ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
Hệ thống Phổ biến số liệu chung 
Khu vực sản xuất: Tài khoản Quốc gia

VIỆT NAM

Các hoạt động của Chính phủ Trung ương

 

 

0. Những yêu cầu tiên quyết của chất lượng

 

01. Môi trường pháp lý

0.1.1. Trách nhiệm thu thập, xử lý, và phổ biến số liệu thống kê

 

 

Bộ Tài Chính

- Luật Ngân sách nhà nước do Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài chính. Các nhiệm vụ và quyền hạn này bao gồm (1) thực hiện chức năng quản lý thống nhất ngân sách nhà nước; (2) hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước; và (3) lập dự toán ngân sách trung ương, tổng hợp và lập dự toán ngân sách nhà nước để báo cáo trình Chính phủ xem xét và trình Quốc hội quyết định.

- Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân.

- Quyết định số 2331/QĐ-BTC ngày 04/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê tài chính.

 

 

 

0.1.2. Chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các cơ quan sản xuất số liệu

 

 

Bộ Tài Chính

- Việc chia sẻ thông tin và quy chế phối hợp chung giữa TCTK với các Bộ, ngành đã được chính thức hóa bằng QĐ số 43/2010/QĐ-TTg về ban hành hệ thống chỉ tiêu quốc gia và QĐ số 111/2008/QĐ-TTg về việc ban hành Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành.

- Bên cạnh đó, quy chế chia sẻ thông tin và quy chế phối hợp về thống kê và công khai tài chính còn được thực hiện theo Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về công khai tài chính, các cấp ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm phải tổng hợp số liệu công khai về dự toán và quyết toán ngân sách của cấp dưới, cùng với cấp mình để gửi cơ quan tài chính cấp trên, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, công bố công khai; và Quyết định số 2331/QĐ-BTC ngày 04/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê tài chính, trong đó có quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Tài chính trong việc cung cấp thông tin, báo cáo thống kê.

 

 

 

0.1.3. Vấn đề bảo mật thông tin của đối tượng cung cấp tin

 

 

 

Bộ Tài Chính

- Luật Thống kê (Điều 27) quy định thông tin của đối tượng cung cấp tin được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích thống kê. Các nội dung về bảo mật thông tin thống kê cũng được ghi trên các phiếu điều tra thống kê.

- Nghị định số 14/2005/NĐ-CP ngày 04/02/2005 của Chính phủ cũng đã quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi tiết lộ thông tin thống kê gắn với tên, địa chỉ cụ thể của từng tổ chức, cá nhân khi chưa được sự đồng ý của tổ chức, cá nhân đó (Điều 19).

- Riêng đối với ngành Tài chính, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 124/2009/QĐ-TTg ngày 19/10/2009 công bố danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật và Tối mật của ngành Tài chính. Đồng thời, Bộ Công an cũng ban hành Thông tư số 67/2009/TT-CA ngày 30/11/2009 quy định danh mục bí mật nhà nước độ Mật của ngành Tài chính. Theo đó, tại Quyết định số 2331/QĐ-BTC của Bộ Tài chính cũng quy định: Các cá nhân được phân quyền khai thác thông tin báo cáo có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo mật trong quản lý mật khẩu truy nhập cũng như thông tin, dữ liệu được phép khai thác.

 

 

 

0.1.4. Đảm bảo việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê

 

 

Bộ Tài Chính

Luật Thống kê (Điều 6, Điều 16, Điều 19) đã qui định trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện chế độ báo cáo và điều tra thống kê và các biện pháp khuyến khích người cung cấp thông tin.

Nghị định số 14/2005/NĐ-CP cũng đã quy định xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm vấn đề này (Điều 8)

 

 

 0.2 Các nguồn lực

0.2.1. Cán bộ, trang thiết bị, máy tính và tài chính

 

 

 

Hiện nay, trực thuộc Văn phòng Bộ Tài chính có khoảng 20 người trực tiếp tham gia biên soạn số liệu thống kê tài chính (không kể số lượng cán bộ làm công tác thống kê tại các đơn vị trực thuộc như Uỷ ban chứng khoán, Tổng Cục thuế, Kho bạc nhà nước) gồm: 20 người thuộc các đơn vị Vụ Ngân sách nhà nước, Cục Quản lý nợ và Tài chính đổi ngoại, Cục Tin học và thống kê tài chính (TKTC). Đội ngũ cán bộ biên soạn số liệu Thống kê tài chính có trình độ đại học trở lên và cơ bản đã được đào tạo nghiệp vụ về TKTC.

Máy tính phục vụ công tác biên soạn số liệu đảm bảo 01 máy tính/công chức làm nhiệm vụ biên soạn SNA. Hệ thống mạng internet và mạng LAN của Bộ Tài chính đã phục vụ tốt cho việc trao đổi, tiếp nhận dữ liệu trong nội bộ từng cơ quan và giữa Bộ Tài chính với các cơ quan Bộ, ngành khác thuộc Chính phủ. Biên soạn số liệu TKTC chủ yếu thực hiện bằng bảng tính EXCEL, chưa có phần mềm chuyên dụng cho việc biên soạn và phân tích số liệu thống kê tài chính. Trang thiết bị, cơ sở vật chất như phòng làm việc, hệ thống ánh sáng, điện thoại và các thiết bị khác được trang bị tương đối đầy đủ, ngày càng tốt hơn.

Ngân sách thường xuyên cho việc biên soạn số liệu TKTC (lương, phụ cấp, như điện, nước, văn phòng phẩm…) theo chế độ do Ngân sách Nhà nước cấp.

 

1.Tính thống nhất

 

1.1. Tính chuyên môn

1.1.1 Nguyên tắc khách quan và không thiên vị

Luật Thống kê quy định: “Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê” (khoản 2, Điều 4); cấm ”Ép buộc người khác khai man thông tin, báo cáo, công bố thông tin thống kê sai sự thật” (khoản 2, Điều 6); "người làm công tác thống kê độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê" (khoản 3, Điều 33); Đảm bảo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước và của ngành Tài chính.

 

 

 

 

 

 

1.1.2 Lựa chọn các nguồn số liệu, phương pháp luận và hình thức phổ biến thông tin

 

 

Nguồn số liệu để biên soạn các chỉ tiêu thống kê tài chính đã được qui định rõ trong: Luật Thống kê (Điều 12); Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống chỉ tiêu quốc gia; QĐ số 111/2008/QĐ-TTg ngày 15/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với bộ, ngành; Quyết định số 2331/QĐ-BTC ngày 04/10/2011 của Bộ Tài chính về hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê đã đưa ra một số khái niệm, phương pháp tính đối với các chỉ tiêu thống kê tài chính.

