ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
Thông cáo báo chí 
THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ-XÃ HỘI NĂM 2010 (17:13 29/12/2010)

Kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước, thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư. Năm 2010 là năm có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng, đây là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm 2010 là cơ sở và đặt nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011, năm đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020.

Chính trong bối cảnh như vậy nên từ đầu năm, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách cùng các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể, trong đó trọng tâm và trực tiếp là Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010. Đồng thời Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp, các địa phương thực hiện nghiêm và đồng bộ các giải pháp, nỗ lực vượt qua khó khăn, huy động hiệu quả các nguồn lực, tận dụng kịp thời và tối đa cơ hội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 là: “Nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006-2010”.

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Với quyết tâm cao của cả nước, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm 2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34%. Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5%. Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 232,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% so với năm 2009, bao gồm nông nghiệp đạt 168,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%; lâm nghiệp đạt 7,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6%; thuỷ sản đạt 56,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1%.

2.1. Nông nghiệp

Sản lượng lúa cả năm 2010 ước tính đạt gần 40 triệu tấn, tăng 1,04 triệu tấn so với năm 2009, chủ yếu do diện tích gieo trồng ước tính đạt 7513,7 nghìn ha, tăng 76,5 nghìn ha so với năm trước và năng suất đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha.

Sản lượng lúa đông xuân năm nay ước tính đạt 19,2 triệu tấn, tăng 522,3 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước (Diện tích tăng 25,2 nghìn ha, năng suất tăng 1,2 tạ/ha). Lúa hè thu đạt 11,6 triệu tấn, tăng 383,5 nghìn tấn (Diện tích tăng 77,6 nghìn ha, năng suất tăng nhẹ 0,1 tạ/ha). Lúa mùa đạt 9,2 triệu tấn, tăng 132,9 nghìn tấn. Nếu tính cả sản lượng ngô là 4,6 triệu tấn thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 ước tính đạt 44,6 triệu tấn, tăng 1,27 triệu tấn so với năm 2009. Sản lượng một số cây trồng hàng năm khác tăng khá do cả diện tích và năng suất đều tăng: Khoai lang tăng 105,9 nghìn tấn so với năm 2009; đỗ tương tăng 81,7 nghìn tấn; mía tăng 338,5 nghìn tấn.

Cây công nghiệp lâu năm có xu hướng tăng mạnh do nhiều diện tích đang trong thời kỳ thu hoạch sản phẩm và đạt năng suất cao. Diện tích chè cả năm ước tính tăng 2,3 nghìn ha so với năm trước; cà phê tăng 9,7 nghìn ha; cao su tăng 22,3 nghìn ha; hồ tiêu tăng 0,7 nghìn ha. Sản lượng chè búp cả năm 2010 ước tính tăng 6,8% so với năm 2009; cà phê tăng 4,6%; cao su tăng 6,1%; hồ tiêu tăng 3%; dừa tăng 3,1%.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2010 đàn lợn cả nước có 27,37 triệu con, giảm 0,9% so với cùng thời điểm năm 2009; đàn gia cầm có 300,5 triệu con, tăng 7,3%; đàn trâu có 2913,4 nghìn con, tăng 0,9%; đàn bò có 5916,3 nghìn con, giảm 3,1%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng năm 2010 ước tính tăng 6,5% so với năm 2009; thịt bò tăng 5,9%; thịt lợn tăng 0,2%; thịt gia cầm tăng 17,5%; trứng gia cầm tăng 16,5%.

2.2. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung năm 2010 ước tính đạt 252,5 nghìn ha, tăng 3,9% so với năm 2009. Sản lượng gỗ khai thác ước tính đạt 4042,6 nghìn m3, tăng 7,3% so với năm trước. Tổng diện tích rừng bị cháy và bị chặt phá năm 2010 là 7781 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy 6723 ha; diện tích rừng bị chặt phá 1058 ha.

