English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2017 (525)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 11/2017 (525)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Sử dụng số liệu thống kê mang ý nghĩa định hướng dư luận xã hội

Đoàn khảo sát cơ quan thống kê Băng-la-đét sang thăm và làm việc với Tổng cục Thống kê

Hội thảo Tổng kết điều tra thí điểm của Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019

KINH TẾ - XÃ HỘI

Kinh tế - xã hội cả nước 11 tháng năm 2017

Năm APEC 2017: Dấu ấn thế và lực mới của Việt Nam

¨ THU HƯỜNG

Xuất nhập khẩu – điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam

¨ ThS. LƯU THỊ DUYÊN

Kinh tế chia sẻ: Mô hình kinh tế mới trong thời đại CMCN 4.0

¨ ThS. TRẦN THANH TÙNG

Nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách xã hội

¨ ThS.TÔ LAN PHƯƠNG

Xu hướng của lao động phi chính thức và những bài toán đặt ra

¨ NGỌC LINH

Đào tạo nhân lực ngành du lịch trong hội nhập

¨ ThS. BÙI THỊ KIM CÚC

Bắc Ninh: Nâng cao năng lực của chính quyền cấp xã

¨ TS. PHẠM THỊ VÂN ANH

Nước thải Hà Nội – những vấn đề đặt ra

¨ ThS. ĐINH THỊ NHƯ TRANG

 

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN NĂM 2016

Kết cấu hạ tầng nông thôn – những cái tiến tích cực, nhìn từ kết quả TĐT NT, NN&TS năm 2016

¨ THU HÒA

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh): Nâng cao chất lượng phổ biến thông tin thống kê nhà nước

¨ VÕ VĂN THANH

QUỐC TẾ

APEC 2017: Tạo động lực mới, thúc đẩy tương lai chung

¨ TIẾN LONG

VUI VUI… THỐNG KÊ

NGÀNH GIÁO DỤC HÀ NỘI – ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

Quận Nam Từ Liêm: phát triển giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm

Trường THCS Đại Mỗ: Củng cố và phát huy thành tích của trường chuẩn quốc gia

Trường Tiểu học Lý Nam Đế: Môi trường học tập và phát triển toàn diện

Trường PTTH Lê Quý Đôn: Phấn đấu không ngừng cho sự nghiệp trồng người

 

THANH HÓA – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Nông nghiệp Thanh Hóa – hội nhập và phát triển

¨ LÊ NHƯ TUẤN

Hoằng Hóa: Phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020

¨ LÊ ĐỨC GIANG

Vĩnh Lộc: Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội toàn diện

Quảng Xương: Gấp rút hoàn thành xây dựng nông thôn mới trong năm 2017

Huyện Như Thanh: đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

Thị trấn Nga Sơn tích cực xây dựng đô thị văn minh

Phú Lộc: Lá cờ đầu trong xây dựng nông thôn mới

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 11/2017

 

SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ MANG Ý NGHĨA

ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI

 

PV: Thời gian qua, một số Đại biểu Quốc hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng, một số nhà nghiên cứu, nhà kinh tế… có những phát biểu về chất lượng biên soạn chỉ tiêu GDP. Sau các ý kiến này, cộng đồng mạng có nhiều bình luận, đôi khi có chiều hướng cảm tính phủ nhận số liệu của Hệ thống thống kê Nhà nước. Ông bình luận gì về vấn đề này?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Tổng cục Thống kê nhận thức rất rõ và cũng không ít lần lãnh đạo ngành Thống kê công khai thừa nhận, thực tế số liệu thống kê hiện nay vẫn còn một số bất cập, cần quan tâm mổ xẻ để có giải pháp khắc phục trong thời gian tới, như việc triển khai thực hiện đề án Đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương; chủ động nghiên cứu, thu thập thêm thông tin để có bức tranh đầy đủ hơn, toàn diện hơn về tình hình kinh tế - xã hội; hay việc xây dựng chương trình trung hạn, dài hạn về đào tạo, đào tạo lại... Tuy nhiên có thể nói, trong hoạt động thống kê, chất lượng số liệu thống kê phụ thuộc vào nhận thức, tinh thần trách nhiệm và thái độ ứng xử của ba nhóm chủ thể có liên quan mật thiết với nhau: Nhóm cung cấp thông tin cho ngành Thống kê; Nhóm sản xuất và công bố thông tin thống kê và Nhóm sử dụng thông tin thống kê.

Để có số liệu thống kê cung cấp cho Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và phổ biến cho các nhà nghiên cứu, người dùng tin, cơ quan thống kê đã và đang xây dựng, triển khai các hình thức thu thập thông tin phù hợp với từng loại đối tượng cung cấp thông tin. Chẳng hạn, thông tin về thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình được thu thập qua hình thức điều tra chọn mẫu thống kê; thông tin về đầu tư và kết quả sản xuất của các doanh nghiệp, dự án đầu tư nước ngoài thu được qua chế độ báo cáo thống kê,…

Tôi khẳng định, hiện Ngành Thống kê đang áp dụng phương pháp thống nhất trong xử lý, tính toán để đảm bảo tính nhất quán của các chỉ tiêu thống kê theo thời gian, so sánh được với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, để số liệu thống kê đạt chất lượng thì việc sử dụng phương pháp thống kê khoa học, tiên tiến... là chưa đủ mà thông tin đầu vào mới chính là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng số liệu thống kê. Nhưng có một thực tế, nhận thức và trách nhiệm cũng như việc chấp hành Luật Thống kê của một bộ phận doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, các đơn vị hành chính, sự nghiệp thuộc Nhóm cung cấp thông tin cho ngành Thống kê còn chưa tốt. Do đó, nhiều thông tin cung cấp không sát với thực tế, chưa phản ánh đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và không kịp thời vào thời điểm cơ quan thống kê cần có số liệu. Bên cạnh đó, nguồn thông tin của một số Bộ, ngành còn khép kín, việc chia sẻ thông tin cho cơ quan thống kê còn có những bất cập, gây khó khăn cho việc đánh giá, phân tích và dự báo tình hình.