Việc phổ biến thông tin thống kê cũng được qui định rõ trong Luật Thống kê: "Thông tin thống kê do người có thẩm quyền qui định tại Điều 25 của luật này công bố là thông tin thống kê có giá trị pháp lý”, và các quy chế công khai tài chính hiện hành.

 

 

 

1.1.3 Đưa ý kiến khi số liệu thống kê bị hiểu sai và sử dụng sai

- Việc phổ biến thông tin, khái niệm, định nghĩa, nội dung, phương pháp tính, nguồn số liệu của một số chỉ tiêu thống kê trong hệ thống TKTC được quy định trong Quyết định số 2331/QĐ-BTC ngày 04/10/2011. 

 

 

 

 

1.2 Tính minh bạch

 

1.2.1. Công bố các điều khoản và điều kiện để thực hiện thu thập, xử lý và phổ biến số liệu thống kê

 

 

Các văn bản liên quan đến thống kê tài chính có thể tải được từ Website của Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn. Ngoài các văn bản quy định về các điều khoản và điều kiện thực hiện thu thập, xử lý và phổ biến số liệu thống kê đã được Chính phủ, Tổng cục Thống kê quy định, Bộ Tài chính còn đăng tải trên Website của ngành Tài chính các văn bản quy định về chế độ công khai tài chính đối với các cấp ngân sách, các đơn vị sử dụng ngân sách, các tổ chức và cá nhân được ngân sách nhà nước hỗ trợ,… như:

- Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân.

- Thông tư số 03/2005/TT-BTC ban hành ngày 06 tháng 01 năm 2005 hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính.

- Thông tư số 10/2005/TT-BTC ban hành ngày 2 tháng 2 năm 2005 hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với việc phân bổ, quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước.

- Thông tư số 19/2005/TT-BTC ban hành ngày 11 tháng 3 năm 2005 hướng dẫn việc công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân.

- Thông tư số 21/2005/TT-BTC ban hành ngày 22 tháng 3 năm 2005 hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ.

- Thông tư số 29/2005/TT-BTC ban hành ngày 14 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính của doanh nghiệp nhà nước.

- Thông tư số 54/2006/TT-BTC ngày 19/6/2006 hướng dẫn thực hiện quy chế công khai hỗ trợ trực tiếp của ngân sách nhà nước đối với cá nhân, dân cư.

- Thông tư số 89/2010/TT-BTC ngày 16/6/2010 hướng dẫn chế độ báo cáo công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

- Thông tư số 53/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn biểu mẫu báo cáo và công khai thông tin về nợ công.

 

 

 

1.2.2 Quyền tiếp cận số liệu thống kê trước khi công bố của nội bộ các cơ quan chính phủ

 

 

Đối với cơ quan Bộ Tài chính, việc khai thác thông tin trước khi công bố công khai được phân quyền khai thác cho các Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các Vụ, Cục, các Tổng cục Thuộc Bộ Tài chính.

Đối với các cơ quan thuộc Chính phủ, số liệu về ngân sách nhà nước sau khi Bộ Tài chính trình Chính phủ được chia sẻ cho một số cơ quan Chính phủ được phục vụ cho việc quản lý điều hành kinh tế vĩ mô chung.

Các cơ quan của Văn phòng Chính phủ và các Uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội sẽ được tiếp cận thông tin trước khi được công bố.

 

 

 

1.2.3 Các sản phẩm  thống kê thuộc thẩm quyền

 

 

- Chế độ thông tin báo cáo khi xây dựng sẽ được lấy ý kiến của các cơ quan chức năng của  Chính phủ, các địa phương trước khi được ban hành chính thức

- Chế độ thông tin, báo cáo được xây dựng và sử dụng thống nhất trong hệ thống tài chính phục vụ  báo cáo Chính phủ và các cơ quan có liên quan

- Báo cáo đánh giá hoạt động ngân sách nhà nước được báo cáo hàng tháng cho Thủ tướng Chính phủ, và một số các cơ quan Chính phủ

 

 

 

1.2.4. Thông báo trước về những thay đổi lớn trong phương pháp luận, nguồn số liệu và các kỹ thuật thống kê

 

 

Các chú thích vắn tắt các thay đổi lớn về phương pháp luận được thông báo trực tiếp cho những người sử dụng thường xuyên số liệu. Có thông báo trước được thực hiện về các thay đổi lớn trong phương pháp luận (thông qua việc ban hành quy chế công khai sửa đổi).

 

 

 1.3 Các tiêu chuẩn đạo đức

1.3.1 Những chỉ dẫn về hành vi của cán bộ

 

 

Phẩm chất, đạo đức người làm công tác thống kê được quy định tại Điều 33 Luật Thống kê: “người làm công tác thống kê phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, khách quan, có ý thức chấp hành pháp luật”.

 

2. Phương pháp luận

 

2.1 Các định nghĩa và khái niệm (Bắt buộc)

2.1.1 Cấu trúc chung về khái niệm và định nghĩa tuân theo các chuẩn mực, hướng dẫn và cách thực hành tốt đã được quốc tế công nhận.

 

 

Số liệu về các hoạt động ngân sách của Chính phủ Việt Nam (ngân sách nhà nước) do Vụ Ngân sách nhà nước- Bộ Tài chính biên soạn. Số liệu này không bao gồm các hoạt động của các quỹ ngoài ngân sách, cũng như không bao gồm các hoạt động bán ngân sách được thực hiện thông qua các DNNN (Nhà nước không tài trợ cho các DNNN)

Các bảng quản lý ngân sách: Một bộ các bảng số liệu sơ bộ về việc thực hiện ngân sách nhà nước hàng tháng, hàng quý và hàng năm do Vụ Ngân sách nhà nước biên soạn dựa trên các báo cáo từ Kho bạc Nhà nước; Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thuế; Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại.

Khuôn khổ để quản lý ngân sách và thâm hụt ngân sách được tính là các khoản thu (thu thuế, phí, các khoản viện trợ, hoàn trả cho vay của Chính phủ) trừ đi các khoản chi (chi tiêu và các khoản thanh toán lãi và gốc). Bù đắp bội chi ngân sách là các khoản vay trong nước và vay ưu đãi của nước ngoài cho ĐTPT, không vay thương mại cho bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.

Các bảng này cũng do Vụ Ngân sách nhà nước biên soạn hàng năm cùng mẫu trên cơ sở các số liệu cuối cùng của các cơ quan và các tỉnh thực hiện chi tiêu. Các bảng chi được chi tiết hơn được biên soạn với các số liệu cuối cùng cho ngân sách Chính phủ (ngân sách nhà nước) về tổng thể cũng như tách biệt ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (bao gồm ngân sách tỉnh, huyện, xã).

