English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2017 (526)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 12/2017 (526)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Đại hội đại biểu Công đoàn Bộ Kế hoạch và Đầu tư lần thứ 24, nhiệm kỳ 2017  - 2022

Hội nghị tổng kết Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 và tập huấn nghiệp vụ thống kê nông, lâm nghiệp và thủy sản

Cục Thống kê Hà Nội: Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018 và đáng giá kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017

Hoạt động phổ biến, cung cấp thông tin thống kê năm 2017: Tỷ lệ hài lòng của người dùng tin tăng đáng kể

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tổng quan kinh tế - xã hội cả nước năm 2017

Doanh nghiệp Nhà nước trước yêu cầu đổi mới

¨ ThS. MAI THỊ CHÂU LAN

Nông sản Việt Nam nỗi lo về rào cản thương mại

¨ TS. NGUYỄN VĂN GIAO

Phát triển hệ thống an sinh xã hội

¨ TS. PHẠM NGỌC YẾN

Việt Nam: Bất bình đẳng tiền lương có xu hướng giảm

¨ ThS. LỘ THỊ ĐỨC

Cách mạng công nghiệp 4.0 với giáo dục đại học Việt Nam

¨ TS. CẢNH CHÍ HOÀNG - ThS. NGUYỄN THANH AN

Thực trạng công nghiệp hỗ trợ thành phố Hà Nội

¨ ThS. ĐỖ THÚY NGA

Vài nét về kết quả sơ bộ TĐT Kinh tế năm 2017 của Hải Dương

¨ TĂNG BÁ PHÚC

Quảng Ninh: Thu hút đầu tư giải pháp phát triển kinh tế

¨ NGUYỄN THANH BÌNH

 

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN NĂM 2016

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản: Thành tựu và hạn chế

¨ B.T

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Thấy gì về tỷ lệ GNI/GDP của Việt Nam thời gian qua

¨ NGUYỄN KIM ANH

Các phương pháp tính chỉ số niềm tin người tiêu dùng

¨ ThS. HOÀNG THỊ THANH HÀ

QUỐC TẾ

Thế giới trước làn sóng bảo hộ thương mại

¨ HIỀN MINH

VUI VUI… THỐNG KÊ

THANH HÓA – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Hạ tầng giao thông Thanh Hóa đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội

¨ TRẦN VĂN HẢI

Huyện Tĩnh Gia: Phát triển kinh tế gắn với đô thị hóa

¨ HỒ ĐÌNH TÙNG

Nguyên Bình: Nỗ lực xây dựng Nông thôn mới

Bình Minh: xây dựng xã chuẩn văn hóa nông thôn mới giai đoạn 2015-2017

Xã Mai Lâm chú trọng phát triển kinh tế, ổn định đời sống cho nhân dân

Huyện Thọ Xuân: những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội

Ngọc Lặc: quyết tâm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội

 

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 12/2017

 

HỌP BÁO CÔNG BỐ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ - XÃ HỘI CẢ NƯỚC NĂM 2017

 

Chiều ngày 27/12/2017, tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tổ chức Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2017. Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK chủ trì buổi họp.

Tham dự buổi họp có các Phó Tổng cục trưởng TCTK: Ông Phạm Quang Vinh, Ông Vũ Thanh Liêm; đại diện lãnh đạo và chuyên viên một số đơn vị thuộc cơ quan TCTK; đại diện các Bộ, ngành có liên quan; và các cơ quan báo chí, truyền thông.

Tại cuộc họp, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK đã trình bày báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2017. Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế năm 2017 có nhiều khởi sắc với tốc độ tăng quý sau cao hơn quý trước ở hầu hết các ngành, lĩnh vực (…). Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức: Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế chậm; Năng lực cạnh tranh còn hạn chế; Giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; Thiên tai, lũ lụt gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời song người dân; Ô nhiễm môi trường, an toàn, vệ sinh thực phẩm còn diễn biến phức tạp...

Để hoàn thành tốt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 đã được Quốc hội thông qua (GDP tăng 6,5-6,7%, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 7-8%...), cần tập trung vào một số nội dung: Điều hành chính sách tài chính, tiền tệ chủ động, linh hoạt góp phần ổn định thị trường tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; Tăng cường kỷ luật tài chính, thực hiện nghiêm các luật thuế, phí và lệ phí; Triển khai công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư công; Chủ động bám sát diễn biến thời tiết để hạn chế tối đa ảnh hưởng của thiên tai, bão, lũ tới sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Khuyến khích nhu cầu tiêu dùng trong nước, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu, góp phần duy trì tăng trưởng chế biến, chế tạo; Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng, đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng.

