English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 8/2018 (533)

Ra hàng tháng. Năm thứ 57

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Luật thống kê 2015 – Những kết quả đạt được sau 2 năm có hiệu lực thi hành

¨ MAI PHƯƠNG

Tổng cục Thống kê và Cơ quan Thống kê Nhật Bản ký Biên bản hợp tác về Chương trình hợp tác kỹ thuật công nghệ thông tin và truyền thông cho thống kê chính thức

Hệ thống ngành Kinh tế Việt Nam

¨ TRẦN TUẤN HƯNG

Hội nghị PCC29 – Bài học kinh nghiệm từ một số nước nghiên cứu, áp dụng tại Việt Nam

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 8 tháng năm 2018

Ngành nông nghiệp sau 5 năm thực hiện đề án tái cơ cấu

¨ ThS. LÊ TRUNG HIẾU

Xung đột thương mại trên thế giới: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

¨ ThS. ĐỖ THỊ THÚY

Trí tuệ nhân tạo – những thách thức đối với lao động Việt Nam

¨ ThS. ĐINH THỊ TRÂM

Lao động khu vực FDI: Tồn tại nhiều bất cập

¨ ThS. BÙI THỊ KIM CÚC

Dân số Việt Nam dưới góc nhìn về giới

¨ NGUYỄN THỊ VIỆT NGA – VŨ THỊ BÍCH THẢO

Bình đẳng trong tiếp cận cơ hội giáo dục ở Việt Nam

¨ ThS. ĐỖ THU HƯƠNG

Tin địa phương

CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Phát triển giao thông nông thôn bền vững

¨ MINH THƯ

Quảng Ninh: Hiệu quả từ chương trình xây dựng nông thôn mới

¨ THU HƯỜNG

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN NĂM 2016

Ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp qua kết quả Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016

¨ KHÁNH QUỲNH

VUI VUI… THỐNG KÊ

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

¨ ThS. DƯƠNG MẠNH HÙNG

Tình trạng nghèo đa chiều của Việt Nam và các vùng kinh tế

¨ TS. LÊ THỊ THANH LOAN – ThS. NGUYỄN THANH BÌNH

QUỐC TẾ

Dự báo kinh tế toàn cầu cuối năm 2018, triển vọng năm 2019

¨ TRÚC LINH

THÁI BÌNH: HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Thái Bình: Vùng đất giàu tiềm năng và dấu ấn phát triển

¨ PHẠM VĂN CA

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2017

¨ NGUYỄN BÌNH

Điều hành ngân sách linh hoạt để tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội

¨ TS. TẠ NGỌC GIÁO

Thực hiện tốt công tác quy hoạch và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

¨  HOÀNH VĂN THÀNH

Ngành thuế: Minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính, đổi mới

¨ ĐẶNG HỒNG KỲ

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 8/2018

LUẬT THỐNG KÊ 2015 – NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 2 NĂM CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH

Luật Thống kê được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Đến nay, sau 2 năm triển khai thực hiện, Luật Thống kê đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Phóng viên Tạp chí Con số và Sự kiện đã có cuộc trao đổi, phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về vấn đề này.