Bộ Tài chính trình Chính phủ các số liệu về ước thực hiện thu chi ngân sách nhà nước hàng tháng.

Các bảng cung cấp cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ: Các bảng số liệu sơ bộ hàng quý, hàng năm do Vụ Ngân sách nhà nước biên soạn. Các bảng số liệu hàng năm này  sử dụng các số liệu báo cáo quyết toán ngân sách của các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương.

 Khuôn khổ bộ các bảng số liệu này phù hợp hơn với các chuẩn mực quốc tế về thống kê tài chính Chính phủ cho phân tích kinh tế vĩ mô. Vì vậy, các điều chỉnh chủ chốt được phân tổ lại từ khoản chi thường xuyên và chi xây dựng cơ bản; các khoản trả gốc trong nước và nước ngoài được phân tổ dưới dòng.

Các bảng đưa ra thêm 2 dòng cho các khoản thu và khoản chi cho 2 hoạt động không nằm trong ngân sách nhà nước: (1) các khoản giải ngân nước ngoài cho các hoạt động cho vay lại (được quản lý thông qua quỹ tích luỹ trả nợ) và (2) các khoản thu được quản lý và hạch toán qua ngân sách.

Số liệu được trình bày theo khung sau đây:

I. Tổng thu nhập và viện trợ

Thuế

Thuế và phi thuế

Thu vốn

Viện trợ

II. Cho vay lại (các đơn vị giải ngân tài trợ nước ngoài để cho vay chính phủ)

III. Các khoản thu nhập do các cơ quan giữ lại

IV. Tổng chi

Chi thường xuyên

Chi đầu tư xây dựng

V. Cho vay lại (cùng khối lượng với các đợt  giải ngân tài trợ nước ngoài để cho vay chính phủ)

VI. Các khoản chi trong năm các khoản thu do các cơ quan giữ lại (cùng khối lượng với các khoản thu do cơ quan giữ lại)

VI. Thâm hụt (I – IV)

VII. Nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách (VIII+ IX )

VIII. Tài trợ trong nước

Tín phiếu, trái phiếu kho bạc

Phát hành

Thanh toán lãi

Các loại khác trong nước (trái phiếu)

IX. Tài trợ  nước ngoài

Đi vay

Trả nợ gốc

Các bảng này (sơ bộ hàng quý và hàng năm và cuối cùng hàng năm) được công bố cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ.

 

 

2.2. Phạm vi

 

2.2.1 Phạm vi

 

 

 

 

 

2.2.1.1 Phạm vi của số liệu

 

 

 

Phạm vi giao dịch: Các khoản thu của các cấp chính quyền từ phí được giữ lại để bù đắp các chi phí và không được đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, nằm dưới dòng ngân sách, được trình Quốc hội và được công bố ra công chúng sau khi được Quốc hội phê duyệt và thông qua. Được đưa công khai lên trang web site của Bộ Tài chính (www.mof.gov.vn)

Các khoản viện trợ không hoàn lại nước ngoài bằng hiện vật được đưa vào các bảng ngân sách nhà nước đã lập, mặc dù Chính phủ không được bán để lấy tiền mặt. Tuy nhiên, các viện trợ không hoàn lại nước ngoài theo hình thức thanh toán trực tiếp tại nước ngoài bởi các nhà tài trợ để thuê tư vấn không được đưa vào bất kỳ bảng ngân sách nhà nước nào.

Một số khoản chi từ dự toán ngân sách năm nay giao cho các đơn vị, dự án, công trình chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hết, được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển nguồn sang năm sau chi tiếp  và quyết toán vào năm sau.

Phạm vi địa lý: Bao gồm toàn quốc.

Phạm vi đơn vị: Số liệu ngân sách nhà nước liên quan đến 04 cấp ngân sách: trung ương, tỉnh, huyện và cấp xã. Luật Ngân sách năm 2002 đã quy định về việc bố trí ngân sách giữa chính quyền trung ương và các cấp chính quyền địa phương (63 tỉnh, thành phố, gần 700 huyện, quận và trên 11.000 xã, phường, thị trấn thuộc quận, huyện) phản ánh một hệ thống phân phối dịch vụ được phân quyền trong một hệ thống chính quyền thống nhất, theo đó thẩm quyền quốc gia được uỷ quyền cho các cấp chính quyền thấp hơn. Các khoản thu được phân chia giữa các cấp ngân sách, trong đó khoảng 40% tổng chi NSNN được thực hiện ở các cấp chính quyền địa phương.

Số liệu ngân sách Chính phủ tổng thể không bao gồm các hoạt động của các quỹ ngoài ngân sách của Trung ương hoặc địa phương. Tại cấp chính quyền trung ương có các quỹ: Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ hỗ trợ Cơ cấu lại các DNNN (bao gồm chi phí cho công nhân dư thừa do việc cải cách DNNN, để xử lý nợ DNNN và để hỗ trợ đầu tư của DNNN), Quỹ tích luỹ trả nợ (trả nợ nước ngoài). Tất cả các quỹ này đều tự cân đối, có các nguồn thu cụ thể và theo Luật thì không được phép để thâm hụt.

Bộ Tài chính định kỳ lập báo cáo tổng hợp về các hoạt động của các quỹ ngoài ngân sách.

 

 

 

 

2.2.1.2 Những trường hợp ngoại lệ

 

 

 

 

 

 

2.2.1.3 Những hoạt động không được ghi chép

 

 

Các hoạt động trái với với quy định của Luật pháp Việt Nam.

 

 

2.3. Phân loại/phân ngành

2.3. 1 Phân loại/phân ngành

 

 

Các bảng quản lý ngân sách: Phân tổ được trình bày trong các bảng số liệu sơ bộ hàng tháng, hàng quý và hàng năm này cơ bản theo format Cẩm nang Thống kê Tài chính Chính phủ (GFSM1986) tuy vẫn chưa thực sự phân loại chi tiết giống với GFSM1986. Các khoản thu bao gồm khoản thu thuế, phí, viện trợ Chính phủ; Các khoản chi bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ gốc và lãi vốn vay trong và ngoài nước; Tài trợ chỉ bao gồm các khoản giải ngân vay trong nước và nước ngoài.

Các khoản thu được phân tổ vào mục thu thuế và phí (được phân nhỏ thành các khoản thuế chủ chốt), thu quyền sử dụng đất, bán nhà và các khoản viện trợ không hoàn lại.

Các khoản chi được phân tổ theo Luật Ngân sách.