Cũng trong buổi họp báo, TCTK đã dành thời gian giải đáp thỏa đáng câu hỏi của các phóng viên và làm rõ một số vấn đề liên quan đến số liệu thống kê kinh tế - xã hội cả nước năm 2017./.

Thu Hường

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI

ThS. Mai Thị Châu Lan

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Trong hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Mặc dù đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp quan trọng trong cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, song khu vực này vẫn bộc lộ những hạn chế cần thay đổi để phù hợp trong tình hình mới. Vì vậy, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Đây được coi là bước đột phá mới góp phần nâng cao hiệu quả DNNN trước yêu cầu đổi mới.

Yêu cầu cấp bách phải đổi mới

DNNN có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế Nhà nước. Cùng với cơ chế, chính sách của Nhà nước, DNNN đã trở thành công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, đối phó với những biến động thị trường, kiềm chế lạm phát; đóng góp lớn trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; góp phần quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh và thực hiện chính sách bảo đảm an sinh xã hội.

Cơ cấu lại DNNN còn chậm

Thực hiện Nghị quyết Đại hội X và XI, từ năm 2006 đến nay, nhiều bộ, ngành, địa phương đã tập trung chỉ đạo việc cơ cấu lại DNNN. Số liệu của Ban chỉ đạo và đổi mới doanh nghiệp cho biết, tính đến hết năm 2016, cả nước đã cổ phần hóa được 4.506 DNNN, trong đó có 1 tập đoàn kinh tế, 47 tổng công ty Nhà nước và nhiều DNNN có quy mô lớn, có ngành nghề kinh doanh quan trọng. Trong năm 2016, các DNNN đã thoái được gần 4,5 nghìn tỷ đồng (giá trị sổ sách), thu về trên 7, 1 nghìn tỷ đồng (bằng 1,58 lần giá trị sổ sách), trong đó có Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước, Tổng công ty Lương thực miền Bắc, 8 tổng công ty thuộc Bộ Xây dựng và TP Hà Nội đã thực hiện bán phần vốn Nhà nước không cần nắm giữ tại doanh nghiệp khác. (…)

Tạo đột phá mới

Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã xác định rõ quan điểm chỉ đạo của quá trình cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN. Đó là: “DNNN tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. DNNN phải thật sự hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định pháp luật. Bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của DNNN...” (…)

Để thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo và mục tiêu nói trên, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương và toàn xã hội phải triển khai đồng bộ, kiên quyết và triệt để 5 nhóm giải pháp sau:

Một là, tập trung xử lý dứt điểm các DNNN không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, kể cả bằng biện pháp giải thể, phá sản. (…)

Hai là, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để DNNN thật sự vận hành theo cơ chế thị trường. (…)

Ba là, xây dựng và áp dụng khung quản trị doanh nghiệp với các nguyên tắc phù hợp với chuẩn mực quốc tế tại các DNNN. (…)

Bốn là, hoàn thiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với DNNN, bảo đảm quyền tự chủ của DNNN trong hoạt động theo nguyên tắc thị trường; khẩn trương hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. (…)

Năm là, đổi mới mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng tại DNNN. (…)

Với những nhóm giải pháp trên, hy vọng rằng khối DNNN sẽ tạo ra những đột phá mới, đi vào hiệu quả, thực chất và đóng góp tích cực hơn nữa cho sự phát triển của đất nước./.

 

SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ

 

Theo Kết quả Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 của Tổng cục Thống kê, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt được nhiều thành tựu đáng kể, qua đó góp phần khẳng định vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển chung của kinh tế - xã hội cả nước, là đòn bẩy để ngành nông nghiệp trong nước hội nhập kinh tế quốc tế.

Trước hết là sản xuất đang được cơ cấu lại về hình thức tổ chức và quy mô sản xuất. Trong giai đoạn 2011-2016, để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ đã ban hành Nghị định 210/2013/NĐ – CP trong đó có nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể. Về hỗ trợ đầu tư bao gồm: Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường và áp dụng khoa học công nghệ; hỗ trợ đầu tư cơ sở giết mổ gia súc gia cầm; cơ sở chăn nuôi gia súc; trồng cây dược liệu, nuôi trồng hải sản trên biển; cơ sở sấy lúa, ngô, khoai, sắn, sấy phụ phẩm, thủy sản, chế biến cà phê; cơ sở chế tạo, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản; chế biến gỗ rừng trồng đặc thù cho các tỉnh Tây Bắc và các tỉnh có huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Bên cạnh đó, để hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; miễn tiền thuê đất xây dựng kho thóc chứa; hỗ trợ tín dụng cho thu mua tạm trữ... (…)

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả trên, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 5 năm của giai đoạn 2011-2016 cũng vẫn còn tồn tại một số hạn chế.

