ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
Thông cáo báo chí 
THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ-XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009 (09:18 01/07/2009)

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Sự suy thoái ngày càng nặng nề của kinh tế thế giới đã thu hẹp thị trường xuất khẩu, thị trường vốn và tác động tiêu cực đến kinh tế-xã hội của nước ta.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội đã đề ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Nghị quyết kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII là: Tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010.

Trên cơ sở số liệu thực hiện 5 tháng và ước tính tháng 6, Tổng cục Thống kê khái quát kết quả phát triển kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2009 trên ba mặt: (1) Ngăn ngừa suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững; (2) Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, phòng ngừa tái lạm phát cao; (3) Bảo đảm an sinh xã hội.

KẾT QUẢ NGĂN NGỪA SUY GIẢM KINH TẾ, DUY TRÌ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HỢP LÝ, BỀN VỮNG

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

Quý I/2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước chỉ đạt 3,1%, bằng 41% tốc độ tăng của quý I/2008 và là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong những năm gần đây; nhưng ước tính quý II/2009 tổng sản phẩm trong nước tăng 4,5%, bằng 79% tốc độ tăng của quý II/2008 và cao hơn tốc độ tăng của quý I/2009 là 1,4 điểm phần trăm. Tính chung 6 tháng đầu năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 3,9% so với 6 tháng đầu năm 2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48%; khu vực dịch vụ tăng 5,5%.

Kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo giá so sánh 1994 trong 6 tháng đầu năm 2009 ước tính tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm nông nghiệp tăng 1,8%; lâm nghiệp tăng 3,1%; thuỷ sản tăng 4,3%.

Nông, lâm nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm 2009 cả nước đạt 3059,7 nghìn ha, tăng 46,6 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2008. Các địa phương phía Bắc đạt 1150,4 nghìn ha, tăng 21 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1909,3 nghìn ha, tăng 25,6 nghìn ha.

Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, năng suất lúa đông xuân năm nay ước tính đạt 60,9 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt 18,6 triệu tấn, tăng 31,2 vạn tấn.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm 01/4/2009, đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2008; đàn gia cầm có 256 triệu con, tăng 11,4%.

Tổng diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 73,3 nghìn ha, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán đạt 107,5 triệu cây, giảm 2,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1674,1 nghìn m3, tăng 7,5%.

Thủy sản

Sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng 6 tháng ước tính đạt 2287,6 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm sản lượng nuôi trồng đạt 1125,5 nghìn tấn, tăng 2,4%; sản lượng khai thác 6 tháng đạt 1162,1 nghìn tấn, tăng 7,7% (khai thác biển đạt 1076,7 nghìn tấn, tăng 8%).

Sản lượng nuôi trồng tăng thấp chủ yếu do các cơ sở nuôi cá tra đang gặp khó khăn trong tiêu thụ và tiếp cận nguồn vốn vay hỗ trợ lãi suất, do đó diện tích thả nuôi cá tra chỉ còn 5,5 nghìn ha, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương có diện tích thả nuôi cá tra giảm nhiều là: An Giang giảm 20%; Đồng Tháp giảm 30%; Cần Thơ giảm 17%.

Kết quả sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 của 6 tháng đầu năm 2009 tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó công nghiệp khai thác tăng 8,6%, chủ yếu nhờ sản lượng dầu thô khai thác tăng mạnh; công nghiệp chế biến tăng 4,4%; công nghiệp điện, ga và nước tăng 8,1%.

Trong 6 tháng đầu năm, một số sản phẩm quan trọng tiếp tục giữ mức tăng cao so với 6 tháng đầu năm 2008 như: Dầu thô khai thác tăng 17,9%; xi măng tăng 24,1%; giầy dép giả da tăng 15,6%; thép tròn tăng 12,6%; nước máy thương phẩm tăng 10,2%; điện sản xuất tăng 7,9%, v.v... Tuy nhiên, nhiều sản phẩm quan trọng khác có mức tăng trưởng thấp hoặc giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: Khí hóa lỏng tăng 4,5%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 3,7%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 3,7%; thủy hải sản chế biến giảm 8,5%; vải dệt từ sợi bông giảm 23,2%; sơn hóa học giảm 5,4%, v.v...