Vì vậy, việc phân tổ tổng chi tiêu đưa ra: (1) Tổng đầu tư và chi phát triển (được cụ thể vào chi vốn và vào các dự án chủ chốt riêng biệt hoặc các chương trình được tài trợ từ các nguồn trong nước; (2) các khoản trả nợ (được cụ thể vào các khoản trả nợ trong nước và nước ngoài), gồm có trả nợ gốc và trả lãi và viện trợ không hoàn lại cho các nước khác; (3) chi thường xuyên (được chi tiết theo chức năng và chi theo lĩnh vực; (4) chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính (sẽ sử dụng khi có nhu cầu đột xuất).

Nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách: Được phân tổ thành tài trợ trong nước và nước ngoài theo tiêu chí cư trú, nhưng chỉ bao gồm phát hành tín phiếu và trái phiếu Chính phủ và các khoản giải ngân từ đi vay nước ngoài. Các bảng có cùng mẫu với bảng được mô tả được biên soạn có sử dụng số liệu cuối cùng.

Các bảng số liệu công khai dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm theo qui định tại Quyết định số 192/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tưởng Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính bao gồm các biểu sau:

-   Phụ lục số 01/CKTC-NSNN: Cân đối dự toán ngân sách nhà nước

-   Phụ lục số 02/CKTC-NSNN: Cân đối nguồn thu, chi dự toán NSTW và NSĐP

-   Phụ lục số 03/CKTC-NSNN: Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước

-   Phụ lục số 04/CKTC-NSNN: Dự toán chi ngân sách nhà nước, chi NSTW, chi NSĐP theo cơ cấu chi

-   Phụ lục số 05/CKTC-NSNN: Dự toán các khoản thu, chi quản lý qua NSNN

-   Phụ lục số 06/CKTC-NSNN: Dự toán chi ngân sách trung ương theo lĩnh vực

-   Phụ lục số 07/CKTC-NSNN: Dự toán chi ngân sách trung ương của từng Bộ, cơ quan trung ương

-   Phụ lục số 08/CKTC-NSNN: Dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

-   Phụ lục số 09/CKTC-NSNN: Dự toán thu, chi ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Các bảng đã cung cấp cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ: Việc phân tổ đã sử dụng trong các bảng này phần lớn dựa vào cách phân tổ đã được sử dụng trong các bảng quản lý ngân sách. Cách phân tổ nhìn chung phù hợp với Cẩm nang Thống kê Tài chính chính phủ (bản năm 1986).

Các khoản thu được trình bày bằng nguồn thu nhập chính và được nhóm vào mục thuế và phi thuế và các khoản thu vốn. Tuy nhiên, việc phân tổ vào khoản thu thuế và phi thuế không phù hợp hoàn toàn với Cẩm nang Thống kê tài chính chính phủ. Các khoản viện trợ không hoàn lại không phân biệt giữa tiền mặt với hiện vật. Khoản chi không được trình bày một cách cụ thể được phân tổ theo loại hình kinh tế và theo chức năng. Thay vào đó chỉ có khoản chi thường xuyên được chi tiết bằng các chức năng chính và khoản chi về đầu tư và phát triển được tách thành chi vốn và chi khác. Việc phân tổ theo chức năng không phù hợp hoàn toàn với phân tổ COFOG được Quốc tế thừa nhận. Phân tổ kinh tế khác với phân tổ đã sử dụng cho các bảng quản lý ngân sách trong việc phân tổ lại các điều chỉnh chính như là các khoản chi vốn và phân tổ lại các khoản trả nợ cho vay dưới dòng, trong phần tài trợ.

Hai khoản mục không nằm trong các bảng quản lý ngân sách được trình bày cụ thể theo cả các khoản thu và các khoản chi trên vạch; các khoản thu về phí và lệ phí của các cơ quan được phép để lại chi theo chế độ và các khoản giải ngân từ nước ngoài về cho vay lại. Tài trợ được phân tổ theo tài trợ trong nước và nước ngoài. Tài trợ trong nước được xác định theo trái phiếu Chính phủ được phát hành và đã hoàn trả (chi tiết theo thời hạn) và tài trợ trong nước khác. Tài trợ nước ngoài xác định tổng vốn vay và tổng trả nợ gốc, được phân  tổ theo chủ nợ, nhóm chủ nợ.

Công bố số liệu ra công chúng:  Phân tổ ngân sách nhà nước được sử dụng để phản ánh chi thường xuyên theo các chức năng chủ chốt phù hợp với số liệu các bộ, cơ quan Trung ương. Số liệu thu, chi ngân sách của các tỉnh và thành phố trong cả nước.

          Việc phân tổ Ngân sách nhà nước được ban hành kèm theo Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính.

 

 

2.4. Cơ sở để ghi chép

2.4.1 Giá trị

 

 

 

Trong tất cả 3 bộ số liệu, các giao dịch bằng ngoại tệ được quy đổi theo tỷ giá kế toán của Bộ Tài chính cho ngân sách nhà nước trong tháng hoặc quý đó. Bộ Tài chính ấn định tỷ giá hàng tháng dựa trên tỷ giá  hối đoái liên ngân hàng

           Các đợt phát hành trái phiếu Chính phủ được hạch toán theo khối lượng mệnh giá. Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng hiện vật do cơ quan thụ hưởng viện trợ  trực tiếp  sử dụng được Bộ Tài chính định giá dựa trên giá trị thị trường. Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng hiện vật được bán đấu giá theo đề xuất của nhà tài trợ.

 

 

 

2.4.2 Cơ sở ghi chép

 

 

 

Các bảng quản lý ngân sách: Đối với số liệu sơ bộ (hàng tháng, hàng quý, hàng năm), các khoản thu nhập và các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền mặt (gồm cả viện trợ không hoàn lại bằng hiện vật được bán để lấy tiền mặt) được hạch toán khi nhận được tiền mặt. Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng hiện vật do cơ quan thụ hưởng trực tiếp sử dụng được hạch toán khi khách hàng nhận được khoản viện trợ, là thời gian hiện vật đưa vào trong nước. Chi phí thường xuyên được trả thông qua chuyển giao (khi chi phí đã được cam kết và tất cả những chứng từ hỗ trợ đã được nộp) và các khoản tạm ứng (khi chưa có các chứng từ hỗ trợ) của Kho bạc Nhà nước cho các cơ quan thực hiện chi tiêu được hạch toán khi tiền được rút từ tài khoản Kho bạc để thanh toán cho người cung cấp hàng hoá và dịch vụ hoặc chi qua đơn vị sử dụng ngân sách (đối với trường hợp Kho bạc Nhà nước chưa thanh toán trực tiếp được với người cung cấp hàng hoá và dịch vụ). Thời điểm này không nhất thiết phải trùng hợp tương xứng với thanh toán tiền mặt của các cơ quan thực hiện chi tiêu.