 2.3. Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản năm 2010 ước tính đạt 5127,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2009, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 2706,8 nghìn tấn, tăng 4,5% (Sản lượng cá nuôi tăng 4,9%); sản lượng khai thác đạt 2420,8 nghìn tấn, tăng 6,2% (Khai thác biển đạt 2226,6 nghìn tấn, tăng 6,4%).

3. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14% so với năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 14,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,2% (dầu mỏ và khí đốt giảm 0,7%, các ngành khác tăng 19,5%). Trong ba ngành công nghiệp cấp I, giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng 14,9% so với năm 2009; ngành công nghiệp điện, ga, nước tăng 14,8%; ngành công nghiệp khai thác giảm 0,5% do sản lượng khai thác than và dầu thô giảm.

Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung là: Khí hóa lỏng tăng 62,4%; sơn hóa học tăng 34,7%; sữa bột tăng 22%; giày thể thao tăng 20,7%; bia tăng 19,8%; kính thủy tinh tăng 17,1%; tủ lạnh, tủ đá tăng 15,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 15,4%; điện sản xuất tăng 14,9%. Một số sản phẩm có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Nước máy thương phẩm tăng 12,6%; thủy hải sản chế biến tăng 11,5%; giấy, bìa tăng 9,7%; xà phòng tăng 8,2%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 8%; phân hóa học tăng 7,7%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là: Thép tròn tăng 4,7%; máy giặt tăng 4,4%; điều hòa nhiệt độ tăng 3,9%; xe chở khách tăng 2,4%; thuốc lá điếu tăng 2,3%; giầy, dép, ủng bằng da giả tăng 1,6%; xe tải tăng 1,3%; than sạch giảm 0,2%; tivi lắp ráp giảm 7,8%; dầu thô khai thác giảm 8,8%.

Theo kết quả điều tra lao động của 4215 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, số lao động tháng 12/2010 của các doanh nghiệp trên tăng 0,6% so với tháng trước, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 0,1%, khu vực ngoài nhà nước tăng 0,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,1%. Trong ba ngành công nghiệp cấp I, lao động ngành công nghiệp chế biến tăng 0,7%; ngành công nghiệp khai thác tăng 0,3%; ngành công nghiệp điện, ga, nước tăng 0,2%.

4. Xây dựng, đầu tư phát triển

Giá trị sản xuất xây dựng năm 2010 theo giá thực tế ước tính tăng 23,1% so với năm trước, trong đó khu vực nhà nước tăng 23,4%; khu vực ngoài nhà nước và loại hình khác tăng 23%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,7%.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010 theo giá thực tế ước tính đạt 830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2009 và bằng 41,9% GDP, trong đó có 1980 tỷ đồng từ nguồn ngân sách trung ương và 4487,5 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ được Thủ tướng cho phép ứng trước để bổ sung và đẩy nhanh tiến độ thực hiện một số dự án quan trọng hoàn thành trong năm 2010. Trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm nay, vốn khu vực Nhà nước là 316,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10%; khu vực ngoài Nhà nước 299,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 214,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,4%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 141,6 nghìn tỷ đồng, bằng 110,4% kế hoạch năm. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do Trung ương quản lý đạt 42,7 nghìn tỷ đồng, bằng 104,7% kế hoạch. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 98,9 nghìn tỷ đồng, bằng 113% kế hoạch năm.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 21/12/2010 đạt 18,6 tỷ USD, bằng 82,2% cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Vốn đăng ký của 969 dự án được cấp phép mới đạt 17,2 tỷ USD; vốn đăng ký bổ sung của 269 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 1,4 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2010 ước tính đạt 11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009, trong đó giá trị giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài đạt 8 tỷ USD.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2010 ước tính bằng 109,3% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 107%; thu từ dầu thô bằng 99,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 123,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 103,1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 100,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 101%; thuế thu nhập cá nhân bằng 121,2%; thu phí xăng dầu bằng 101%; thu phí, lệ phí bằng 100,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2010 ước tính bằng 98,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 98,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 97,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 99,6%; chi trả nợ và viện trợ bằng 114,1%.