Kết quả hoạt động thương mại

Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ phục vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2009 theo giá thực tế ước tính đạt 547,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2008. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng tăng 8,8%. Trong tổng số, kinh doanh thương nghiệp chiếm 78,4% và tăng 20,7% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng chiếm 11,3% và tăng 17,3%; dịch vụ chiếm 9,3% và tăng 17,6%.

Kết quả hoạt động vận tải

Vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2009 ước tính tăng 7% về khối lượng vận chuyển và tăng 4% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm 2008, trong đó vận tải đường bộ tăng 7,6% và tăng 7,1%; đường sông tăng 2,3% và tăng 1,7%; đường biển tăng 3,2% và tăng 4,9%; đường hàng không tăng 0,3% và giảm 1,9%; đường sắt giảm 2,5% và giảm 10,8%.

Vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2009 ước tính tăng 0,3% về khối lượng vận chuyển và tăng 1,1% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải đường bộ tăng 2,8% và tăng 2,1%; đường sông giảm 2,2% và giảm 6,5%; đường biển giảm 13% và tăng 3,1%; đường sắt giảm 13,6% và giảm 17,8%.

Kết quả hoạt động bưu chính viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển mới 6 tháng ước tính đạt 15,3 triệu thuê bao, tăng 54,3% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm 1,6 triệu thuê bao cố định, tăng 36,1%; 13,7 triệu thuê bao di động, tăng 56,6%. Tính đến cuối tháng 6/2009, số thuê bao điện thoại cả nước ước tính đạt 96,7 triệu thuê bao, bao gồm 15,7 triệu thuê bao cố định, tăng 24,4% và 81 triệu thuê bao di động, tăng 64,6%; số thuê bao internet băng rộng ước tính đạt 2,6 triệu thuê bao, tăng 54,1%. Số người sử dụng internet tính đến cuối tháng 6/2009 ước tính đạt 22,5 triệu người, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 36,7 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước (Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,5%).

Kết quả hoạt động du lịch

Khách quốc tế đến nước ta 6 tháng đầu năm 2009 ước tính giảm 19,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng giảm 22,1%; đến vì công việc giảm 21,9%; thăm thân nhân tăng 1,7%. Lượng khách đến nước ta 6 tháng đầu năm 2009 từ hầu hết các quốc gia đều giảm so với cùng kỳ năm 2008, trong đó khách đến từ Trung Quốc giảm 39%; Hoa Kỳ giảm 4,2%; Hàn Quốc giảm 19,9%; Nhật Bản giảm 9,7%; Đài Loan giảm 17,3%; Ôx-trây-li-a giảm 7,8%.

KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, PHÒNG NGỪA TÁI LẠM PHÁT CAO

Kết quả đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm 2009 theo giá thực tế ước tính đạt 322,6 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước chiếm 43,9% tổng số và tăng 33,4%; vốn khu vực ngoài Nhà nước chiếm 34,1% và tăng 37,4%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 22% và giảm 18,4%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính 50,6 nghìn tỷ đồng, bằng 35,1% so với kế hoạch năm đã điều chỉnh bổ sung gói kích cầu xây dựng.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt thấp, từ đầu năm đến 19/6/2009 đạt 8,9 tỷ USD, giảm 77,4% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký 4,7 tỷ USD của 306 dự án được cấp phép mới (giảm 86,7% về vốn và giảm 65,6% về số dự án); vốn đăng ký bổ sung 4,2 tỷ USD của 68 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 4 tỷ USD, giảm 18,4% so với cùng kỳ năm 2008.

Thu hút vốn ODA tính từ đầu năm đến ngày 16/6/2009 đạt 1783 triệu USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm vốn vay đạt 1700 triệu USD, tăng 22,8%; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 83 triệu USD, giảm 46,3%. Mức giải ngân vốn ODA 6 tháng ước tính đạt 1270 triệu USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2008 và bằng 67% kế hoạch giải ngân của cả năm 2009, bao gồm vốn vay đạt 1163 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại 107 triệu USD.