Chi phí thường xuyên được quản lý thông qua các lệnh thanh toán (giống như các lệnh của các chương trình đặc biệt) được hạch toán khi những lệnh này được thực hiện. Chi lãi và thanh toán lại các khoản nợ gốc được hạch toán trên cơ sở tiền mặt. Đối với cho vay tài trợ trực tiếp mua hàng hoá và dịch vụ thì chi và giải ngân được hạch toán khi Cục QLN&TCĐN của Bộ Tài chính được chủ nợ giải ngân thông báo (không phải ngày giải ngân). Thời điểm này thường trễ 1 tháng đối với ngày giải ngân thực tế.

Số liệu hạch toán được thực hiện trên cơ sở tiền mặt.

Không thực hiện các điều chỉnh đối với cả số liệu sơ bộ và số liệu hạch toán cho thời kỳ bổ sung trong thời gian thanh toán cho các khoản chi đã được chuẩn bị có thể được thực hiện.

Các bảng cung cấp cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ:  thời gian hạch toán như các báo cáo quản lý ngân sách. Các giao dịch cho vay lại được hạch toán vào thời gian giải ngân tài trợ nước ngoài. Các khoản thu nhập do các đơn vị giữ lại được hạch toán khi nhận được tiền mặt.

Số liệu công bố ra công chúng:  Khoản thu được hạch toán trên cơ sở tiền mặt, khi các khoản thu được thực hiện. Khoản chi được hạch toán khi khoản thanh toán được thực hiện. Khoản chi được tài trợ bằng các đợt giải ngân trực tiếp từ ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức) được  Cục QLN&TCĐN lập lệnh GTGC trực tiếp gửi KBNN. KBNN chịu trách nhiệm cung cấp cho vụ NSNN số liệu hạch toán vốn vay và viện trợ. Viện trợ không hoàn lại bằng hiện vật cho cơ quan thụ hưởng sử dụng trực tiếp được hạch toán khi hiện vật đưa vào trong nước, viện trợ không hoàn lại bằng hàng hoá sẽ được bán để lấy tiền mặt được hạch toán khi thu được tiền mặt.

Các khoản được kiểm toán: Trong tất cả 3 bộ số liệu, các số liệu hạch toán hàng năm phù hợp với các tài khoản được kiểm toán. Các tài khoản của ngân sách nhà nước được kiểm toán một cách có lựa chọn bởi Kiểm toán Nhà nước.

 

 

 

2.4.3 Tính gộp hoặc tính thuần

 

 

 

 

 

 

3. Tính chính xác và độ tin cậy của số liệu

 

3.1 Số liệu nguồn

3.1.1 Chương trình thu thập số liệu nguồn

 

 

 

Các bảng quản lý ngân sách:  Nguồn cơ bản cho phần lớn số liệu được lấy từ Kho bạc Nhà nước. Đối với số liệu cho vay nước ngoài và khoản chi vốn do nước ngoài tài trợ, các khoản viện trợ không hoàn lại do Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại của Bộ Tài chính là nguồn cơ bản.

Các bảng cung cấp cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ:  Các bảng số liệu hàng quý và hàng năm được lập từ các nguồn giống nhau như số liệu quản lý ngân sách.

Công bố số liệu ra công chúng: Các nguồn số liệu cuối cùng này là các báo cáo của các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương.

Đóng tài khoản:  Đến cuối năm (ngày 31 tháng 12), các cơ quan chi tiêu khoá sổ kế toán cuối năm tất cả các khoản chi được phép thanh toán trong năm ngân sách. Có một thời gian chỉnh lý quyết toán là thời gian để điều chỉnh sổ sách, không chi phát sinh mới.Thời gian chỉnh lý quyết toán cuả cấp xã,  cấp quận huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương (trong tháng 1) được quy định tại điểm 4, mục VI, Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước hàng năm .

Số liệu trong 3 bộ bảng không được thực hiện một điều chỉnh cho bất kỳ bổ sung khi tiếp tục thực hiện các khoản thanh toán.

 

 

 

3.1.2 Các định nghĩa, phạm vi, phân loại, định giá và thời gian thu thập số liệu nguồn

 

 

 

Số liệu thống kê tài chính (TKTC) đã được định nghĩa, có phạm vi, phân loại, định giá và thời gian thu thập số liệu về cơ bản tuân thủ theo tiêu chuẩn thống kê tài chính và SNA. Tuy nhiên, vẫn còn một số khái niệm, định nghĩa, phân loại còn chưa trùng khớp với thông lệ quốc tế.

 

 

 

3.13 Tính kịp thời  của số liệu nguồn

Tính kịp thời của số liệu nguồn đã được qui định cụ thể theo quy chế về thông tin và thống kê tài chính và quy định của ngành thống kê.

 

 

 

 

 

3.2. Đánh giá nguồn số liệu

3.2.1. Đánh giá nguồn số liệu

 

 

 

+ Số liệu sơ bộ hàng tháng, quý, năm được lấy từ Kho bạc nhà nước, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan. Đối với số liệu về vay, trả nợ và viện trợ của nước ngoài do Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại của Bộ Tài chính cung cấp.

+ Số liệu quyết toán năm được tổng hợp từ báo cáo quyết toán của các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương, báo cáo của Kho bạc nhà nước.

 

 

3.3. Kỹ thuật thống kê

 

3.3.1. Các kỹ thuật thống kê số liệu nguồn

 

 

 

Thủ tục lập số liệu sơ bộ: Các bảng số liệu sơ bộ (hàng tháng, hàng quý, hàng năm) được lập trước khi kết thúc kỳ tham chiếu. Số liệu hàng tháng được lập vào ngày 25 của tháng cho số liệu sơ bộ vào 25 ngày đầu tháng và ước tính cho 05 ngày còn lại của tháng. Số liệu hàng quý được lập vào ngày 25 của tháng cuối của quý với số liệu ước tính cho 5 ngày cuối cùng của quý. Số liệu hàng năm được lập trước cuối năm (khoảng tháng 9) với số liệu ước tính cho 3 tháng cuối năm. Phạm vi hoạt động của ngân sách được hoàn tất khi các tài khoản hạch toán được lập.

Tổng hợp: Cả số liệu sơ bộ và số liệu hạch toán được tổng hợp đã loại trừ thu chi chuyển giao giữa các cấp ngân sách.