6. Thương mại, giá cả, dịch vụ

61. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2010 ước tính tăng 24,5% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 14%. Trong tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay, kinh doanh thương nghiệp tăng 25% so với năm 2009; khách sạn, nhà hàng tăng 21,8%; dịch vụ tăng 23,8%; du lịch tăng 28,5%.

6.2. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 32,8 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 38,8 tỷ USD, tăng 27,8%. Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,9 tỷ USD, tăng 40,1% so với năm 2009.

Nhìn chung xuất khẩu hàng hóa năm nay có nhiều thuận lợi do đơn giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao, trong đó giá sắn và sản phẩm sắn tăng 90,7%; cao su tăng 81%; hạt tiêu tăng 39,7%; hạt điều tăng 22,4%; than đá tăng 52,9%; dầu thô tăng 33,7%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 64,5 tỷ USD, tăng 13,4% so với năm 2009.

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với năm trước, trong đó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4%.

Về thị trường xuất khẩu, tính đến hết tháng 11/2010, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 12,8 tỷ USD, chiếm 17,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường này là: Hàng dệt may đạt 5,5 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 1,3 tỷ USD; giày dép 1,3 tỷ USD; thủy sản 864 triệu USD. Tiếp đến là EU đạt 10 tỷ USD, chiếm 13,9% và tăng 15,9% với kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt 2 tỷ USD; hàng dệt may 1,64 tỷ USD; thủy sản 1 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 594 triệu USD. Xuất khẩu sang ASEAN đạt 9,3 tỷ USD, chiếm 13% và tăng 19,6%, trong đó xuất khẩu gạo đạt 1,5 tỷ USD; dầu thô 1,4 tỷ USD; xăng dầu  653 triệu USD. Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt 6,9 tỷ USD, chiếm 9,6% và tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước; sang Trung Quốc đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 8,8% và tăng 48,6%.

6.3. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2010 ước tính đạt 84 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 47,5 tỷ USD, tăng 8,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 36,5 tỷ USD, tăng 39,9%. Tương tự xuất khẩu, đơn giá một số mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay, trong đó giá cao su tổng hợp tăng 64,2%; bông tăng 45,2%; kim loại thường tăng 32,2%; sắt thép tăng 27,6%; khí đốt hoá lỏng tăng 32,3%.

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay không có sự thay đổi lớn so với năm trước, trong đó nhóm tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 90,2%; nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng giảm từ 9,3% xuống 8,6%; nhóm vàng và các sản phẩm vàng tăng từ 0,5% lên 1,2%.

Trong mười một tháng năm nay, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của nước ta với tổng kim ngạch đạt 17,9 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2009; ASEAN đạt 14,5 tỷ USD, tăng 18%; Hàn Quốc đạt 8,7 tỷ USD, tăng 42,4%; Nhật Bản đạt 8,1 tỷ USD, tăng 21,7%; EU đạt 5,5 tỷ USD, tăng 9%.

Tốc độ tăng cao của kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu năm nay có phần đóng góp khá lớn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn so với mặt hàng xuất khẩu nói chung như: Hàng dệt may chiếm 60,8%; giầy dép 72,7%; điện tử, máy tính 98,2%; máy móc, thiết bị phụ tùng 87,7% và một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn so với mặt hàng nhập khẩu nói chung là: Điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 73,1%; vải 61,6%; sắt thép 40,2%.

Nhập siêu hàng hóa năm 2010 ước tính 12,4 tỷ USD, giảm 5,2% so với năm 2009 và bằng 17,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Nếu loại trừ vàng, kim loại quý và sản phẩm thì nhập siêu hàng hóa năm nay ước tính 14,2 tỷ USD, tương đương 20,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.