Mặc dù sản xuất được cơ cấu lại theo hướng mở rộng quy mô, nhưng sản xuất nhỏ vẫn phổ biến. Số doanh nghiệp và hợp tác xã tăng, số hộ liên tục giảm, nhưng đến nay hộ vẫn là đơn vị sản xuất cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn, chiếm 99,89% trong tổng số 9,29 triệu đơn vị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản có tại thời điểm 01/7/2016. (…)

Tuy việc đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa sản xuất được chú trọng và đẩy mạnh song còn hạn chế. Sản lượng sản phẩm sản xuất theo Quy trình VietGAP và tương đương trong 12 tháng trước thời điểm 01/7/2016 chiếm tỷ trọng rất nhỏ: Sản lượng rau chỉ đạt 175,4 nghìn tấn, chiếm 1,1% tổng sản lượng rau; trái cây gần 250,0 nghìn tấn, chiếm 2,8%; lúa gần 6,0 nghìn tấn, chiếm 0,01%;... (…)

Bên cạnh đó, hiệu quả của hầu hết các loại hình tổ chức sản xuất, các ngành, các lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung chưa cao. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với doanh thu thuần của các doanh nghiệp giảm từ 19,4% năm 2010 xuống 7,4% năm 2015. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế so với doanh thu thuần cũng giảm từ 15,1% xuống 6,3%. Trong tổng số 3.846 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ có 50,6% số doanh nghiệp có lãi; 9,8% số doanh nghiệp hòa vốn và 39,6% số doanh nghiệp lỗ. Trong 6.946 hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng có tới 17,3% hòa vốn và 10,1% lỗ.

Những hạn chế nêu trên đang là thách thức không nhỏ đối với quá trình phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của nước ta đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách hữu hiệu hơn nữa để phát triển bền vững ngành nông nghiệp trong thời gian tới./.

 

THẤY GÌ VỀ TỶ LỆ GNI/GDP CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

                        Nguyễn Kim Anh

Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tỷ lệ thu nhập quốc gia so với tổng sản phẩm trong nước (GNI/GDP) là chỉ tiêu phản ánh thu nhập thực của một quốc gia từ việc sở hữu các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất so với sản phẩm cuối cùng được tạo ra trên lãnh thổ của quốc gia đó, tỷ lệ này nhỏ hơn 100% biểu thị một phần của GDP được tạo ra trong nền kinh tế phải trả cho bên ngoài dưới dạng thu nhập sở hữu ( sở hữu vốn, lao động...), cũng phản ánh mức độ phụ thuộc của nền kinh tế đối với nguồn lực tài chính và lao động ở bên ngoài.  (…)

Có thể thấy khá rõ, sự phụ thuộc về nguồn lực tài chính là rất lớn khi vố đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Tính lũy kế từ khi Việt Nam có Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội ban hành từ 31/12/1987 đến nay ( 31/12/2016), đã có 341,6 tỷ USD vốn đăng ký; trong khi Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng thời gian trên chỉ có 21,7 tỷ USD vốn đăng ký, bằng 6,3% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; chưa kể các dự án đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam và của Việt Nam ra nước ngoài đều  cần thời gian thực hiện nhiều năm mới đưa vào hoạt động. (…)

Với Luật Đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tranh thủ vốn và kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm và phương pháp quản lý tiên tiến, đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật cao và đội ngũ cán bộ quản lý giỏi; Tạo chỗ đứng ngày càng vững chắc trong phân công lao động quốc tế để tạo nên một thế mạnh trên thị trường thế giới; Khai thác tài nguyên của đất nước có hiệu quả, tạo thêm công ăn việc làm, đẩy mạnh các xuất khẩu dịch vụ thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, thì cũng cần phải thận trọng để các dự án không tác động đến môi trường, phải chú ý tới hiệu quả các các dự án vào các ngành, lĩnh vực theo hướng thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Và để tăng trưởng GDP bền vững thì không thể kéo dài mãi tỷ lệ phụ thuộc của nền kinh tế nước ta với nước ngoài như hiện nay./.