Các sửa đổi tổng và tính ròng của các giao dịch: Khoản thu do các cơ quan thu và giữ lại theo qui định của chế độ, được quản lý qua KBNN  trên cơ sở các bút toán của Kho bạc, các khoản này được báo cáo trong các bảng công khai trong nước, cũng như trong các bảng đã cung cấp cho các nhà tài trợ và các Tổ chức Quốc tế.

Kiểm tra chéo và cân đối số liệu: Vì việc lập các bảng số liệu ngân sách nhà nước được tập trung vào thời điểm sau khi thực hiện ngân sách, không có nỗ lực nào để điều chỉnh số liệu ngân sách nhằm biên soạn số liệu Thống kê tài chính chính phủ tổng thể với quy mô, thời gian hạch toán, đánh giá phân tổ cần thiết cho chính sách tài chính, để cân đối với thống kê kinh tế vĩ mô khác và với các tiêu chuẩn quốc tế.

Sửa đổi chính sách:  Số liệu sơ bộ hàng tháng không được điều chỉnh. Số liệu hàng quý đã được công bố trong nước, số liệu các tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ chỉ được sửa lại khi biên soạn số liệu quý tương ứng cho năm tiếp theo. Vì thế số liệu của quý đầu tiên của năm n-1 được chỉnh sửa khi số liệu của quý đầu tiên của năm n đã được lập. Số liệu sơ bộ hàng năm được lập trước cuối năm được chỉnh sửa trong tháng 12, và lập số liệu quyết toán khi các tài khoản quyết  toán được đưa ra (18 tháng sau khi kết thúc năm).

 

 

 

3.3.2. Các quy trình thống kê khác

 

 

 

 

 

3.4. Tính hợp lệ của số liệu

3.4.1. Tính hợp lệ của các số liệu trung gian

 

 

 

Dữ liệu thống kê tài chính đều được tổng hợp từ các nguồn chính thống (báo cáo của các đơn vị) nên đảm bảo tính hợp chuẩn của dữ liệu cuối cùng.

 

 

 

3.4.2. Đánh giá số liệu trung gian

 

 

Có tiến hành đối chiếu giữa nguồn số liệu để tính các chỉ tiêu thống kê tài chính với các nguồn số liệu độc lập khác, việc đối chiếu được thực hiện định kỳ.

 

 

 

3.4.3. Đánh giá những chênh lệch trong số liệu và những vấn đề khác trong các đầu ra thống kê

 

 

Hiện tại thống kê tài chính của Việt Nam tuy phù hợp để đánh giá tình hình kinh tế-tài chính chung của đất nước, cách phân loại, phạm vi và chế độ báo cáo vẫn còn chưa nhất quán với thông lệ quốc tế về thống kê tài chính chính phủ GFSs.

 

 

3.5. Nghiên cứu sửa đổi

3.5.1. Nghiên cứu và phân tích những sửa đổi

 

 

 

 

 

4. Khả năng bảo trì

 

4.1.Tính định kỳ và kịp thời

4.1.1. Tính định kỳ

 

 

 

- Bảng quản lý ngân sách (lưu hành nội bộ): hàng tháng, quý và năm.

- Các bảng cung cấp cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ: hàng quý và năm.

- Công bố số liệu ra công chúng: hàng năm

 

 

 

4.1.2. Tính kịp thời

 

 

- Các bảng quản lý ngân sách: Các bảng số liệu sơ bộ hàng tháng và hàng quý được báo cáo trước khi kết thúc kỳ tham chiếu 5 ngày. Các bảng số liệu ước thực hiện năm được báo cáo 2 lần: lần thứ nhất vào khoảng tháng 11 của năm đánh giá, lần thứ hai vào khoảng tháng 4-5 của năm sau. Các bảng số liệu số liệu quyết toán năm được báo cáo trễ 18 tháng.

- Các bảng cung cấp cho các tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ: Các bảng số liệu sơ bộ hàng quý được cung cấp trong vòng 4 tuần sau khi kết thúc quý. Các bảng số liệu ước thực hiện năm được cung cấp 2 lần: lần thứ nhất vào khoảng tháng 12 của năm đánh giá, lần thứ hai vào khoảng tháng 5-6 của năm sau. Các bảng số liệu số liệu quyết toán năm được cung cấp trong vòng 30 ngày sau khi Quốc hội phê chuẩn báo cáo quyết toán.

- Công bố số liệu ra công chúng: số liệu dự toán và quyết toán NSNN hàng năm được công bố ra công chúng trong vòng 30 ngày kể từ ngày Quốc hội quyết định dự toán NSNN và phê chuẩn quyết toán NSNN.

 

 

4.2. Tính thống nhất

 

4.2.1. Tính thống nhất trong từng lĩnh vực

 

 

Số liệu TKTC được phân loại thống nhất theo nội dung kinh tế (thu thuế, phí và lệ phí, viện trợ), chi ngân sách theo ngành lĩnh vực (chức năng của chính phủ) theo phân ngành của SNA (giáo dục, y tế…), chi theo nội dung kinh tế (thường xuyên, đầu tư), chi trả nợ và viện trợ, chi theo đơn vị hành chính (bộ, các cơ quan trung ương). 

 

 

 

4.2.2. Tính thống nhất tạm thời

 

 

Thống kê theo giá trị hiện hành, và các số liệu báo cáo định kỳ (Quý, Năm) được đánh giá theo thời kỳ phù hợp, số liệu báo cáo năm có đánh giá lại và số liệu báo cáo quyêt toán là số liệu cuối cùng.

Không có các điều chỉnh số liệu theo mùa vụ.

 

 

 

4.2.3. Tính thống nhất liên ngành và liên thông lĩnh vực

 

 

Số liệu TKTC đảm bảo phù hợp với các chuẩn mực nhất định của SNA.

 

4.3 Thực hiện sửa đổi

4.3.1. Kế hoạch sửa đổi

 

 

Hệ thống thống kê tài chính được đánh giá và sửa đổi đáp ứng theo sự thay đổi của hệ thống và theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế

 

 

4.3.2 Số liệu sơ bộ và/hoặc số liệu sửa đổi phải được xác định rõ ràng

 

 

 

Các bảng được công bố chỉ rõ các số liệu là dự toán, ước thực hiện (quý, năm) hay số liệu quyết toán.

 

 

 

4.3.3. Phổ biến những nghiên cứu và phân tích về sửa đổi     

 

 

Các sửa đổi và nghiên cứu về TKTC hiện hành đều có thể được cập nhật và được truy cập từ các trang web của các đơn vị, như thống kê tài chính chính phủ thì có thể tìm trên trang www.mof.gov.vn.