6.4. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 7460 triệu USD, tăng 29,4% so với năm 2009, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4450 triệu USD, tăng 45,9%; dịch vụ vận tải 2306 triệu USD, tăng 11,8%. Kim ngạch dịch vụ nhập khẩu năm 2010 ước tính đạt 8320 triệu USD, tăng 20,6% so với năm 2009, trong đó dịch vụ vận tải đạt 5009 triệu USD, tăng 17,2%; dịch vụ du lịch 1470 triệu USD, tăng 33,6%. Nhập siêu dịch vụ cả năm là 860 triệu USD, giảm 24,2% so với năm 2009 và bằng 11,5% kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2010.

6.5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 tăng 1,98% so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá tiếp tục tăng và tăng cao nhất với mức 3,31% (Lương thực tăng 4,67%; thực phẩm tăng 3,28%); tiếp đến là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,53%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,3%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn, ở mức dưới 1% gồm: Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,86%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,51%; giao thông tăng 0,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,41%; giáo dục tăng 0,07%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,02%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 so với tháng 12/2009 tăng 11,75%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2010 tăng 9,19% so với bình quân năm 2009.

6.6. Vận tải hành khách và hàng hoá

Vận tải hành khách năm 2010 ước tính tăng 13,5% về vận chuyển và tăng 15,6% về luân chuyển so với năm 2009, trong đó vận tải đường bộ tăng 14,2% về vận chuyển và tăng 12,5% về luân chuyển; đường sông tăng 4,1% và tăng 4%; đường sắt tăng 4,4% và tăng 8,1%; đường không tăng 31,5% và tăng 30,8%.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển năm 2010 ước tính tăng 12,4% về vận chuyển và tăng 10,5% về luân chuyển so với năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước tăng 12,5% về vận chuyển và tăng 10,7% về luân chyển; vận tải ra ngoài nước tăng 11,1% và tăng 8,5%. Vận tải hàng hoá đường bộ ước tính tăng 13,9% về vận chuyển và tăng 14,9% về luân chuyển so với năm 2009; đường sông tăng 4,8% và tăng 0,9%; đường biển tăng 16% và tăng 11%; đường sắt giảm 3,2% và tăng 2,3%.

6.7. Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển mới năm 2010 ước tính đạt 44,5 triệu thuê bao, tăng 0,6% so với năm 2009, bao gồm 793 nghìn thuê bao cố định, giảm 49,1% và 43,7 triệu thuê bao di động, tăng 2,4%. Số thuê bao điện thoại của cả nước tính đến cuối tháng 12/2010 là 170,1 triệu thuê bao, tăng 35,4% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 16,4 triệu thuê bao cố định, tăng 5,1% và 153,7 triệu thuê bao di động, tăng 39,8%. Số thuê bao Internet cả nước có đến cuối tháng 12/2010 đạt 3,77 triệu thuê bao, tăng 27,4% so với cùng thời điểm năm trước. Số người sử dụng Internet tính đến cuối năm 2010 ước tính 27,4 triệu lượt người, tăng 20,2% so với cùng thời điểm năm 2009.

Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông năm 2010 ước tính đạt 138,8 nghìn tỷ đồng, tăng 26,5% so với năm 2009, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông đạt 90 nghìn tỷ đồng, tăng 26%.

6.8. Khách quốc tế đến Việt Nam

Số khách quốc tế đến Việt Nam năm 2010 đạt 5 triệu lượt người, tăng 34,8% so với năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng tăng 38,8%; đến vì công việc tăng 37,9%; thăm thân nhân tăng 10,9%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta tăng cao so với năm trước là: Khách đến từ Trung Quốc tăng 74,5%; Hàn Quốc tăng 37,7%; Nhật Bản tăng 24%; Hoa Kỳ tăng 6,9%; Đài Loan tăng 23,7%; Ôx-trây-li-a tăng 28,1%; Cam-pu-chia tăng 87,4%.