Thu chi ngân sách

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/6/2009 bằng 43,9% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 45,1% dự toán năm; thu từ dầu thô bằng 36,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 46,6%. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/6/2009 ước tính đạt 40,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 43,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 42,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 45,2%; chi trả nợ và viện trợ đạt 44%.

Kết quả cân đối thương mại

Kim ngạch xuất khẩu quý II/2009 giảm 4,7% so với quý I do không còn tái xuất vàng. Nếu loại trừ vàng tái xuất của quý I thì kim ngạch quý II vẫn tăng 16,1% so với quý I. Tính chung 6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ vàng tái xuất thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đạt 25,1 tỷ USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 6 tháng giảm chủ yếu do giá trên thị trường thế giới giảm sút và đứng ở mức thấp. Chỉ tính 8 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, hạt điều, cao su, chè, hạt tiêu) về giá bình quân 6 tháng đầu năm 2008 thì kim ngạch đã tăng thêm 5 tỷ USD, và như vậy tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm của cả nước tăng 6,3%.

Xét theo nhóm hàng thì trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm sản tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2008; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm 23%; hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp giảm 25%. Theo đó, cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu có sự thay đổi đáng kể: hàng nông, lâm sản chiếm 18,9% tổng số kim ngạch xuất khẩu, tăng so với mức 16,4% của cùng kỳ năm 2008; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 27,7%, giảm so với mức 32%; hàng công nghiệp nhẹ/tiểu thủ công nghiệp chiếm 36,1%, giảm so với mức 45,4%.

Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới nên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2009 sang các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường Nhật Bản giảm mạnh ở mức 40%; EU giảm 16%; Hàn Quốc giảm 11%; Trung Quốc giảm 9%.

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34,1% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó máy móc, thiết bị giảm 22,7%; hàng tiêu dùng tăng 2,6%. Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng giảm do một số mặt hàng nhập khẩu giảm về lượng, nhưng chủ yếu là do giá trên thị trường thế giới giảm (giá xăng dầu giảm 52%; giá phân bón giảm 33%; giá sắt thép giảm 31%; giá chất dẻo giảm 32%; giá sợi dệt giảm 23%).

Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu đã có sự thay đổi: máy móc, thiết bị chiếm 29,4% tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng (cùng kỳ năm 2008 là 25,2%); hàng tiêu dùng chiếm 9,6% (cùng kỳ năm trước là 6,2%). Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 từ khu vực ASEAN ước tính đạt 6 tỷ USD, giảm 34% so với cùng kỳ năm 2008; nhập khẩu từ Trung Quốc ước tính đạt 7 tỷ USD, giảm 27%; Hàn Quốc ước tính đạt 3 tỷ USD, giảm 32%; Nhật Bản ước tính đạt 3 tỷ USD, giảm 37%.

Nhập siêu hàng hoá tháng 6/2009 ước tính 1,2 tỷ USD, thấp hơn mức nhập siêu 1,25 tỷ USD của tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2009 nhập siêu 2,1 tỷ USD, bằng 14,7% cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ vàng tái xuất của quý I thì nhập siêu hàng hoá 6 tháng là 4,6 tỷ USD, trong đó quý I nhập siêu 1 tỷ USD; quý II nhập siêu 3,6 tỷ USD. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức nhập siêu trong 6 tháng ước tính 5 tỷ USD; Mỹ và EU tiếp tục là các thị trường xuất siêu ở mức 3,9 tỷ USD và 2,1 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 2737 triệu USD, giảm 25,7% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng ước tính đạt 3256 triệu USD, giảm 26,2%. Nhập siêu dịch vụ 6 tháng là 519 triệu USD, giảm 29,1% so với 6 tháng đầu năm 2008.

Kết quả phòng ngừa lạm phát cao

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 chỉ tăng 0,32%; tháng 2 tăng 1,17%; tháng 3 giảm 0,17%; tháng 4 tăng 0,35%; tháng 5 tăng 0,44% và tháng 6/2009 tăng 0,55%.

