English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 10/2018 (535)

Ra hàng tháng. Năm thứ 57

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Chính phủ họp báo công bố Bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp

Hội nghị tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2017

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 10 tháng năm 2018

Việt Nam nỗ lực thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững

¨ BÍCH NGỌC

Câu chuyện chuyển giao công nghệ sau 30 năm thu hút FDI tại Việt Nam

¨ TS. NGUYỄN VĂN GIAO

Một số chỉ tiêu chủ yếu trong Bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp Việt Nam năm 2017 và giai đoạn 2010 – 2017

10 năm Nghị quyết Tam nông hiệu quả trong phát triển nông nghiệp, nông thôn

¨ ThS. TRẦN NGỌC TÚ

Hướng đi mới trong sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam

¨ TS. NGUYỄN GIA PHÚC

Xuất khẩu rau quả Việt Nam – Những bước đi để mở rộng thị trường

¨ PHƯƠNG LAN

Thực trạng lao động việc làm Việt Nam giai đoạn 2007 – 2017: Kịch bản nào cho năm 2025

¨ ThS. PHẠM MINH THÁI

Bất bình đẳng giới trên thị trường lao động

¨ NGUYỄN THỊ QUÝ NGỌC

Giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam và Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

¨ ThS. ĐỖ THỊ THÚY

Tin địa phương

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Tổng điều tra kinh tế năm 2017: Cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể - Những phát hiện chính

¨ MINH THƯ

CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Xây dựng nông thôn mới – Phát triển ngành nghề nông thôn đóng vai trò quan trọng

¨ NGỌC LINH

Chương trình khoa học công nghệ phục vụ nông thôn mới – những kết quả bước đầu

¨ THU HÒA

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Bảng cân bằng năng lượng quốc gia: Thực trạng và một số phân tích đánh giá

¨ VŨ VĂN TUẤN

QUỐC TẾ

Nguy cơ về một cuộc chiến tiền tệ Mỹ - Trung

¨ PGS.TS. TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

ĐIỆN BIÊN – TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI HỢP TÁC ĐẦU TƯ

Điện Biên: Trên đường hội nhập và phát triển

¨ MÙA A SƠN

Sở Giao thông vận tải tỉnh Điện Biên: Phát triển hệ thống giao thông đáp ứng nhu cầu dân sinh

Ngành Giáo dục và Đào tạo Điện Biên: Nỗ lực đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

¨ NGUYỄN VĂN KIÊN

Thị xã Mường Lay: Phát huy tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch

¨ VŨ NGỌC VƯƠNG

Ngành Giáo dục và đào tạo huyện Mường Chà: Từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

¨ ĐINH KHẮC NGHĨA

Trung tâm y tế huyện Tủa Chùa: Không ngừng đổi mới phong cách phục vụ, hướng tới sự hài lòng của người bệnh

VUI VUI… THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số 10/2018

 

CÂU CHUYỆN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ SAU 30 NĂM THU HÚT FDI TẠI VIỆT NAM

 

TS. Nguyễn Văn Giao

 

Chuyển giao công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trên toàn cầu, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam. Sau 30 năm thực hiện chính sách mở cửa, khu vực vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận quan trọng và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nước ta. Tuy nhiên, một trong những mục đích chính của việc thu hút FDI là chuyển giao công nghệ lại chưa đạt kết quả như mong đợi, đòi hỏi cần có những cơ chế, chính sách cũng như nỗ lực từ các doanh nghiệp trong nước để công nghệ sản xuất của khu vực này lan toả và mang lại hiệu quả hơn.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến tháng 9/2018, Việt Nam thu hút được 26.646 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 334 tỷ USD, trong đó phần lớn số dự án là đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài. Vốn thực hiện luỹ kế ước đạt 185,62 tỷ USD, bằng 55,5% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 190,8 tỷ USD, chiếm 57,1% tổng vốn đầu tư, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông… (…)

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vấn đề tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm năng lượng và nguyên vật liệu… là một trong những ưu tiên hàng đầu. Do đó chiến lược thu hút FDI thế hệ mới của Việt Nam trong thời gian tới được xác định hướng đến thu hút FDI theo quy hoạch chung của các ngành, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, thân thiện với môi trường và tiêu thụ ít năng lượng, phát triển và sử dụng năng lượng sạch và năng lượng tái tạo.