 

5. Khả năng tiếp cận số liệu

 

 5.1 Tiếp cận với số liệu

5.1.1. Trình bày số liệu thống kê

 

 

 

Bảng số liệu do Bộ Tài chính công khai sau khi dự toán được Quốc hội quyết định và quyết toán ngân sách được Quốc hội phê chuẩn hàng năm: Số liệu thu ngân sách trung ương phân theo thành phần kinh tế và theo sắc thuế; số liệu chi ngân sách trung ương phân theo đầu tư, thường xuyên, chi trả nợ; chi ngân sách của từng Bộ, cơ quan trung ương phân theo đầu tư, thường xuyên và theo một số lĩnh vực chính như: giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học…

Số liệu và tập hợp ngân sách của trung ương được Vụ Ngân sách nhà nước- Bộ Tài chính tổng hợp và công bố hàng năm, bao gồm số liệu về dự toán, quyết toán thu, chi ngân sách Trung ương; của các cơ quan Trung ương (Các Bộ, cơ quan khác ở trung ương).

Vụ Ngân sách nhà nước cũng xây dựng các số liệu hàng năm về các khoản chi tổng ngân sách của Chính phủ trung ương được phân bổ theo loại hình kinh tế và chức năng dựa trên các tài khoản quyết toán của các Bộ ngành chi tiêu.

Số liệu hàng năm được lập từ các báo cáo của các đơn vị chi tiêu được thực hiện trong năm tài chính.

Một bộ các bảng về Ngân sách nhà nước được lập cho năm ngân sách có sử dụng các số liệu dự toán và quyết toán ngân sách. Thâm hụt được tính là các khoản thu trừ đi khoản chi (trong đó: tổng chi ngân sách nhà nước bao gồm chi trả nợ gốc và lãi vốn vay trong và ngoài nước). Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê công bố rộng rãi một bộ các bảng này trong ấn phẩm hàng năm “Niên giám thống kê” (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) và trên trang web site của Bộ Tài chính

Bộ Tài chính biên tập và phát hành cuốn sách công khai dự toán và quyết toán ngân sách của NSNN, ngân sách các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương trong cả nước, cũng như đưa lên trang web site của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính công khai cuốn sách ngân sách Nhà nước Việt Nam hàng năm trong đó có đánh giá về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước có gắn với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước.

Bộ Tài chính công khai cuốn sách ngân sách Nhà nước Việt Nam hàng năm trong đó có đánh giá về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước có gắn với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước.

Số liệu cuối cùng hàng năm theo mẫu đã cung cấp cho các Tổ chức Quốc tế và các nhà tài trợ bao gồm các mục ghi nhớ về các hoạt động cho vay lại và các khoản thu nhập do các cơ quan Chính phủ giữ lại, cũng đã được cung cấp cho IMF cho việc xuất bản trong Niên giám Thống kê Tài chính Chính phủ.

Trình bày số liệu thống kê giúp cho việc hiểu đúng và so sánh hợp lý (bố cục và sự rõ ràng của lời văn, bảng biểu,và biểu đồ).

 

 

 

5.1.2. Phương tiện và hình thức phổ biến số liệu

 

 

 

 

 

5.1.2.1. Bản giấy - Số liệu mới công bố

 

 

 

 

 

5.1.2.2. Bản giấy - Bản tin tuần

 

 

 

 

 

5.1.2.3. Bản giấy - Bản tin tháng

 

 

 

 

 

5.1.2.4. Bản giấy - Bản tin quý

 

 

 

 

 

5.1.2.5. Bản giấy - Loại khác

 

 

 

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc công bố công khai số liệu Ngân sách nhà nước (dự toán và quyết toán) được gửi theo đường công văn cho các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương.

- Ấn phẩm về công khai ngân sách (dự toán và quyết toán) của các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương.

- Niên giám thống kê tóm tắt của Tổng cục Thống kê, tiếng Anh và tiếng Việt.

- Niên giám thống kê đầy đủ của Tổng cục Thống kê, tiếng Anh và tiếng Việt.

- Ngân sách hàng năm của Việt Nam, tiếng Anh và tiếng Việt.

           

 

 

5.1.2.6. Bản điện tử - Bản tin hoặc số liệu điện tử

 

 

 

Đưa tin trên Trang điện tử của Bộ Tài chính:

- Số liệu công khai dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm.

- Số liệu công khai dự toán và quyết toán ngân sách của các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương.

- Báo cáo Ngân sách Việt Nam, trong đó đánh giá tình hình kinh tế - xã hội và thực hiện NSNN của năm hiện hành, dự báo tình hình kinh tế - xã hội và dự toán NSNN của năm tiếp theo (tiếng Việt và tiếng Anh).

 

 

 

5.1.2.7. Bản điện tử - Loại khác

 

 

 

 

 

5.1.3 Lịch công bố số liệu trước

 

 

- Theo qui định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 192/QĐ-TTg ngày 16/11/2004) thì việc công bố công khai số liệu quyết toán và dự toán ngân sách có thời gian ấn định cụ thể cho từng cấp ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, công trình xây dựng cơ bản có sử dụng của ngân sách nhà nước… (số liệu hàng năm).

- Đối với số liệu hàng quí cung cấp cho các tổ chức Quốc tế, Bộ Tài chính cũng có qui định thời gian cụ thể (04 tuần sau khi kết thúc quý).

 

 

 

5.1.4 Công bố đồng thời

 

 

Báo cáo ngân sách và các số liệu dự toán, quyết toán hàng năm được công bố cho công chúng thông qua phát hành ấn phẩm của Bộ Tài chính và đưa lên  trang website của Bộ Tài chính. Ngoài ra, số liệu dự toán và quyết toán hàng năm được công bố trên Niên giám Thống kê của Tổng cục thống kê, thông qua ấn phẩm của IMF Niên giám Thống kê tài chính chính phủ (GFSY) và Thống kê tài chính Quốc tế (IFS).

 

 

5.1.5. Phổ biến thông tin theo yêu cầu

 

 

 

 

5.2. Siêu dữ liệu

5.2.1. Phổ biến tài liệu về khái niệm, phạm vi, bảng phân ngành, cơ sở ghi chép, nguồn số liệu và các kỹ thuật thống kê

 

 

Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật có đưa ra các khái niệm cơ bản về hệ thống ngân sách nhà nước, thu, chi, bội chi NSNN,…; phân định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách; nguyên tắc hạch toán, kế toán và các biểu mẫu báo cáo dùng cho các cấp ngân sách.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

Quyết định số 2331/QĐ-BTC ngày 04/10/2011 của Bộ Tài chính về hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê đã đưa ra một số khái niệm, phương pháp tính đối với các chỉ tiêu thống kê tài chính.