Phóng viên: Sau 2 năm Luật Thống kê 2015 có hiệu lực thi hành, Ông có thể đưa ra một số đánh giá khái quát về những kết quả đã đạt được?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Năm 2015, Quốc hội thông qua Luật Thống kê, đây là căn cứ pháp lý quan trọng để củng cố hoạt động thống kê trong tình hình mới. Khi xây dựng Luật Thống kê, chúng tôi hướng tới mục đích quan trọng nhất là nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê, nhằm phục vụ tốt nhất yêu cầu cung cấp thông tin cho các cơ quan Đảng, Chính phủ, các tổ chức xã hội và các đối tượng dùng tin khác. Chính vì vậy, Luật Thống kê đã có nhiều điểm mới, có thể kể đến như: Quy định phân tích và dự báo thống kê là một nhiệm vụ quan trọng của ngành Thống kê; Thẩm định hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ, ngành; Hình thức thu thập dữ liệu qua hồ sơ hành chính; Chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành, tổ chức; Ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu công việc của hoạt động thống kê… Điểm lại sau 2 năm Luật Thống kê đi vào cuộc sống, nổi lên một số kết quả chính: Chất lượng thông tin thống kê từng bước được nâng lên phục vụ kịp thời yêu cầu của các cơ quan Đảng, Chính phủ và các địa phương; cơ bản hoàn thiện các văn bản pháp lý thực thi dưới Luật; nhiều đề án nhằm nâng cao chất lượng số liệu thống kê đã được thực hiện; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình sản xuất số liệu thống kê; công tác đổi mới tổ chức thống kê được triển khai có hiệu quả…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được cũng tồn tại một số mặt hạn chế, như: Ý thức chấp hành Luật Thống kê dù đã được cải thiện song vẫn tồn tại việc cung cấp thiếu, cung cấp sai thông tin từ phía đơn vị, tổ chức, người dân đến việc làm bừa, làm ẩu của chính đội ngũ những người làm công tác thu thập thông tin; sự  quan tâm đến công tác thống kê của nhiều Bộ, ngành đã được nâng lên song ở một số Bộ, ngành vẫn còn lơi lỏng, dẫn đến công tác thống kê phục vụ việc chỉ đạo của chính Bộ, ngành đó không như mong muốn; việc sử dụng đa dạng nguồn dữ liệu còn gặp khó khăn bởi những vướng mắc trong quá trình hợp nhất, chuẩn hóa dữ liệu…

Phóng viên: Ông có thể nói rõ hơn về việc hoàn thiện các văn bản pháp lý hướng dẫn thực thi dưới Luật?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Theo quy định, đến thời điểm tháng 7/2018, các văn bản pháp lý của Luật Thống kê trước đây hết hiệu lực và được thay thế bằng các văn bản mới của Luật Thống kê 2015. Về cơ bản, ngành Thống kê đã hoàn thành việc xây dựng các văn bản dưới Luật, cụ thể: ngày 01/7/2016, Chính phủ đã ban hành một loạt các Nghị định như Nghị định số 94/2016-NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê; Nghị định số 95/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê; Nghị định số 97/2016/NĐ-CP quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Cách đây chưa lâu, ngày 20 tháng 4 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60/2018/NĐ-CP quy định chi tiết nội dung chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia. Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ký ban hành nhiều Quyết định: Quyết định số 43/2016/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 về Chương trình điều tra thống kê quốc gia; Quyết định số 11/2018/QĐ-TTg ngày 01/3/2018 về Bảng phân loại tiêu dùng theo mục đích của hộ gia đình Việt Nam; Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam… Những văn bản pháp lý dưới Luật được ban hành kịp thời là căn cứ pháp lý quan trọng để ngành Thống kê triển khai công tác thống kê toàn diện, đồng bộ, hệ thống, bài bản, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê phục vụ tốt công tác quản lý, điều hành đất nước.

Ngoài ra, việc ban hành kịp thời các văn bản pháp lý này đã cung cấp những quy định, nguyên tắc, yêu cầu, chế tài cụ thể, góp phần nâng cao nhận thức, cách ứng xử của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong việc chấp hành Luật Thống kê.

Kết quả rõ nét thể hiện ở chỗ, hoạt động thống kê ngày càng được củng cố ở cả hệ thống thống kê tập trung và thống kê Bộ, ngành; nhận thức về tầm quan trọng của thông tin thống kê trong công tác quản lý, điều hành ở Trung ương và địa phương ngày càng được nâng cao; việc chấp hành cung cấp thông tin cho các cuộc điều tra, tổng điều tra do ngành Thống kê tiến hành từ các tổ chức, doanh nghiệp, người dân cũng được cải thiện, với minh chứng rõ nét đó là việc thành công trong thu thập thông tin của Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 và Tổng điều tra kinh tế 2017. Ngoài ra, việc chia sẻ thông tin giữa Tổng cục Thống kê và các Bộ, ngành cũng đạt kết quả khả quan.