7. Một số vấn đề xã hội và môi trường

7.1. Dân số, lao động, việc làm

Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính 86,93 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2009, bao gồm dân số nam 42,97 triệu người, chiếm 49,4% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%; dân số nữ 43,96 triệu người, chiếm 50,6%, tăng 1%. Trong tổng dân số cả nước năm 2010, dân số khu vực thành thị là 26,01 triệu người, chiếm 29,9% tổng dân số, tăng 2,04% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,92 triệu người, chiếm 70,1%, tăng 0,63%. Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2010 ở mức 97,7 nam trên 100 nữ (Năm 2009 tỷ lệ này là 97,6/100).

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2010 là 50,51 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,21 triệu người, tăng 2,12%. Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010. Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.

Tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó khu vực thành thị là 4,43%, khu vực nông thôn là 2,27% (Năm 2009 các tỷ lệ tương ứng là: 2,9%; 4,6%; 2,25%). Tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,50%, trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47% (Năm 2009 các tỷ lệ tương ứng là: 5,61%; 3,33%; 6,51%).

7.2.. Mức sống dân cư

Trong năm 2010, trên địa bàn cả nước có 796,2 nghìn lượt hộ thiếu đói với 3067,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. Để giúp đỡ người dân khắc phục khó khăn do thiếu đói, các cấp, các ngành và tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 42 nghìn tấn lương thực và gần 64 tỷ đồng.

Chương trình 135 giai đoạn 2006–2010 (Giai đoạn II) được thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh với 369 huyện, 1958 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và 3274 thôn bản đặc biệt của 1291 xã khu vực II với số vốn ngân sách trung ương cấp 14 nghìn tỷ đồng. Đến nay Chương trình cơ bản kết thúc, theo báo cáo sơ bộ, tổng vốn giải ngân của Chương trình 135 giai đoạn II đạt 97,1% tổng vốn đầu tư.

Cũng trong năm 2010, đã có 43,6 nghìn ngôi nhà được xây mới và sửa chữa dành cho các đối tượng và gia đình chính sách; 1,9 triệu lượt học sinh, sinh viên của hơn 1,7 triệu lượt hộ gia đình được vay vốn hỗ trợ học tập. Chính sách tín dụng ưu đãi cho sinh viên tăng từ 800 nghìn đồng/sinh viên/tháng lên 860 nghìn đồng/sinh viên/tháng; mức lương tối thiểu tăng từ 650 nghìn đồng/tháng lên 730 nghìn đồng/tháng đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 ước tính 10,6%, giảm so với mức 12,3% năm 2009.

7.3. Giáo dục, đào tạo

Theo báo cáo từ các địa phương, tại thời điểm đầu năm học 2010-2011, số trẻ em học mẫu giáo tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm học trước; số học sinh tiểu học tăng 1,8%; số học sinh trung học cơ sở tăng 1,3% và số học sinh trung học phổ thông tăng 1%. Chương trình phổ cập giáo dục tiếp tục được triển khai mạnh tại các địa phương. Đến nay cả nước đã có 52/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Năm học 2009- 2010, cả nước có 149 trường đại học, tăng 3 trường so với năm học trước; 227 trường cao đẳng, tăng 4 trường; 282 trường trung cấp chuyên nghiệp, bao gồm 207 trường công lập và 75 trường dân lập. Cũng trong năm học 2009- 2010, tổng số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 12% so với năm học trước; tổng số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 9,4%. Số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng năm 2010 tăng 15% so với năm trước, số học sinh tốt nghiệp hệ trung cấp chuyên nghiệp tăng 5%.

Năm 2010, cả nước có 118 trường cao đẳng nghề; 280 trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề và 1000 cơ sở khác có dạy nghề. Số học sinh tuyển mới cao đẳng và trung cấp nghề năm 2010 của cả nước tăng 17% so với năm trước; số lượt học sinh tuyển mới sơ cấp nghề và học nghề thường xuyên tăng 3,9%.

7.4. Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư

Trong năm 2010, cả nước có 119,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (89 trường hợp tử vong); gần 45 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét (13 trường hợp tử vong); 7,9 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 907 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (24 trường hợp tử vong); 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn; 314 trường hợp mắc tả; 7 trường hợp mắc cúm A (H5N1); 54 trường hợp mắc liên cầu lợn (5 trường hợp tử vong); 132 vụ ngộ độc thực phẩm với 4,7 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 41 người tử vong.

Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương vẫn gia tăng. Tính từ ca đầu tiên cho đến ngày 16/12/2010, trên địa bàn cả nước đã có 231,2 nghìn trường hợp nhiễm HIV được phát hiện, trong đó 91,9 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 48,9 nghìn người đã tử vong do AIDS.

7.5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong năm 2010, các cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra 12,7 nghìn cơ sở kinh doanh hoạt động văn hóa, dịch vụ, qua đó phát hiện và xử lý 2,7 nghìn cơ sở vi phạm; cảnh cáo và đình chỉ hoạt động hơn 200 cơ sở, thu giữ và tiêu hủy hàng nghìn sản phẩm văn hóa có nội dung không phù hợp. Tổng số tiền xử phạt hành chính đối với các cơ sở vi phạm là 8,2 tỷ đồng.

Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VI được tổ chức cuối tháng 12 có sự tham dự của 66 đoàn cùng 8687 vận động viên, trong đó 4990 vận động viên nam và 3697 vận động viên nữ tranh tài ở 12 môn và phân môn. Đặc biệt ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công 16 giải thể thao quần chúng cấp quốc gia; 3 giải thể thao quốc tế lớn tại Việt Nam. Đoàn thể thao Việt Nam cũng đã tham dự 10 giải thi đấu quốc tế cấp thế giới, châu lục và Đông Nam Á, đặc biệt tham dự Đại hội Thể thao người khuyết tật Châu Á tại Quảng Châu, Trung Quốc.

Trong thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công 174 giải thể thao cấp quốc gia; 39 giải thi đấu quốc tế và 21 môn thể thao tại Việt Nam. Tại Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD) lần thứ 16 tổ chức ở Trung Quốc, đoàn Việt Nam xếp thứ 13 toàn đoàn trong tổng số 45 đoàn tham gia với 33 huy chương các loại. Tại Đại hội Thể thao Olympic trẻ tổ chức ở  Singapore, đoàn Việt Nam xếp thứ 42/181 quốc gia, vùng lãnh thổ tham dự. Tính đến cuối năm 2010, thể thao Việt Nam đã có 16 vận động viên đạt đẳng cấp kiện tướng quốc tế; 1237 vận động viên đạt đẳng cấp kiện tướng quốc gia; 179 vận động viên đạt dự bị kiện tướng; 1872 vận động viên đạt cấp I quốc gia; lập 1 kỷ Châu Á và phá 22 kỷ lục quốc gia.

7.6. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo sơ bộ, trong mười một tháng năm 2010, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 12,6 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 10,4 nghìn người và làm bị thương 9,2 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 13,4%, số người chết tăng 0,13%, số người bị thương tăng 31,8%. Bình quân một ngày trong mười một tháng năm 2010, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 31 người và làm bị thương 28 người.

7.7. Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo của các địa phương, thiên tai xảy ra trong năm 2010 đã làm 355 người chết và mất tích; gần 600 người bị thương; hơn 2,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 579 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái, ngập nước; 30 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng; trên 100 km đê, kè và gần 1,9 nghìn km đường giao thông cơ giới bị vỡ, sạt lở và cuốn trôi; hơn 11 nghìn cột điện bị gãy, đổ. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2010 ước tính 11,7 nghìn tỷ đồng, trong đó ba tỉnh bị thiệt hại nặng là: Hà Tĩnh có 34 người chết và mất tích, tổng giá trị thiệt hại lớn nhất với 5,3 nghìn tỷ đồng; Nghệ An có 41 người chết và mất tích, thiệt hại hơn 2 nghìn tỷ đồng; Quảng Bình có 75 người chết và mất tích, thiệt hại gần 2 nghìn tỷ đồng;