Tuy nhiên, chưa có một tài liệu nào đưa ra những chú thích về những khác biệt so với các tiêu chuẩn và hướng dẫn được quốc tế công nhận.

 

 

5.3 Hỗ trợ cho người dùng tin

5.3.1 Phổ biến thông tin về đầu mối liên lạc

 

 

Địa chỉ, điện thoại, thư điện tử của các đơn vị thuộc Văn phòng Bộ Tài chính được phổ biến trên Website của Bộ Tài chính; trong danh bạ điện thoại của ngành tài chính.

 

 

 

5.3.2. Tĩnh sẵn có của Ca-ta-lô về các tài liệu và dịch vụ

 

 

Các ấn phẩm về TKTC của Bộ Tài chính nặng về nghiệp vụ chuyên môn, chưa mang tính thương mại nên chưa thực hiện in catalo và dịch vụ thuê ngoài.

 

9. Các kế hoạch

 

9.1. Gần đây

9.1.1. Các kế hoạch cải tiến - Cải tiến gần đây

 

 

 

Bộ Tài chính công bố rộng rãi các số liệu dự toán và quyết toán hàng năm của ngân sách Nhà nước thông qua  trang web site của Bộ Tài chính và của Tổng cục Thống kê.

Bộ Tài chính đã biên tập số liệu công khai dự toán và quyết toán ngân sách của các Bộ, cơ quan trung ương, của 63 tỉnh và thành phố trong cả nước và đưa lên trang web site của Bộ Tài chính, in ấn phát hành gửi các cơ quan đơn vị và nhà tài trợ có quan tâm.

Biên tập và phát hành cũng như đưa lên trang web site của Bộ Tài chính cuốn sách ngân sách Việt nam  năm 2006, trong đó có giải thích  các chỉ tiêu ngân sách gắn với các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước. Chính phủ đã đồng ý cho phép Bộ Tài chính hàng năm biên tập cuốn sách này, đưa lên trang web site và phát hành gửi cho một số cơ quan đơn vị và các nhà tài trợ có quan tâm.

Luật NSNN đã qui định vai trò và trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước thành đơn vị kế toán tổng hợp của Bộ Tài chính phù hợp với vai trò là trung tâm Hệ thống Quản lý tài chính hội nhập.

Bộ Tài chính đang triển khai nghiên cứu và xây dựng Hệ thống thông tin Tài chính hợp nhất NSNN với Kho bạc trong việc lập báo cáo tổng hợp các tài khoản của Chính phủ tổng thể toàn diện và sử dụng mạng lưới vi tính quốc gia.

Các chỉ tiêu số liệu dự toán và quyết toán thu chi ngân sách của NSTW, của các Bộ, cơ quan trung ương, các địa phương được Quốc hội quyết định và phê chuẩn, được các Bộ, địa phương  công khai.

Số liệu dự toán và quyết toán thu chi của các Bộ, cơ quan trung ương được tổng hợp và công bố công khai trên trang web site của Bộ Tài chính, cũng như được biên tập, in ấn và phát hành rộng rãi.

 

 

9.2. Kế hoạch chung

9.2.1. Kế hoạch cải tiến - ngắn hạn

 

 

Bộ Tài chính sẽ sửa đổi và làm rõ phân tổ theo chức năng phù hợp với phân tổ về các chức năng của Chính phủ đã được quốc tế chấp nhận (COFOG)  và để đáp ứng các nhu cầu của quá trình Kiểm điểm chi tiêu công cộng.

Bộ Tài chính sẽ thiết lập một chính sách để điều chỉnh thường kỳ số liệu hàng quý cho năm

 

 

9.2.2. Kế hoạch cải tiến - trung hạn

 

 

+ Bộ Tài chính đang xây dựng Đề án Tổng Kế toán nhà nước tại KBNN với mục đích cung cấp đầy đủ, thống nhất và có chất lượng các thông tin tài chính về tài sản của Nhà nước.

+ Bộ Tài chính tiếp cận với báo cáo GFS để xây dựng báo cáo tài chính của Việt Nam theo thông lệ quốc tế.

+ Hiện nay, dự án Tabmis đã triển khai tại 59 KBNN các tỉnh, thành phố, KBNN TW và 40 Bộ ngành, Sở chuyên ngành.” Sau khi triển khai, dự án TABMIS có khả năng giao diện với các phần mềm quản lý tài chính khác như: Quản lý thu thuế, quản lý nợ, cơ sở dữ liệu tập trung, hệ thống thanh toán… tạo thành một hệ thống thông tin tài chính tích hợp, giúp cho việc minh bạch, nâng cao hiệu quả.

 

 

9.3. Tài chính

9.3.1. Kế hoạch cải tiến - Trợ giúp kỹ thuật/tài chính - ngắn hạn

 

 

Trợ giúp kỹ thuật của WB, IMF trong việc hoàn chỉnh hệ thống thống kê tài chính chính phủ.

 

 

 

9.3.2. Kế hoạch cải tiến - Trợ giúp kỹ thuật/tài chính – Trung hạn

 

 

 

Các đơn vị của Bộ Tài chính tham gia vào việc biên soạn số liệu tài chính ngân sách cho phân tích kinh tế vĩ mô đề nghị có chương trình đào tạo có sự tài trợ của NHTG.

 

Đối tác liên hệ

 

 

 

 

1. Họ và tên:

Ông Võ Thành Hưng

 

    Chức vụ:

Phó Vụ trưởng

 

    Cơ quan:

Vụ Ngân sách nhà nước - Bộ Tài chính

 

    Địa chỉ:

28 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, Việt Nam

 

    Điện thoại:

(84)(04) 22202828 (3157)

 

    Fax:

(84)(04) 22208053

 

    E-mail:

vothanhhung@mof.gov.vn

 

 

 

 

2. Họ và tên:

Bà Trần Thị Kim Hiền

 

    Chức vụ:

Trưởng phòng Thống kê

 

    Cơ quan:

Vụ Ngân sách nhà nước - Bộ Tài chính

 

    Địa chỉ:

28 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, Việt Nam

 

    Điện thoại:

(84)(04) 22202828 (3141)

 

    Fax:

(84)(04) 22208053

 

    E-mail:

trankimhien@mof.gov.vn

 

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  HỆ THỐNG PHỔ BIẾN SỐ LIỆU CHUNG
  Khu vực sản xuất: Chỉ số sản xuất công nghiệp
  Khu vực sản xuất: Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
  Khu vực sản xuất: Lao động - Việc làm
  Khu vực sản xuất: Thất nghiệp
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921