Phóng viên: Như Ông đã nói, Luật Thống kê hướng tới nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả công tác thống kê, vậy ngành Thống kê đã làm gì để đạt được mục tiêu này, thưa Ông?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Trong thời gian qua, ngành Thống kê đã thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, nổi bật nhất là kịp thời cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu đánh giá tình hình, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Ngành Thống kê đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều tra thống kê, qua đó quản lý và nâng cao chất lượng số liệu đầu vào của ngành Thống kê; xây dựng các khung chỉ tiêu đánh giá các đề án chủ yếu của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; xây dựng và đánh giá thí điểm Đề án tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng; chủ động xây dựng các kịch bản kinh tế đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của Chính phủ; tham gia các tổ tư vấn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và của Chính phủ; đặc biệt, Ngành Thống kê đã đẩy mạnh công tác phân tích và dự báo thống kê. Với việc thành lập tổ phân tích và dự báo thống kê, nhiều chuyên đề phân tích chuyên sâu đã được thực hiện và nhận được sự đánh giá cao của các cơ quan, tổ chức sử dụng, như: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực: Kết quả và dấu hiệu, nguy cơ tụt hậu; đánh giá năng suất lao động, đánh giá tiềm lực của nền kinh tế… Hiện, ngành Thống kê đang triển khai nghiên cứu các chuyên đề: Một số phân tích cấu trúc và tổng cầu cuối cùng của nền kinh tế Việt Nam qua 3 giai đoạn 2003 – 2007, 2008 – 2012, 2013 – 2017; Tác động của giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Mỹ đến kinh tế Việt Nam; Phân tích bảo hộ của ngành nông nghiệp và thủy sản; Lạm phát và công tác điều hành của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát giai đoạn 2008 – 2017…

Hàng loạt các đề án đã và đang trong quá trình triển khai đều hướng tới nâng cao chất lượng số liệu, góp phần đưa số liệu thống kê đáp ứng các tiêu chí chính xác, kịp thời, minh bạch, hiệu quả… Các đề án đó là: Đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đề án tăng cường quản lý Nhà nước về chất lượng thống kê đến năm 2030; Đề án xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát…

Phóng viên: Trong Luật Thống kê 2015 có những chương đề cập đến sử dụng dữ liệu hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê, và với quan điểm xây dựng Chính phủ điện tử là xu hướng tất yếu, vậy những năm qua, ngành Thống kê đã có những giải pháp gì để thực hiện vấn đề này, thưa Ông?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Có thể nói, việc sử dụng dữ liệu hành chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê là xu hướng của thế giới, là hai trong những mục tiêu chính ngành Thống kê đặc biệt quan tâm. Để thực hiện thành công Chính phủ điện tử thì một trong những yếu tố then chốt là sự chia sẻ phối hợp thông tin dữ liệu hành chính giữa các Bộ, ngành và việc ứng dụng triệt để công nghệ thông tin tại mỗi Bộ, ngành đó.

