chính phủ trong chỉ đạo phòng ngừa tái lạm phát cao trở lại khi giữ được mức lạm phát không cao, theo đó chỉ số giá tiêu dùng tăng bình quân mỗi tháng trong quý I và quý II đều ở mức 0,44%. Sang năm 2010, tuy chỉ số giá tiêu dùng quý I có biểu hiện tăng cao trở lại với mức tăng bình quân tháng là 1,35%, nhưng sang quý II mức tăng bình quân tháng đã giảm xuống còn 0,21%, bằng 15,6% mức tăng bình quân tháng trong quý I/2010 và bằng một nửa mức tăng bình quân tháng trong quý II/2009. Điều này cho thấy các chính sách bình ổn giá đã bước đầu phát huy tác dụng. Tuy nhiên, giá trên thị trường thế giới còn có những biến động khó lường, đặc biệt là giá các mặt hàng nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất do kinh tế thế giới trên đà phục hồi, nhiều nền kinh tế lớn đang kỳ vọng đạt mức tăng trưởng cao. Điều này chắc chắn sẽ tác động mạnh đến thị trường giá cả và sản xuất trong nước trong thời gian tới.

III. KẾT QUẢ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HOÁ VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC

1.       Đời sống dân cư

Thiên tai và dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi trong những tháng qua gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư. Tuy nhiên, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đời sống dân cư đã được cải thiện một bước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, trong 6 tháng đầu năm, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 21,9 nghìn tấn lương thực và 9,2 tỷ đồng. Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần, các đối tượng chính sách xã hội được hỗ trợ tiền và hiện vật trị giá khoảng 885 tỷ đồng. Cũng trong 6 tháng đầu năm, theo báo cáo sơ bộ đã có 26,1 nghìn căn nhà được xây mới và bàn giao.

Thu nhập của người làm công ăn lương cũng tiếp tục được cải thiện. Theo Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 25/3/2010 của Chính phủ, từ 01/5/2010 mức lương tối thiểu của người lao động tăng 12,3%, từ 650 nghìn đồng/tháng lên 730 nghìn đồng/tháng. Theo Nghị định số 29/2010/NĐ-CP ngày 25/3/2010 của Chính phủ, cũng từ ngày 01/5/2010, thu nhập của những đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng 12,3%. Tính chung, thu nhập bình quân một tháng của lao động khu vực Nhà nước trong 6 tháng đầu năm đạt 2916,6 nghìn đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2009.

2. Giáo dục, đào tạo

Trong năm học 2009-2010, cả nước có 910,9 nghìn thí sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và 134,2 nghìn thí sinh dự thi tốt nghiệp hệ bổ túc trung học phổ thông. Theo báo cáo sơ bộ, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 92,6%, tỷ lệ tốt nghiệp hệ bổ túc trung học phổ thông đạt 66,4%. Tính đến tháng 6/2010, cả nước có 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 61/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Cũng trong năm học 2009-2010, cả nước có 1796,2 nghìn sinh viên đại học và cao đẳng (đạt 209 sinh viên/vạn dân), tăng 4,5% so với năm học trước; 699,7 nghìn học sinh trung cấp chuyên nghiệp, tăng 11,3%; 65,1 nghìn giáo viên đại học và cao đẳng, tăng 7,4%; 18 nghìn giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, tăng 7,1%.

3. Y tế

Trong 6 tháng đầu năm, cả nước có 17 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 25,8% so với cùng kỳ năm 2009; 2,8 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, tăng 25,2%; gần 16 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 39,3%; 231 trường hợp mắc viêm não vi rút, tăng 116%; 208 trường hợp mắc bệnh thương hàn, giảm 23,2%; 67 vụ ngộ độc thực phẩm làm 2,6 nghìn trường hợp ngộ độc, trong đó 27 người tử vong. Trong tháng đã phát hiện thêm 3,3 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến tháng 6/2010 lên 222,9 nghìn người, trong đó 88,3 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 47,4 nghìn người đã tử vong do AIDS.

4. Hoạt động văn hóa, thể thao

Để chào mừng và hướng tới Đại lễ một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm, nhiều hoạt động văn hóa có ý nghĩa diễn ra sôi nổi tại các địa phương trên cả nước như: Lễ hội hoa Hà Nội; Lễ hội Đống Đa kỷ niệm 221 năm Quang Trung - Nguyễn Huệ giải phóng Thăng Long; Lễ hội xuân Hà Nội 2010; Lễ hội đền Hùng. Bên cạnh đó, nhiều hoạt động khác với quy mô lớn cũng được triển khai như: Thi sáng tác biểu trưng; thi tìm hiểu một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội; vận động sáng tạo văn học nghệ thuật có chủ đề “Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến”; Triển lãm Việt Nam trong Triển lãm quốc tế EXPOR Thượng Hải 2010 với chủ đề “một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội”; Lễ ra mắt Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến - công trình văn hóa phi vật thể trọng điểm kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long-Hà Nội cũng đã tạo dấu ấn tốt đẹp, v.v...

Cùng với việc tổ chức các hoạt động văn hóa mang nhiều ý nghĩa của năm 2010, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn tập trung và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa. Từ đầu năm, thanh tra các địa phương trong cả nước đã tiến hành kiểm tra hành chính hơn 5,3 nghìn cơ sở, qua đó phát hiện và xử lý gần 1,5 nghìn vụ vi phạm, phạt hành chính gần 4,7 tỷ đồng.