Sự hoàn thiện về các văn bản pháp lý cũng như định hướng thu hút FDI “thế hệ mới” sẽ tạo môi trường pháp lý để hoạt động chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đạt hiệu quả cao hơn. (…)

Yếu tố nội lực của doanh nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động chuyển giao công nghệ. Do đó, các doanh nghiệp trong nước cần tự đổi mới và chủ động nỗ lực tìm kiếm các kênh chuyển giao công nghệ phù hợp, thông qua hợp đồng mua phát minh, bản quyền, thương quyền, hợp tác nghiên cứu với cơ quan, tổ chức trong nước hay các doanh nghiệp FDI. Những phương thức chuyển giao công nghệ thành công gắn với thu hút FDI trong các ngành dầu khí và viễn thông cần được làm hình mẫu để ứng dụng vào các ngành, địa phương thích ứng với tình hình thực tế, giúp đẩy mạnh việc ứng dụng rộng rãi công nghệ mới ở nước ta, từ đó nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam./.

 

XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM – NHỮNG BƯỚC ĐI ĐỂ

MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG

 

Những năm vừa qua, nhờ các chính sách mới trong phát triển nông nghiệp như: Tái cơ cấu, ứng dụng khoa học công nghệ vào đẩy mạnh sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường đã giúp rau quả trở thành một trong những mặt hàng chủ đạo trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam.

Những bước tiến vững chắc

Nhìn vào chặng đường xuất khẩu rau quả (XKRQ) những năm gần đây, cho thấy ngành này đã tạo được những bứt phá và tiến những bước khá vững chắc.

Theo số liệu của Tổng cục  thống kê, nếu như năm 2010, kim ngạch xuất khẩu rau quả (KNXKRQ) của Việt Nam mới đạt ở mức khiêm tốn 480,3 triệu USD thì năm 2014, con số này đã tăng hơn 3 lần đạt gần 1,5 tỷ USD; Năm 2015 đạt 1,84 tỷ USD tăng 23,5% so năm 2014. Năm 2016, có thể coi là bước bứt phá quan trọng khi kim ngạch XKRQ Việt Nam đạt trên 2,46 tỷ USD, tăng 33,6% so năm 2015.

Năm 2017, xuất khẩu rau, quả tiếp tục ghi dấu ấn với giá trị xuất khẩu đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng 42,2% % so với năm 2016 và vượt lên  dẫn đầu trong tất cả các mặt hàng nông sản xuất khẩu và được xếp vào nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Năm 2018, với việc được mùa lớn về cây ăn quả đã mang lại cho Việt Nam giá trị kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 2 tỷ USD ngay trong 6 tháng đầu năm và tính đến hết quí III đã đạt gần 3 tỷ USD, bằng 85% so năm 2017, hứa hẹn đưa XKRQ tới dấu mốc tăng trưởng mới. (…)

Thị trường rộng mở

Kể từ sau khi ra nhập WTO, thị trường rau quả Việt Nam đã có những cơ hội khởi sắc. Việc gia nhập WTO, một thị trường xuất nhập khẩu nông sản thế giới mang tính chuyên nghiệp cao đã giúp mặt hàng rau quả Việt Nam ngày càng cập nhật qui trình sản xuất hiện đại và phát triển thương hiệu mạnh mẽ. (…)