Về sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê Nhà nước, trước đây ngành Thống kê cơ bản chỉ sử dụng 2 hình thức thu thập dữ liệu là từ điều tra và tổng hợp báo cáo, tuy nhiên trong Luật Thống kê 2015 có thêm một hình thức mới là thu thập dữ liệu từ dữ liệu hành chính. Đây là một kênh thông tin quan trọng cần được khai thác hiệu quả. Tất nhiên để sử dụng được nguồn dữ liệu này sẽ phải đầu tư nhiều nguồn lực, công sức, tiền của, bởi cần sự đầu tư mạnh của công nghệ thông tin, việc điều hành, quản lý, thiết kế các bài toán để hợp nhất dữ liệu sử dụng… Đó là chưa kể đến sự phối hợp, hợp tác chia sẻ thông tin hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị với nhau. Dù biết là khó, nhưng ngành Thống kê vẫn quyết tâm triển khai từng bước và những nỗ lực đã được đền đáp. Bằng chứng là trong những năm qua, nhiều quy chế chia sẻ thông tin đã được ký kết giữa Tổng cục Thống kê với các Bộ, ngành như: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thuế, Bưu điện Việt Nam… Cũng phải nói rằng, trong số những quy chế chia sẻ thông tin được ký kết, một số chưa thật sự phát huy hiệu quả, nhưng một số lại có tác dụng vô cùng lớn. Điển hình đó là việc chia sẻ thông tin giữa Tổng cục Thống kê và Tổng cục Thuế. Trong Tổng điều tra kinh tế 2017, để tiến hành điều tra hiệu quả, ngành Thống kê đã phối hợp trao đổi thông tin với Tổng cục Thuế trong việc rà soát doanh nghiệp nhằm tránh trùng, sót; đổi mới điều tra doanh nghiệp theo hướng sử dụng tối đa các thông tin về tài chính doanh nghiệp đã có từ Tổng cục Thuế. Nhờ vậy, đã góp phần không nhỏ vào thành công của cuộc Tổng điều tra. Có thể nói, việc chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành nếu được thực hiện ráo riết, bài bản thì đây sẽ là nền tảng căn bản để tạo nên thành công của Chính phủ điện tử.

Về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu của hoạt động thống kê, trước đây, ngành Thống kê là một trong những ngành có nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin mạnh, nhiều ứng dụng công nghệ thông tin đã được áp dụng trong quá trình tổng hợp, xử lý dữ liệu thống kê. Tuy nhiên, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang lấn sâu mạnh mẽ vào mọi mặt của đời sống xã hội thì công tác này cần được đẩy mạnh hơn nữa. Trong Luật Thống kê 2015, có một chương riêng cho lĩnh vực này, điều này cho thấy tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê. Thực thi Luật, những năm gần đây, ngành Thống kê đã có nhiều động thái cụ thể để thực hiện tiến trình này. Cụ thể là đã từng bước áp dụng các công nghệ tiên tiến không chỉ trong tổng hợp, xử lý dữ liệu điều tra, dữ liệu báo cáo, mà trong cả khâu thu thập dữ liệu ban đầu (sử dụng máy tính bảng – CAPI và điều tra trực tuyến – webform trong một số cuộc điều tra và tới đây là trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, hiện đang tổ chức điều tra tổng duyệt năm 2018). Để việc ứng dụng công nghệ thông tin bài bản, hiệu quả, ngành Thống kê đã xây dựng Đề án riêng về công nghệ thông tin. Và mới đây, ngày 10 tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 501/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hệ thống thống kê Nhà nước giai đoạn 2017 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, mục tiêu của Đề  án là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT - TT) và các phương pháp khoa học dữ liệu để nâng cao chất lượng hoạt động thống kê Nhà nước, hướng đến hệ thống thông tin quốc gia tích hợp và hiện đại trong giai đoạn 2020 – 2025.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Ông!  

                                                                        Mai Phương (thực hiện)

NGÀNH NÔNG NGHIỆP SAU 5 NĂM THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU

ThS. Lê Trung Hiếu

Qua 5 năm triển khai thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, kết quả cho thấy đã có những bước chuyển mạnh mẽ trong nội bộ ngành nông nghiệp (Ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản) cũng như sự thay đổi tích cực trong đời sống nông thôn, nông dân.