Giá tiêu dùng tháng 6/2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 2,68% do giá của hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng đều tăng, trong đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,5% (lương thực tăng 0,59%; thực phẩm tăng 2,2%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,65%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,65%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,51%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; may mặc, mũ nón và giầy dép tăng trên 3%; các nhóm khác tăng từ 0,4-1,8%; riêng nhóm phương tiện đi lại, bưu điện giảm 0,57% và nhóm đồ dùng, dịch vụ khác tăng 7,6%.

Nếu so với giá bình quân 6 tháng đầu năm 2008 thì chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm nay đã tăng 10,27%, trong đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 14,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 11,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 10,88%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 10,83%; dược phẩm và y tế tăng 8,32%; văn hoá, thể thao và giải trí tăng 8,02%; giáo dục tăng 6,12%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,91%. Riêng nhóm phương tiện đi lại và bưu điện giảm 2,8%.

KẾT QUẢ BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HOÁ VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC

Đời sống dân cư

Việc thực hiện các chương trình, chính sách xóa đói giảm nghèo của Nhà nước đã góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo trong 6 tháng vừa qua. Trong 61 huyện nghèo, mỗi huyện được tạm ứng 25 tỷ đồng đề triển khai các dự án. Đến nay đã có 11 trong số 62 đề án giảm nghèo của các huyện được phê duyệt, đồng thời đã có 37 tập đoàn kinh tế, tổng công ty và doanh nghiệp nhận trợ giúp cho 57 huyện nghèo.

Nhờ những nỗ lực của cả cộng đồng như trên nên ở khu vực nông thôn thiếu đói giáp hạt vẫn diễn ra nhưng diện thiếu đói đã được thu hẹp. Số lượt hộ thiếu đói 6 tháng đầu năm giảm 40% và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 38% so với cùng kỳ năm 2008. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, trong 6 tháng đầu năm 2009, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 14,9 nghìn tấn lương thực và 38,9 tỷ đồng, riêng tháng 6/2009 đã hỗ trợ 1,1 nghìn tấn lương thực và 2,2 tỷ đồng.

Thu nhập của người lao động làm công ăn lương tiếp tục được cải thiện. Thu nhập bình quân một tháng của lao động khu vực Nhà nước trong 6 tháng đầu năm 2009 đạt 2,8 triệu đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2008,  trong đó khu vực trung ương 3,6 triệu đồng, tăng 15,1%; khu vực địa phương 2,3 triệu đồng, tăng 9,3%.

Giáo dục, đào tạo

Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2008-2009 được tổ chức một đợt trên cả nước với 1047,6 nghìn thí sinh dự thi, bao gồm 914,5 nghìn thí sinh hệ trung học phổ thông và 133,1 nghìn thí sinh hệ trung học bổ túc. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2008-2009 là 83,7%; trung học bổ túc là 38,1%.

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2008-2009 cả nước có 1675,7 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng, tăng 4,5% so với năm học trước và 628,8 nghìn học sinh trung cấp chuyên nghiệp, tăng 2,3%. Số sinh viên đại học, cao đẳng bình quân 1vạn dân năm 2009 là 194 người, đạt 97% mục tiêu quốc gia năm 2010.

Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Trong 6 tháng đầu năm 2009 (Tính đến ngày 21/6/2009), cả nước có 22,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 49,8% so với cùng kỳ năm trước; 2,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, giảm 15,4%; 26,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 139 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả, giảm 76,1%; 107 trường hợp viêm não vi rút, giảm 36%; 5 trường hợp tử vong do cúm A(H5N1). Số người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn cả nước là 189,4 nghìn trường hợp, trong đó 74,7 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 42,8 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Đặc biệt, cúm A(H1N1) đã xuất hiện tại nước ta. Theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế), tính đến 17h00 ngày 29/6/2009, cả nước đã có 123 trường hợp dương tính với cúm A(H1N1). Hiện các bệnh nhân đã và đang được cách ly, điều trị tại bệnh viện trong tình trạng sức khỏe ổn định, không có trường hợp nào tử vong.

Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm mặc dù đã được các ngành chức năng tích cực triển khai nhưng tình hình chưa được cải thiện nhiều. Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 39 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 2,5 nghìn trường hợp bị ngộ độc, trong đó 15 người đã tử vong.

Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong 6 tháng đầu năm 2009, nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn và các sự kiện quan trọng của đất nước được tổ chức. Đặc biệt, công tác tuyên truyền phục vụ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 đã được triển khai rộng rãi khắp các địa phương trên cả nước, đạt hiệu quả cao, góp phần vào thành công của cuộc Tổng điều tra.

Công tác xuất bản tiếp tục phát triển. Trong 6 tháng đã xuất bản 230 triệu bản sách, đạt 54% kế hoạch năm 2009, trong đó 155 triệu bản sách giáo khoa phổ thông, đạt 60% kế hoạch; xuất bản báo chí đạt 440 triệu bản, đạt 51,7% kế hoạch năm.

Công tác thanh tra, kiểm tra được duy trì thường xuyên và liên tục. Theo báo cáo sơ bộ, từ đầu năm, thanh tra văn hóa của các Bộ, ngành và các địa phương đã tiến hành kiểm tra hành chính 6,9 nghìn cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa; phát hiện và xử lý 1,4 nghìn vụ vi phạm, thu giữ nhiều tang vật và phạt hành chính 5,1 tỷ đồng.

Phong trào thể dục, thể thao không ngừng phát triển với nhiều giải thể thao quần chúng toàn quốc được tổ chức trong 6 tháng đầu năm 2009 (giải Thể thao Dân tộc; giải Vật dân tộc lần thứ VIII; giải Vô địch Kéo co; giải Thể thao Người khuyết tật, v.v.); trong thể thao thành tích cao đã đạt được 170 huy chương tại các giải thi đấu quốc tế, bao gồm 45 huy chương vàng, 64 huy chương bạc và 61 huy chương đồng.

Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia, trong 5 tháng đầu năm 2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 5183 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4842 người và làm bị thương 3321 người. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ tai nạn giao thông giảm 4,8%, số người chết giảm 2,6%, số người bị thương giảm 5,6%. Bình quân 1 ngày trong 5 tháng đầu năm 2009, trên địa bàn cả nước xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 22 người.

Thiệt hại do thiên tai gây ra

Trong 6 tháng đầu năm 2009, thiên tai xảy ra đã làm 47 người chết và mất tích; hơn 400 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, gần 15 nghìn ngôi nhà bị sạt lở; 5 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng. Ước tính trị giá thiệt hại do thiên tai gây ra trong 6 tháng đầu năm 2009 gần 300 tỷ đồng. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ cho các địa phương, nhằm khắc phục hậu quả sau thiên tai là 16 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2009 tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức nhưng đang phát triển nhanh dần và có dấu hiệu phục hồi. Các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng bước đầu đã phát huy tác dụng, nhiều công trình, dự án quan trọng đang được tập trung đầu tư. Sản xuất công nghiệp đã qua giai đoạn phát triển trì trệ; kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu trong quý II đã tăng hơn quý I; chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức hợp lý; đời sống dân cư tiếp tục được quan tâm cải thiện. Mức tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm nay khẳng định chúng ta đã nhận định đúng tình hình, đề ra các giải pháp, chính sách phù hợp với thực tiễn và đánh dấu sự thành công bước đầu trong chỉ đạo điều hành vĩ mô của Chính phủ, các cấp, các ngành và địa phương; đồng thời thể hiện sự nỗ lực bền bỉ và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, của các doanh nghiệp, tập đoàn, cơ sở sản xuất và của toàn dân.

Tuy nhiên, hiện nay tình hình kinh tế thế giới vẫn đang có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Trong khi đó kinh tế trong nước tăng trưởng vẫn còn ở mức thấp; các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc; giá cả tuy tăng chậm nhưng vẫn đứng ở mức cao và chứa đựng nhiều yếu tố tái lạm phát; đời sống một bộ phận dân cư đang gặp khó khăn, nhất là những người mất việc làm, đồng bào vùng bị thiên tai.