Có thể nói sản lượng cao, chất lượng tốt là tiền đề vững vàng giúpViệt Nam đẩy mạnh xuất khẩu rau quả, tuy nhiên muốn rau quả Việt chiếm lĩnh thị trường thế giới, đặc biệt là những thị trường cao cấp thì cần phải hoàn thiện qui trình cũng như cơ chế phối hợp hiệu quả giữa bốn nhà (Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp). Trong đó vai trò của nhà nước đặc biệt quan trọng trong việc tăng hiệu quả hệ thống chính sách thuế, tín dụng, chuyển dịch đất đai, khuyến nông. Chính sách hỗ trợ đầu tư vào công nghệ bảo quản chế biến; Chính sách đầu tư cho các công trình khoa học phát triển giống cây trồng có năng suất, chất lượng vượt trội, mang tính cạnh tranh cao; Đầu tư cho công tác nghiên cứu thị trường, dự báo rủi do; Đẩy mạnh các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại theo hướng chuyên nghiệp…

Về phía doanh nghiệp, để trụ vững ở các thị trường lớn và khó tính, doanh nghiệp xuất khẩu rau quả Việt cần xây dựng chuỗi liên kết sản xuất vững vàng và thông suốt ngay tại “vườn nhà”; Nỗ lực tìm kiếm cơ hội cũng như hoàn thiện đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm để vượt qua rào cản của những thị trường cao cấp, giàu lợi nhuận./.

 

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI – NHỮNG KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU

Thu Hòa

 

Tháng 01/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 27/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015. Đây là một trong những động lực lớn thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ngày càng đa dạng, toàn diện.Đồng thời, tìm ra những cách làm hay, những mô hình hiệu quả trong phát triển sản xuất, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp.

Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn I (2011-2015), với tổng kinh phí thực hiện hơn 386 tỷ đồng, trong đó có 221 tỷ đồng là nguồn kinh phí cấp từ ngân sách Nhà nước và 165 tỷ đồng được huy động từ kinh phí đóng góp của các doanh nghiệp (chiếm 43% tổng kinh phí). Sau 5 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả tích cực, qua đó góp phần chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, nâng cao giá trị gia tăng. Đây được xem là giải pháp đột phá quan trọng, nhằm huy động các nguồn lực trong xã hội để đạt được những mục tiêu lớn trong xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.(…)

Nhằm phát huy những kết quả đạt được trong giai đoạn I, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đã đưa ra một số giải pháp, định hướng cho Chương trình giai đoạn 2018 - 2020,theo đó, cần tập trung vào các nhiệm vụ gắn với những vấn đề cấp thiết, xuất phát từ thực tiễn;chuyển giao ứng dụng, phát huy lợi thế của từng vùng, miền để phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị. (…)

Với định hướng và nền tảng những kết quả đã đạt được ở giai đoạn I, tin tưởng rằng Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn tiếp theo sẽ ngày càng đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong ứng dụng khoa học công nghệ vào xây dựng, phát triển nông thôn mới./.

 

NGUY CƠ VỀ MỘT CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ MỸ - TRUNG

 

PGS.TS. Trần Thị Lan Hương

 

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đang ngày càng leo thang và chưa tìm được giải pháp hòa hợp, thì thị trường toàn cầu lại đang dấy lên những lo lắng về một diễn biến mới. Các chuyên gia kinh tế đang lo ngại về một cuộc chiến tranh tiền tệ mới, khi đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc bất ngờ sụt giảm mạnh trong thời gian gần đây.

Tranh cãi Mỹ - Trung về tỷ giá Nhân dân tệ

Kể từ khi xung đột thương mại Mỹ-Trung leo thang, đồng NDT của Trung Quốc đã giảm giá xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3 năm 2017 và là một trong những đồng tiền rớt giá mạnh nhất ở khu vực châu Á trong vòng 6 tháng đầu năm 2018. Đặc biệt, từ tháng 4 đến tháng 6/2018, đồng NDT của Trung Quốc đã giảm hơn 8%, một mức giảm kỷ lục trong lịch sử. (…)