Giai đoạn 2013-2017, sản xuất nông nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai nặng nề trên khắp mọi miền đất nước; biến động bất lợi của thị trường tiêu thụ nông sản, tác động của hội nhập quốc tế và sự cố ô nhiễm môi trường biển tại các tỉnh miền Trung. Nhưng với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành; sự cố gắng vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp và nông dân, ngành nông nghiệp đã đạt được nhiều kết quả rõ nét, tạo chuyển biến tích cực, hiệu quả trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế. (…)

Cụ thể, trong 5 năm thực hiện tái cơ cấu các ngành, sản phẩm có lợi thế so sánh đã được chú trọng phát triển, thể hiện trên các lĩnh vực:

Sản xuất lúa có xu hướng thu hẹp diện tích, chú trọng chuyển đổi sang lúa chất lượng cao phù hợp với thị trường (…)

Diện tích trồng cây lâu năm có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt với những loại sản phẩm cây trồng phục vụ xuất khẩu (…)

Sản lượng gỗ khai thác có xu hướng tăng nhanh phục vụ tốt nhu cầu chế biến đồ gỗ xuất khẩu (…)

Nuôi trồng thủy sản có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang nuôi trồng các loài trọng điểm dùng làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu, nhất là nuôi tôm nước lợ (…)

Khai thác thủy sản được cơ cấu lại theo hướng nâng cao công suất và chất lượng đội tàu khai thác (…)

Sau 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều khó khăn, biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng gay gắt, cơ cấu ngành nông nghiệp đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả rõ nét. Hệ thống cơ chế, chính sách được sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và nông dân nên phát huy được sức mạnh; cơ cấu sản xuất được chuyển đổi theo hướng phát huy được lợi thế của ngành, sản phẩm trọng điểm giúp sản xuất nông nghiệp duy trì được tăng trưởng và đảm bảo an ninh lương thực; cơ cấu lao động nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, năng suất lao động ngày càng tăng; thu nhập người dân nông thôn ngày càng được cải thiện góp phần xóa đói, giảm nghèo./.

 

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO – NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG VIỆT NAM

ThS. Đinh Thị Trâm

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra ở hầu khắp các lĩnh vực trên toàn thế giới và ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Công nghệ phát triển không chỉ là cơ hội lớn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với lao động ở mỗi quốc gia. (…)

Thế giới với làn sóng phát triển của trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) hiện đang là cụm từ được nhắc đến khá nhiều trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, AI có thể được định nghĩa như một ngành của khoa học máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh. AI cũng được hiểu là trí tuệ do con người tạo nên cho máy móc với mục tiêu giúp chúng có các khả năng trí tuệ và trí thông minh giống và như con người. (…)

Có thể thấy, AI đang góp phần không nhỏ vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống con người, nâng cao năng suất lao động và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh. Ở một phương diện khác, AI còn đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. Theo báo cáo mới từ công ty kiểm toán và tư vấn tài chính PwC, GDP toàn cầu nhờ vào AI sẽ có khả năng tăng trưởng thêm 14% vào năm 2030. (…)

Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu như trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, tự động hóa đã khiến nhiều việc tay chân bị thay thế bởi máy móc, thì nay với cách mạng công nghệ 4.0, đặc biệt là những tiến bộ mới như AI thì có thể thấy xu thế rõ ràng rằng dù là việc chân tay hay trí óc, rất nhiều nghề nghiệp sẽ bị thay thế dần bởi công nghệ mới. (…)

Thách thức và sự đối mặt của lao động Việt Nam trước AI

Các chuyên gia cho rằng, sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là những đột phá của AI sẽ thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, khi máy móc dần thay thế con người. Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của nó, nhất là khi lực lượng lao động mặc dù khá dồi dào song lại thiếu năng lực và kĩ năng. (…)

Nhằm đối mặt với những thách thức từ quá trình phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là sự phát triển ngày càng rộng khắp của AI, ở Việt Nam bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với những cải thiện nhằm tăng năng suất lao động thì các hoạt động liên quan tới nghiên cứu và triển khai ứng dụng của AI trong đời sống cũng ngày được quan tâm. (…)

