English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 4/2018 (529)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 4/2018 (529)

Ra hàng tháng. Năm thứ 57

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

 

Hội nghị tập huấn công tác tổ chức, cán bộ và pháp chế, thanh tra thống kê

Hội thảo chỉ tiêu Dân số, lao động và việc làm trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững tại Việt Nam

 

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 4/2018

Cải cách hành chính tại Việt Nam – Những dấu ấn quan trọng

¨ THU HƯỜNG

Môi trường kinh doanh Việt Nam giai đoạn 2014 -2017

¨ ThS. NGUYỄN THANH HÒA

Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông MeKong

¨ BÍCH NGỌC

Thương mại Việt Nam sau 10 năm gia nhập WTO

¨ MINH HẢI

Khu vực thương mại tự do Châu Á – Thái Bình Dương và những đóng góp của Việt Nam

¨ ThS. TRẦN PHƯƠNG THẢO – ThS. NGUYỄN THỊ DIỆU HIÊN

45 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam – Ô-XTRÂY-LI-A: Thành tựu và Triển vọng

¨ ThS. TRẦN THỊ THU

Hướng đi mới trong thu hút FDI

¨ ThS. NGUYỄN THANH HIỀN

Tạo lực đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ trong xu thế hội nhập

¨ ThS. ĐẶNG THỊ MAI HƯƠNG

Thị trường chứng khoán Việt Nam – Hướng tới phát triển bền vững

¨ ThS. TRẦN THỊ NGỌC TÚ

Giải pháp phát triển Năng lượng bền vững

¨ MINH THƯ

Xuất khẩu lao động năm 2018 – Kỳ vọng từ những cơ hội

¨ ThS. TRẦN THỊ HUỆ

Chung tay phòng, chống bạo lực và xâm hại trẻ em

¨ NGỌC LINH

Cuộc chiến HIV/AIDS: Thêm những thách thức mới

¨ HIỀN MINH

Hà Nội với chương trình xây dựng Nông thôn mới

¨ BẢO LINH

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN NĂM 2016

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Thực trạng và giải pháp

¨ THU HÒA

 

VUI VUI… THỐNG KÊ

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Một số phương pháp xác định trọng số khi tính chỉ số tổng hợp đo lường các hiện tượng kinh tế, xã hội

¨ ThS. NGUYỄN THỊ XUÂN MAI

 

QUỐC TẾ

Trung Quốc: Phát triển kinh tế tập trung vào chất lượng

¨ TRÚC LINH

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 4/2018    

 

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM - NHỮNG DẤU ẤN QUAN TRỌNG

Thu Hường

 

Những năm qua, công tác cải cách hành chính (CCHC) đã được Chính phủ đặc biệt chú trọng, với những chỉ đạo quyết liệt nhằm đẩy nhanh tiến trình cải cách, góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Đến nay, bức tranh CCHC tại Việt Nam đã đạt được nhiều điểm nhấn quan trọng, được người dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Những thành công đó đã và đang ngày càng lan tỏa, thổi bùng lên “ngọn lửa” cải cách sâu rộng từ các cấp Trung ương cho tới địa phương.

Ngọn lửa cải cách hành chính và những kết quả tích cực

Thời gian qua, Chính phủ đã có những động thái tích cực và quyết liệt trong việc đẩy mạnh CCHC thông qua việc ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực trọng tâm; Kiện toàn Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ để nâng cao chất lượng, hiệu quả chỉ đạo, điều hành CCHC; Chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng, đất đai, đầu tư, kinh doanh, thuế, kho bạc, hải quan...; (…) Vì vậy, bức tranh CCHC đã tạo được nhiều dấu ấn quan trọng, đặc biệt là trong cải cách thủ tục hành chính và cải cách thể chế, được cả hệ thống hành chính và người dân đánh giá cao. (…)

Đẩy mạnh CCHC năm 2018 với cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả

Năm 2018 là năm bản lề thực hiện các Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, vì vậy, tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác CCHC năm 2017, triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2018, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình - Trưởng ban Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã chỉ rõ, cần đẩy mạnh CCHC năm 2018 với cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả theo phương châm hành động của Chính phủ “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”. (…)

Có thể nói, với hành động quyết liệt, mạnh mẽ của Chính phủ trong công tác CCHC những năm qua, người dân và cộng đồng doanh nghiệp đang tiếp tục kỳ vọng sức nóng của “ngọn lửa” cải cách tiếp tục lan tỏa, để CCHC thực sự trở thành một khâu đột phá, phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước./.