Nếu chúng ta phấn đấu giữ được đà tăng trưởng như hiện nay thì mức tăng trưởng cả năm 2009 có khả năng đạt khoảng 5%, chỉ số giá tiêu dùng so với tháng 12 năm trước tăng dưới 10%. Tuy nhiên, nhiệm vụ còn lại của 6 tháng cuối năm rất nặng nề, muốn đạt mục tiêu Quốc hội đề ra cho cả năm 2009 thì 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 5,9%. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cả năm 2009, các cấp, các ngành và toàn hệ thống chính trị phải tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 09/01/2009 của Chính phủ, đặc biệt cần chú trọng một số vấn đề sau:

Một là, khẩn trương cơ cấu lại nền kinh tế, bao gồm cơ cấu các loại sản phẩm, cơ cấu ngành và cơ cấu vùng nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế cạnh tranh; giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ; khắc phục những hạn chế, yếu kém, góp phần thực hiện mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong ngắn hạn; đồng thời chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển với tốc độ cao và bền vững khi kinh tế nước ta và kinh tế thế giới hồi phục.

Hai là, để chủ động phòng ngừa tái lạm phát cao trong những tháng cuối năm, đi đôi với việc thực hiện các chính sách, biện pháp tài chính, tiền tệ linh hoạt, cần tăng cường công tác quản lý giá, nhất là giá các mặt hàng chiến lược, giá cây, con giống, giá thức ăn gia súc để tạo sự ổn định sản xuất kinh doanh cho các cơ sở sản xuất và các hộ nông dân. Tập trung chỉ đạo quyết liệt để các cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn và các địa phương thực hiện nghiêm các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 đã cam kết.

Ba là, triển khai nhanh, đúng mục đính, đúng đối tượng các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Chính phủ. Tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu, các làng nghề. Đi đôi với các gói kích thích kinh tế này phải đề ra các chính sách, giải pháp đủ mạnh nhằm tăng cường huy động các nguồn vốn khác để phát triển sản xuất kinh doanh, đặc biệt là huy động nguồn vốn dân doanh và vốn nước ngoài đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn.

Bốn là, tập trung nỗ lực khai thác và phát triển thị trường trong nước, đặc biệt là thị trường nông thôn. Tăng cường các biện pháp nhằm tiêu thụ hàng hoá nông sản, thủy hải sản cho nông dân; đồng thời nhanh chóng hình thành hệ thống thương mại cung cấp hàng hoá, dịch vụ thông suốt, kịp thời và ổn định phục vụ sản xuất và tiêu dùng của khu vực nông thôn, nông nghiệp và nông dân.

Năm là, tiếp tục thực hiện chính sách, giải pháp bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Việc trợ cấp cho các hộ nghèo trong dịp Tết Nguyên đán và trong các đợt thiếu đói giáp hạt ở một số địa phương trong 6 tháng vừa qua rất thiết thực nhưng chỉ mới là giải pháp tình thế. Do vậy cần phải tăng cường thực hiện xã hội hoá trong việc triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo lâu dài cho các vùng khó khăn và các hộ dễ bị tổn thương; đặc biệt là triển khai quyết liệt Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo tinh thần Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ.

Sáu là, có biện pháp kiên quyết, đủ mạnh và hiệu quả trong việc khắc phục và phòng chống ô nhiễm môi trường; phòng chống dịch bệnh cho người, cây trồng và vật nuôi. Nâng cao tính chủ động, tính cộng đồng và tính hiệu quả trong quá trình triển khai công tác này.

Bảy là, tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, tập trung tháo gỡ vướng mắc để đưa các chương trình, chính sách và giải pháp đã đề ra nhanh chóng đi vào cuộc sống và có hiệu quả cao. Mặt khác phải thường xuyên giám sát việc triển khai các nguồn vốn nói chung và các gói kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng nói riêng nhằm đưa các nguồn vốn đến đúng đối tượng, đúng mục đích, phát huy được hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn lực lao động, tài nguyên, khoáng sản, đất đai và các nguồn lực khác của từng ngành, vùng miền và địa phương cũng như trên phạm vi cả nước.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 
CÁC THÔNG CÁO KHÁC
  Thông cáo báo chí Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: Thông báo một số kết quả chủ yếu (17/12/2014)
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014 (30/09/2014)
  Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 (27/06/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2014 (02/04/2014)
  Thông cáo báo chí về Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014 (23/12/2013)
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (23/12/2013)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921