Các chuyên gia cho rằng, để biến những thách thức thành cơ hội, lao động của các nước sẽ cần những kỹ năng mới để có thể tìm được cơ hội việc làm. Những kỹ năng cần thiết cho nguồn nhân lực để sẵn sàng tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp, tư duy phản biện, sáng tạo, quản lý nguồn lực con người, trí tuệ cảm xúc (EI), đánh giá và đưa ra quyết định, định hướng dịch vụ, đàm phán, linh hoạt trong nhận thức… Chính vì vậy, ngay từ bây giờ, lực lượng trẻ chuẩn bị tham gia thị trường lao động, ngoài kiến thức trên nhà trường, cần trang bị những kỹ năng cần thiết để đón đầu xu thế và có cơ hội việc làm tốt trong tương lai và lao động Việt Nam cũng đang từng bước lấp đầy các kỹ năng nhằm đáp ứng những yêu cầu cần thiết đó./.

 

ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, CƠ GIỚI HÓA VÀO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP QUA KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHỆP VÀ THỦY SẢN NĂM 2016

Khánh Quỳnh

Việt  Nam là một nước đi lên từ nông nghiệp, với 65,5% dân sống ở nông thôn; Số lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 42%; Diện tích đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp chiếm tới 34,8% tổng diện tích đất tự nhiên… Qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, nông nghiệp luôn là ngành trụ cột và hiện vẫn chiếm trên 16% trong cơ cấu GDP cả nước. Nhận thức rõ tiềm năng, thế mạnh, vai trò của kinh tế nông nghiệp, Việt Nam đã có nhiều chính sách tích cực tập trung vào phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững. (…)

Thành tựu ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản được thể hiện trước hết ở số đơn vị áp dụng Quy trình VietGAP ngày càng tăng. Theo báo cáo kết quả Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, tại thời điểm 01/7/2016, cả nước có 1.495 đơn vị được cấp chứng nhận VietGAP và tương đương, trong đó có 540 đơn vị là hộ cá thể, chiếm 36,1% tổng số đơn vị được cấp chứng nhận; 551 nhóm liên kết, chiếm 36,9%; 199 hợp tác xã, chiếm 13,3%; 200 doanh nghiệp, chiếm 13,4% và 5 đơn vị thuộc loại hình khác, chiếm 0,3%. (…)

Song song với ứng dụng khoa học công nghệ, việc đẩy mạnh cơ giới hóa trong  sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng đạt những kết quả tích cực. Máy móc, thiết bị được sử dụng phổ biến ở cả 3 lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi và khai thác thủy sản với số lượng ngày càng tăng, công nghệ ngày càng tiên tiến. (…)

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, báo cáo cũng cho thấy đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa sản xuất còn khiêm tốn chưa đáp ứng tiềm năng cũng như yêu cầu của một nền nông nghiệp hàng hóa. 

Hiện, sản lượng sản phẩm sản xuất theo Quy trình VietGAP chiếm tỷ trọng rất nhỏ; (…)

Diện tích nhà lưới, nhà kính, nhà màng cũng chỉ chiếm 0,07% diện tích đất trồng cây hàng năm và đất nuôi trồng thủy sản. (…)

Diện tích được cơ giới hóa chưa cao: Diện tích lúa được gieo sạ, cấy bằng máy trên phạm vi cả nước chiếm 12,5% tổng diện tích gieo trồng lúa.

Do đó, trong thời gian tới cần có giải pháp đẩy mạnh hơn nữa đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ và cơ giới hóa vào sản xuất. Tăng cường liên kết “4 nhà”, xây dựng thêm nhiều thương hiệu nông sản theo tiêu chuẩn VIETGAP. Tăng cường tính pháp lý cho các hợp đồng bao tiêu sản phẩm, đảm bảo hình thành chuỗi liên kết giá trị chuyên nghiệp hơn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của một nền nông nghiệp công nghệ cao theo hướng bền vững./.