7.8. Bảo vệ môi trường

Theo báo cáo điều tra doanh nghiệp hàng năm, chi cho công tác bảo vệ môi trường bình quân/doanh nghiệp năm 2007 khoảng 564 triệu đồng; năm 2008 là 822 triệu đồng. Trong tổng số 8322 doanh nghiệp năm 2008 có báo cáo về phát thải các loại chất thải ra môi trường, có 3,8% doanh nghiệp không áp dụng bất kỳ biện pháp xử lý môi trường nào. Cũng theo kết quả điều tra, phát sinh chất thải lỏng từ các doanh nghiệp năm 2008 là 412 triệu m3, trong đó các doanh nghiệp xử lý được 82,4% lượng chất thải; chất thải rắn phát sinh là 303 triệu tấn, trong đó xử lý được 75%.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta năm 2010 diễn ra trong bối cảnh không ít khó khăn, thách thức nhưng với đà phục hồi nhanh sau khủng hoảng đã vươn lên và đạt được mức tăng trưởng khá với 6,78%, cao hơn nhiều mức tăng 5,32% của năm 2009 và vượt kế hoạch đề ra ở mức 6,5%. Sản xuất, kinh doanh của các ngành, lĩnh vực đều tăng khá. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ ổn định. Xuất khẩu hàng hoá đạt kim ngạch cao, từ đó hạn chế được tỷ lệ nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán. Hoạt động du lịch phát triển mạnh với số khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao. Đầu tư được tăng cường kiểm tra, giám sát. Những kết quả đạt được trên đây khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đúng đắn, kịp thời của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; đồng thời thể hiện sự cố gắng, quyết tâm cao của các ngành, các cấp, các địa phương và của toàn dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, sản xuất kinh doanh trong nước cũng gặp một số khó khăn do thị trường tài chính, tiền tệ có những biểu hiện phức tạp, lạm phát có xu hướng tăng cao trong những tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 so với cùng kỳ năm 2009 đã tăng 11,75%, cao hơn mục tiêu được Quốc Hội điều chỉnh là dưới 8%. Vì vậy, để tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo động lực cho năm 2011, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề trọng tâm sau đây:  

Một là, thực hiện nghiêm Công điện số 2358/CĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá, dịch vụ, bình ổn giá thị trường trong dịp Tết Nguyên đán Tân Mão. Theo đó cần chủ động xây dựng và triển khai chương trình dự trữ hàng phục vụ Tết Nguyên đán, phát triển mạnh các điểm bán hàng bình ổn, đặc biệt là các mặt hàng trong nhóm bình ổn giá theo quy định. Bám sát diễn biến thị trường giá cả, đặc biệt là giá những mặt hàng trọng yếu phục vụ Tết Nguyên đán sắp tới để chủ động quản lý, kiểm tra và điều tiết hàng hoá trên thị trường;

Hai là, tiếp tục xử lý tốt những bất ổn trong việc huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng; sử dụng và điều hành linh hoạt tỷ giá cũng như các công cụ tài chính gồm: Công cụ thuế, phí, lệ phí và các biện pháp thích hợp theo hướng đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu nhằm ổn định tài chính, tiền tệ; đồng thời để bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu, hạn chế nhập siêu;

Ba là, đẩy mạnh và tổ chức tốt hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”. Chăm lo thường xuyên và chu đáo các đối tượng, gia đình chính sách, gia đình có công với nước, đồng bào những vùng bị ảnh hưởng lũ lụt, nhất là đồng bào dân tộc vùng miền núi, vùng sâu và những hộ gia đình nghèo. Bảo đảm mọi người dân trên cả nước đón Tết vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm và an toàn.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 
CÁC THÔNG CÁO KHÁC
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014 (30/09/2014)
  Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 (27/06/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2014 (02/04/2014)
  Thông cáo báo chí về Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014 (23/12/2013)
  Thông cáo báo chí Thông báo về việc điều chỉnh số liệu Tổng sản phẩm trong nước (23/12/2013)
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (23/12/2013)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921