Lơ lửng nguy cơ chiến tranh tiền tệ

Liệu cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có dẫn đến một cuộc chiến tranh tiền tệ? Đây là điều mà các chuyên gia kinh tế đang lo ngại. Phá giá đồng nội tệ là chính sách được Trung Quốc áp dụng từ lâu và có bài bản. Xuất khẩu với giá rẻ là chiến lược giúp Trung Quốc giành thị phần đáng kể ở gần như mọi thị trường quan trọng trên thế giới. Giới chuyên gia kinh tế cho rằng, chính sách này sẽ giúp Trung Quốc khắc phục được phần nào thiệt hại do chính sách thuế quan bảo hộ thương mại của Mỹ gây ra. Tuy nhiên, có hai vấn đề phức tạp khác đối với Trung Quốc. (…)

Giới phân tích cho rằng, đồng NDT giảm giá so với USD là hệ quả tất yếu của sự trái chiều về sức khỏe kinh tế và chính sách tiền tệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Trong khi kinh tế Trung Quốc có nhiều dấu hiệu giảm tốc thì kinh tế Mỹ liên tục phát đi những thống kê khả quan. Đầu tháng 10/2018, Trung Quốc đã hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc để bơm tiền vào nền kinh tế, trong khi FED vừa có đợt nâng lãi suất thứ ba trong năm 2018 vào tháng 9. Từ nay đến cuối năm 2018 sẽ là quãng thời gian thăm dò lẫn nhau của Trung Quốc và Mỹ, và những quyết sách rõ ràng hơn dự kiến sẽ được đưa ra vào đầu năm 2019. Do đó, cuộc chiến tranh tiền tệ giữa hai nước khó có thể xảy ra và hiện tại mới chỉ dừng lại ở cấp độ là “nguy cơ” chứ chưa “leo thang”./.

 

 ĐIỆN BIÊN: TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Mùa A Sơn

Với truyền thống yêu nước và anh dũng, nhân dân Ðiện Biên đã và đang đưa tinh thần “chiến thắng Ðiện Biên Phủ bất diệt” vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương. Đến nay, trải qua 63 năm xây dựng và phát triển (1954 – 2017), dưới sự lãnh đạo, đoàn kết và đồng lòng của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân, Ðiện Biên hôm nay đã khoác trên mình tấm áo mới mang màu ấm no, hạnh phúc và vươn mình hội nhập kinh tế quốc tế.

Biến tiềm năng thành lợi thế phát triển

Nằm ở miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, Điện Biên có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội: Có vị trí địa lý nằm ở ngã 3 biên giới giáp với 2 nước Trung Quốc và Lào, là cầu nối giao thương thuận lợi của khu vực Bắc Bộ với các tỉnh Bắc Lào và khu vực Tây Nam Trung Quốc; Đất đai màu mỡ, diện tích đất chưa sử dụng lớn, thích hợp để phát triển sản xuất lâm nghiệp, cây công nghiệp: Thông, cao su, cà phê…; Khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng phong phú, đa dạng rất thuận lợi để phát triển các loại hàng hóa nông, lâm sản có giá trị kinh tế cao như: Lúa gạo ở cánh đồng Mường Thanh (vựa lúa lớn nhất vùng Tây Bắc), chè Tuyết Shan ở Tủa Chùa, cà phê ở Mường Ảng và chăn nuôi đại gia súc ở Mường Nhé... (…)

Tạo đột phá về phát triển kinh tế - xã hội

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) nhằm phấn đấu đến năm 2020, đưa Điện Biên thành tỉnh có trình độ phát triển trung bình trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống của nhân dân so với các vùng khác trong cả nước. (…)

Để đạt được những mục tiêu trên, Điện Biên cần tập trung phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở tiềm năng, lợi thế, thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển; tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, cánh đồng mẫu lớn, sản xuất hàng hóa tập trung theo chuỗi sản phẩm và an toàn thực phẩm.(…)./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2018 (536)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)