 

HỢP TÁC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LƯU VỰC SÔNG MEKONG

Bích Ngọc

Thúc đẩy hợp tác để kết nối khu vực

Khu vực Mekong bao gồm 5 quốc gia gắn kết bởi dòng sông Mê kông là Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan. Tuy là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp song đây vốn là vùng chậm phát triển ở Đông Nam Á và châu Á. Bắt đầu từ năm 1990, trong xu thế hợp tác, phát triển và hội nhập toàn cầu, các nước trong lưu vực sông Mekong đã tìm kiếm cơ chế hợp tác song phương và đa phương để liên kết, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và nguồn nước. (…)

Với sự kết nối sâu rộng trong suốt 25 năm qua, các quốc gia trong lưu vực sông Mekong và các đối tác phát triển đã huy động khoảng 21 tỷ USD cho hàng trăm dự án phát triển kinh tế - xã hội tại sáu nước thành viên, được triển khai trong nhiều lĩnh vực: Năng lượng, viễn thông, thương mại, nông nghiệp và môi trường… (…)

Việt Nam – thành viên chủ động và tích cực

Đối với Việt Nam, sông Mekong có một vai trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển hai vùng kinh tế trọng điểm là Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, đóng góp gần 60% tổng lượng dòng chảy hàng năm của Việt Nam và chiếm khoảng 23% tổng dân số cả nước. Vì vậy, Việt Nam đã và đang tham gia chủ động và tích cực vào tất cả các khuôn khổ hợp tác Mekong, cùng với các thành viên xây dựng cơ chế làm việc hiệu quả, phát huy thế mạnh của các bên tham gia và đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực. (…)

Vươn lên trở thành động lực tăng trưởng toàn cầu

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và môi trường phát triển đang có những chuyển đổi sâu sắc, lưu vực sông Mekong đang bước sang một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội và không ít thách thức như: Sự gia tăng tác động của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường; cơ cấu dân số già hóa; di cư xuyên biên giới tạo ra các vấn đề về bảo trợ xã hội, đặc biệt đối với lao động không có tay nghề; các công nghệ tạo đột phá của cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi căn bản các hệ thống xã hội và kinh tế; áp lực kinh tế - xã hội tạo ra do quá trình đô thị hoá và sự hình thành các khu kinh tế cửa khẩu; khoảng cách phát triển trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia thành viên… (…)

(…) Với quyết tâm của Chính phủ các nước, sự đồng lòng của người dân cùng sự đồng hành của các đối tác phát triển, nhất là sự tham gia chủ động, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, GMS tự tin tiếp tục tiến bước với vai trò là cơ chế hợp tác đầu tiên có vai trò chủ chốt khu vực Mekong, hội nhập hơn, đảm bảo phát triển bền vững, hài hòa và mang lại thịnh vượng cho mọi người dân trong khu vực./.

 

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NĂM 2018 – KỲ VỌNG TỪ NHỮNG CƠ HỘI

                                                                                    ThS. Trần Thị Huệ

 

Công tác xuất khẩu lao động là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, tăng thu nhập. Chính vì vậy, thời gian qua nhiều hoạt động xúc tiến xuất khẩu lao động đã được triển khai tích cực, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo bền vững tại mỗi địa phương. (…)

Xuất khẩu lao động ở Việt Nam - những gam màu sáng tối

Xuất khẩu lao động ra nước ngoài là hoạt động kinh tế dưới hình thức cung ứng lao động ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp nước ngoài. Hoạt động này ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, dưới hình thức hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa, trong tình hình kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn. Sau hơn 30 năm hoạt động xuất khẩu lao động đã có sự phát triển mạnh mẽ, mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, nhiều nhất tại các thị trường: Đài LoanNhật Bản, MalaysiaHàn Quốc. (…)

Kỳ vọng từ những cơ hội mới

Theo đánh giá của Cục Quản lý lao động ngoài nước, với tốc độ tăng trưởng giai đoạn vừa qua, đặc biệt là năm 2017, năm 2018 hứa hẹn sẽ có thêm nhiều cơ hội cho người lao động. Bên cạnh việc phái cử lao động phổ thông, thì cánh cửa tiếp nhận lao động có trình độ cao của Việt Nam cũng ngày càng rộng mở. (…)