THẾ GIỚI TRƯỚC LÀN SÓNG BẢO HỘ THƯƠNG MẠI

 

Năm 2017 là năm có nhiều thách thức với làn sóng bảo hộ thương mại trên thế giới. Từ việc nước Anh rời khỏi thị trường chung châu Âu (EU), Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đến hàng loạt biện pháp bảo hộ hàng hóa của các nước. Xu hướng này được dự báo là có thể sẽ làm dấy lên một cuộc cạnh tranh thương mại mới, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Bảo hộ thương mại là sự áp đặt một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ hay việc áp thuế suất nhập khẩu cao đối với mặt hàng nhập khẩu nào đó để bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Bảo hộ thương mại thường kèm theo những ưu điểm như: Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu; tăng sức cạnh tranh của nhà sản xuất trên thị trường nước ngoài; bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, giúp họ tăng sức cạnh tranh trên thị trường nội địa; điều tiết cán cân thanh toán quốc tế và quốc gia, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ thanh toán của mỗi nước. Tuy nhiên, bảo hộ thương mại cũng sẽ là nguyên nhân khiến cho hàng hóa kém đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng và chất lượng cũng như giá cả đắt đỏ hơn so với tự do thương mại, gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Đặc biệt, theo các chuyên gia kinh tế, ảnh hưởng của xu thế bảo hộ thương mại hiện nay chính là việc gây ra sự cô lập kinh tế của một nước trong xu thế toàn cầu hóa. Gây tình trạng trì trệ của kinh doanh nội địa, càng bảo hộ mạnh thì ngành công nghiệp càng kém linh hoạt, khiến hoạt động đầu tư và kinh doanh không còn hiệu quả. (…)

Trước những thách thức từ sự trỗi dậy của bảo hộ thương mại trên thế giới, các doanh nghiệp Việt cũng đang phải đối mặt với không ít các vụ kiện phòng vệ thương mại, trong đó phần lớn là vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp. Điều này đặt nặng trách nhiệm lên các doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh đó đòi hỏi sự phối hợp giải quyết từ phía Chính phủ và doanh nghiệp. Chính vì vậy, Chính phủ, các Bộ, ngành cần theo dõi tình hình, dự báo kịp thời và chuẩn bị các giải pháp ứng phó để chủ động với các tình huống, nhằm hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm lợi ích dân tộc, đồng thời thích ứng với xu hướng mới của thế giới. Trong khi đó, các doanh nghiệp cần phải quen dần với xu thế phòng vệ thương mại, vì xu thế bảo hộ ở các thị trường nhập khẩu là rõ ràng. Cùng với đó, các doanh nghiệp Việt cũng cần cải tiến sản xuất theo hướng đầu tư công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, để đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu. Đồng thời, chủ động tìm kiếm thị trường mới, cân đối trong cơ cấu thị trường xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào thị trường lớn và có xu hướng bảo hộ thương mại./.

Hiền Minh

 

HẠ TẦNG GIAO THÔNG THANH HÓA: ĐÒN BẨY PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI

                    Trần Văn Hải

Giám đốc Sở Giao thông vận tải Thanh Hóa

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có mạng lưới giao thông vận tải đa dạng, với đầy đủ các lĩnh vực gồm đường bộ, đường sắt, hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách, với khoảng 60 triệu tấn hàng hóa/năm, 50 triệu hành khách/năm, tổng doanh thu vận tải 10.000 tỷ đồng/năm. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông Thanh Hóa đã tạo ra “chất xúc tác” nhằm thu hút đầu tư, là đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh.

Hiện toàn tỉnh có khoảng 24 nghìn km đường bộ, đứng tốp đầu cả nước về chiều dài quốc lộ đi qua địa bàn, với 13 tuyến quốc lộ dài 1.300 km. Đặc biệt, tất cả 27 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều có quốc lộ đi qua, trong đó có nhiều tuyến đường quan trọng của quốc gia như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Bắc - Nam, đường ven biển. (…)

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ngành Giao thông vận tải Thanh Hóa xác định rõ vai trò luôn “đi trước, mở đường”. Theo đó, Ngành đặc biệt chú trọng công tác quy hoạch, coi đây là một trong những khâu quan trọng, làm cơ sở để định hướng và triển khai thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh. Theo Hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Thanh Hóa sẽ ưu tiên đầu tư phát triển toàn diện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, bao gồm cả đường bộ, đường thuỷ nội địa, cảng biển, hàng không, đường sắt và giao thông nông thôn. Trong đó, đối với đường bộ, sẽ phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ GTVT đẩy nhanh đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc qua địa bàn tỉnh Thanh Hóa dài 92Km; đồng thời, đầu tư nâng cấp các tuyến quốc lộ 217, 217B, 47B và các tuyến quốc lộ khác trên địa bàn tỉnh đạt tiêu chuẩn tối thiểu từ cấp IV, 2 làn xe trở lên. Riêng quốc lộ 45 và quốc lộ 47 sẽ đầu tư theo hình thức PPP... (…)

Với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, Ngành đã áp dụng nhiều giải pháp như: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tập trung nguồn vốn hoàn thành các công trình trọng điểm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong thiết kế, thi công, khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông, góp phần tăng hiệu quả đầu tư công trình…/.

 

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2017 (525)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2017 (524)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2017 (523)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2017 (522)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2017 (521)