Bên cạnh các hoạt động văn hóa sôi nổi được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng, phong trào thể dục thể thao quần chúng cũng được tổ chức thành công và thu hút số lượng lớn người tham gia với nhiều hoạt động như: Ngày hội văn hoá, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc; Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ VI; giải Đẩy gậy trẻ quốc gia, giải Bóng chuyền Nông dân “Bông lúa vàng” lần thứ nhất tại khu vực II và giải Bóng đá trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Trong thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công 10 giải thể thao trong chương trình Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ VI cùng 59 giải thể thao quốc gia và 5 giải thể thao quốc tế. Tại các giải thi đấu thể thao quốc tế, đội tuyển Việt Nam đã giành 188 huy chương, bao gồm 78 huy chương vàng;  60 huy chương bạc và 50 huy chương đồng, trong đó có 4 huy chương vàng cấp thế giới và 2 huy chương vàng cấp châu Á.

5. Tai nạn giao thông

Trong 5 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 5699 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4716 người và làm bị thương 4157 người. So với cùng kỳ năm 2009, số vụ tai nạn giao thông tăng 9,9%, số người chết giảm 2,6%, số người bị thương tăng 25,3%. Bình quân 1 ngày trong 5 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 31 người và làm bị thương 28 người.

6.       Thiệt hại do thiên tai gây ra

Thiên tai xảy ra trong 6 tháng đầu năm tại một số vùng trên cả nước đã làm 33 người chết và mất tích; gần 750 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, hơn 27 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái; gần 1,7 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng. Tổng thiệt hại do thiên tai gây ra trong 6 tháng đầu năm ước tính 172 tỷ đồng. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai trong 6 tháng đầu năm là hơn 7 tỷ đồng.

7. Bảo vệ môi trường

Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đang ở mức báo động. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009, Việt Nam hiện có 173 khu công nghiệp đang hoạt động, thải ra hơn 1 triệu m3 nước thải mỗi ngày, trong đó 70% số nước thải này không được xử lý và xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận. Kết quả điều tra từ các khu công nghiệp thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm cho thấy, ước tính bình quân một ngày có khoảng trên 90 tấn khí thải gây ô nhiễm không khí; lượng chất thải nguy hại chiếm khoảng 20% lượng chất thải rắn. Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan chức năng đã điều tra và phát hiện 3012 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử phạt hành chính trên 17 tỷ đồng và đề nghị khởi tố 72 vụ.

Khái quát lại, sau nửa chặng đường thực hiện các mục tiêu kế hoạch năm 2010, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều chuyển biến tích cực và đạt mức tăng trưởng khá. Các biện pháp bình ổn giá bước đầu phát huy tác dụng nên chỉ số giá tiêu dùng không cao. Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển. An sinh xã hội được quan tâm thường xuyên, đời sống dân cư có nhiều cải thiện. Những kết quả đạt được trên đây thêm một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng có tính quyết định của Đảng, Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, kinh tế nước ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức, đó là: Sản xuất gặp nhiều khó khăn do nguồn điện cung cấp hạn chế. Thiên tai diễn biễn phức tạp. Đầu tư phát triển vẫn theo chiều rộng là chủ yếu, hiệu quả đầu tư chưa cao; sức cạnh tranh của hàng hoá thấp; các cân đối vĩ mô chưa thực sự vững chắc; đời sống dân cư tuy đã được cải thiện nhưng một số vùng, địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Do đó để thực hiện tốt mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010, góp phần hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010, các cấp, các ngành, các địa phương cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ, tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau đây:

Một là, nâng cao hiệu quả, chất lượng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Doanh nghiệp cần phải chủ động và có giải pháp hữu hiệu để đối phó với những thách thức có thể xảy ra. Khẩn trương thực hiện cơ cấu lại doanh nghiệp, tiến tới xây dựng lực lượng doanh nghiệp có sức mạnh về mọi mặt nhằm nâng cao tiềm lực và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế.

Hai là, thực hiện đánh giá lại hiệu quả của các hoạt động đầu tư, đặc biệt đối với đầu tư công để có những điều chỉnh hợp lý. Nâng cao năng lực quản lý đầu tư cũng như hiệu lực công tác giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư nguồn vốn của nhà nước. Cơ cấu lại đầu tư của nhà nước theo hướng tăng thêm đầu tư cho y tế, đào tạo nghề, phát triển hệ thống an sinh xã hội và phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ nông sản. Từng bước dành nguồn lực đầu tư vào các ngành công nghệ cao, các ngành có khả năng dẫn dắt, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng mạnh và bền vững, dựa trên hiệu suất và chất lượng.

Ba là, hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp tổng thể nhằm kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng để ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng bền vững. Xây dựng chính sách tỷ giá bảo đảm vừa khuyến khích xuất khẩu, vừa hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Bốn là, thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 808/CT-TTg ngày 07 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2010. Hiện đại hoá cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, đi đôi với tăng cường công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng cho quản lý thiên tai.

Năm là, rà soát lại quy trình triển khai thực hiện và tiến hành đánh giá tổng thể các chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo đã và đang triển khai thực hiện. Huy động mọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Lồng ghép và huy động tối đa các nguồn vốn, tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân cư, nhất là ở vùng nông thôn. Đẩy mạnh và thực hiện đồng bộ các giải pháp tuyên truyền, vận động và thuyết phục người dân ý thức vươn lên thoát nghèo.

 

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 
CÁC THÔNG CÁO KHÁC
  Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 (27/06/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2014 (02/04/2014)
  Thông cáo báo chí về Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014 (23/12/2013)
  Thông cáo báo chí Thông báo về việc điều chỉnh số liệu Tổng sản phẩm trong nước (23/12/2013)
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013 (23/12/2013)
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (23/12/2013)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921