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu lao động thời gian tới

Thực tế cho thấy có nhiều cơ hội đang mở ra đối với người lao động xuất khẩu ra nước ngoài ở Việt Nam, song với mỗi thị trường lại có những yêu cầu khác nhau từ quy trình, thủ tục, các điều kiện tuyển dụng, yêu cầu về trình độ ngoại ngữ… nên người lao động cần có sự chủ động nắm bắt cơ hội và trang bị về mặt kỹ năng, trình độ tay nghề của bản thân để có thể phù hợp với công việc mình lựa chọn. Thông thường với những thị trường tốt thì mức chi phí để xuất khẩu cũng cao hơn và những thị trường có thu nhập cao thì các tiêu chuẩn thường khắt khe hơn. (…)

Dự báo nhu cầu lao động có chuyên môn cao tại nhiều nước trong thời gian tới là khá lớn, chính vì vậy, Việt Nam cần phải chuẩn bị tốt nguồn nhân lực chất lượng cao, có chuyên môn phù hợp để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cạnh tranh quốc tế trong điều kiện hội nhập. (…) Có như vậy hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam mới có thể phát triển bền vững và đảm bảo đúng mục tiêu mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước và góp phần giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho nhiều người dân./.

 

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

 

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước xác định là con đường tất yếu để Việt Nam phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Những năm gần đây với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực đã giúp cho nền kinh tế nước ta đạt được nhiều thành quả quan trọng. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển dài hạn và bền vững.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn – những chuyển biến tích cực

Những năm qua, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao dần tỷ trọng ngành nghề phi nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giúp cho đời sống của bộ phận dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn cũng đã được khắc phục đáng kể. Với xấp xỉ 65% dân số ở nông thôn (số liệu thống kê năm 2017 có 60,8 triệu người ở khu vực nông thôn trong số 93,7 triệu dân), khu vực nông thôn vẫn là một nguồn lực quan trọng và là thị trường chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.(…)

Hạn chế và một số giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Có thể thấy, mặc dù có sự chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn song kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản. Trong cơ cấu kinh tế nông thôn 5 năm 2011-2016, bình quân mỗi năm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ giảm được 1,7 điểm phần trăm về tỷ trọng hộ và 1,6 điểm phần trăm tỷ trọng lao động. Hộ có thu nhập lớn nhất từ nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng chỉ giảm được 1,8 điểm phần trăm. (…)

Kết quả từ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thời gian qua đã tạo ra những tiền đề vật chất tốt, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Thời gian tới, với xu thế hội nhập kinh tế sâu và rộng, việc giữ vững và phát huy những thành quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn cần tiếp tục được đẩy mạnh và phát huy hơn nữa./.

Thu Hòa

 

TRUNG QUỐC: PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP TRUNG VÀO CHẤT LƯỢNG

Trúc Linh

 

Theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ XIX, Trung Quốc đặt ra mục tiêu mới, coi cải cách, mở cửa là con đường để xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, văn minh, hài hòa, tươi đẹp; đồng thời đặt ra những yêu cầu mới, phát triển nền kinh tế hiện đại, tập trung vào chất lượng và năng suất.

Chuyển từ phát triển nhanh sang phát triển chất lượng cao

Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/2017) đã xác lập Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới với mục tiêu đến năm 2035 cơ bản hoàn thành hiện đại hóa, trở thành cường quốc hiện đại hóa vào giữa thế kỷ XXI. (…)

Thành tựu và triển vọng phát triển kinh tế Trung Quốc

Trong những năm gần đây, tăng trưởng Trung Quốc đang có xu hướng chuyển từ giai đoạn tăng trưởng nhanh sang giai đoạn tăng trưởng cao trung bình. Trong giai đoạn  1979 -2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đạt  9,8% trong khi kinh tế ở cùng thời điểm chỉ tăng trưởng 2,8%. Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế trong giai đoạn trước đã kéo theo việc sử dụng quá mức nguồn tài nguyên gây ô nhiễm môi trường và sản xuất dư thừa. Kể từ năm 2012, Trung Quốc đã kìm chế nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện cấu trúc nền kinh tế theo hướng chất lượng và hiệu quả. (…)

(…)Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2018 nhấn mạnh chủ trương và giải pháp thực hiện chủ trương kinh tế “tiến lên trong ổn định”: Thúc đẩy cải cách cơ cấu trọng cung; đẩy mạnh xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia; đi sâu cải cách trong các lĩnh vực then chốt; đánh thắng 3 “trận chiến” công kiên; thực hiện chiến lược chấn hưng nông thôn, chiến lược phát triển phối hợp vùng miền; mở rộng tiêu dùng và thúc đẩy đầu tư hiệu quả; thúc đẩy bố cục mới mở cửa toàn diện... để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2018 sẽ là 6,5%./.

 

 

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 5/2018 (530)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 3/2018 (528)