 

THỐNG KÊ KHU VỰC KINH TẾ CHƯA ĐƯỢC QUAN SÁT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

ThS. Dương Mạnh Hùng

Bất kỳ nền kinh tế nào cũng tồn tại song song các hoạt động kinh tế được quan sát và chưa được quan sát. Việc xác định và làm rõ phạm vi giữa hai khu vực này đồng thời xác định rõ các hoạt động trong từng thành tố của khu vực kinh tế chưa được quan sát đóng vai trò rất quan trọng trong công tác hoạch định và đánh giá chính sách của mỗi quốc gia.

Khái niệm và các thành tố của khu vực kinh tế chưa được quan sát

Theo Hệ thống Tài khoản quốc gia 2008 (SNA 2008), khu vực kinh tế chưa được quan sát (Non Obseved Economy, viết tắt: NOE) bao gồm tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh chưa thu thập được thông tin trong các nguồn dữ liệu cơ bản để biên soạn tài khoản quốc gia.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), các hoạt động của khu vực kinh tế chưa được quan sát bao gồm 5 thành tố, đó là: Hoạt động kinh tế ngầm (Underground); hoạt động kinh tế bất hợp pháp (Illegal); hoạt động kinh tế phi chính thức chưa được quan sát (Non observed informal sector); hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu của hộ gia đình (Economic activities undertaken by households for their own final use); Hoạt động kinh tế bị bỏ sót do chương trình thu thập dữ liệu cơ bản (Production Missed Due to Deficiencies in Data Collection Programme). (…)

Tuy nhiên, mức độ phát triển kinh tế, thể chế chính trị của mỗi quốc gia lại là những yếu tố chính quyết định đến phạm vi của khu vực kinh tế chưa được quan sát, một hoạt động có thể là phạm pháp ở quốc gia này (không được đo lường trong GDP) nhưng lại hợp pháp (được đo lường trong GDP) ở quốc gia khác, chẳng hạn hoạt động mại dâm không được thừa nhận và là phạm pháp ở Việt Nam nhưng là hoạt động được thừa nhận ở Thái Lan, Hà Lan. Việc xác định và làm rõ phạm vi của khu vực kinh tế chưa được quan sát giúp cho các quốc gia có các giải pháp hiệu quả để thu thập thông tin, tính toán kết quả sản xuất của khu vực này. 

Phương pháp đo lường khu vực kinh tế chưa được quan sát

Mỗi quốc gia có phương pháp đo lường NOE riêng phù hợp với thực trạng nền kinh tế của mình. Có 2 loại nhóm phương pháp được sử dụng để đo lường khu vực NOE đó là nhóm các phương pháp thống kê và nhóm các phương pháp ước lượng dựa trên kỹ thuật lập mô hình. (…)

Thực trạng thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát ở Việt Nam

Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu đầy đủ về nội dung khu vực kinh tế chưa được quan sát, chỉ có một số đề tài khoa học và luận án tiến sỹ nghiên cứu về khu vực kinh tế phi chính thức. (…)

Năm 2018, Tổng cục Thống kê thực hiện điều chỉnh quy mô GDP cả nước và GRDP của 63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương cho giai đoạn 3 năm 2015-2017 dựa vào số liệu thu thập đầy đủ từ Tổng Điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản năm 2016 và Tổng Điều tra kinh tế năm 2017. Việc thực hiện điều chỉnh quy mô GDP sẽ giúp Tổng cục Thống kê tính toán được quy mô và tỷ trọng của các hoạt động bị bỏ sót do chương trình thu thập thông tin cơ bản cho giai đoạn 3 năm 2015-2017.

Giải pháp thực hiện thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát ở Việt Nam

Với tầm quan trọng của thông tin thống kê KVKTCĐQS đối với việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội đồng thời bắt nguồn từ hạn chế về thông tin thống kê KVKTCĐQS ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát (theo Thông báo số 475/TB-VPCP ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Văn phòng Chính phủ). Mục tiêu của đề án nhằm xây dựng phương pháp luận và tiến hành đánh giá kết quả sản xuất của các hoạt động kinh tế chưa được quan sát, nhằm phản ánh đầy đủ quy mô của nền kinh tế theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. (…)./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2018 (536)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)