Ngoài ra, tôi cũng muốn đề cập tới trách nhiệm của người sử dụng thông tin thống kê. Năm 2007, tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), các nhà quản lý, xây dựng chính sách phát triển, các nhà nghiên cứu và những người làm thống kê của trên 100 quốc gia trên thế giới đã họp Hội nghị với chủ đề: “Thống kê - Tri thức - Chính sách” để thảo luận các giải pháp nhằm biến thông tin thống kê thành tri thức của người dùng tin và được họ sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách phát triển đất nước. Cộng đồng quốc tế tổ chức Hội nghị này để một mặt đề cao tầm quan trọng của thông tin thống kê; mặt khác muốn gửi thông điệp chủ yếu, đó là trách nhiệm của người sử dụng số liệu thống kê phải hiểu các con số thống kê phản ánh gì, từ đó đề ra những chính sách cho phù hợp.

Tôi nêu một ví dụ: Tháng 9/2012, khi Tổng cục Thống kê công bố CPI tăng 2,2% so với tháng 8/2012, cao hơn rất nhiều CPI của các tháng trước đó (tháng 5/2012 tăng 0,18%, tháng 6/2012 giảm 0,26%, tháng 7/2012 giảm 0,29%, tháng 8/2012 tăng 0,63%), một số người dùng tin chưa kịp tìm hiểu nguyên nhân đã vội phê phán phương pháp tính CPI của Tổng cục Thống kê. Thực tế lúc đó, nhiều tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh giá dịch vụ y tế làm cho CPI cả nước tăng đột biến.

Chính vì vậy, thái độ công bằng, bình tĩnh xem xét và thể hiện chính kiến của mình về số liệu thống kê của người sử dụng có tri thức mang ý nghĩa định hướng rất lớn đối với dư luận xã hội.

PV: Ông đã khẳng định rõ ngành Thống kê đang áp dụng phương pháp thống nhất trong xử lý, tính toán để đảm bảo tính nhất quán của các chỉ tiêu thống kê theo thời

gian, so sánh được với các nước trong khu vực và trên thế giới, vậy Ông có thể làm rõ hơn ý kiến của Đại biểu QH về việc “Tăng trưởng các quý cuối năm rất cao nhưng sang quý I đầu năm sau liền kề giảm xuống rất nhanh và đột ngột…”?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Tăng trưởng GDP của nước ta trong quý I thường thấp, sau đó tăng lên trong những quý tiếp theo có nguyên nhân chủ yếu do hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam đang chịu ảnh hưởng rất lớn từ yếu tố mùa vụ (nghỉ Tết, đầu tư, xây dựng nhà ở, sản xuất nông nghiệp theo mùa, các lễ hội, mùa du lịch và cả về thủ tục hành chính…), thể hiện trên một số yếu tố sau:

Thứ nhất, thực hiện vốn đầu tư đạt thấp trong những tháng đầu năm. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn trước đây và hiện nay phần lớn phụ thuộc vào vốn đầu tư (yếu tố vốn đầu tư luôn đóng góp gần 50% vào tăng trưởng GDP), phần còn lại là đóng góp của yếu tố lao động và các nhân tố tổng hợp (TFP).

Những năm qua, vốn đầu tư thực hiện (trong đó có đầu tư công chiếm khoảng 23-25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) có xu hướng tăng dần qua các quý, trong đó quý I thường đạt thấp do những tháng đầu năm có kỳ nghỉ Tết cổ truyền kéo dài, tâm lý người Việt trong những ngày gần Tết và sau Tết không tập trung nhiều cho đầu tư sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, theo thói quen người dân, việc đầu tư xây dựng nhà ở của dân cư cũng thường thực hiện vào những tháng cuối năm.

Đối với nguồn vốn đầu tư công (bao gồm ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư phát triển), trong những tháng đầu năm bên cạnh thủ tục, quy trình phân bổ nguồn vốn này thường chậm, các chủ dự án, công trình cũng tập trung hoàn tất các thủ tục để thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong năm, do đó vốn đầu tư thực hiện thường đạt thấp trong những tháng đầu năm, các tháng cuối năm có xu hướng tăng để giải ngân nhanh nguồn vốn này. Cụ thể: So với kế hoạch năm, tỷ lệ thực hiện vốn đầu tư công quý I/2015 chỉ đạt 17,3%; 6 tháng đạt 42,9% và 9 tháng đạt 71,3%; các tỷ lệ tương ứng của năm 2016 là 14,4%; 35,5% và 59,8%. Năm 2017, tỷ lệ thực hiện vốn đầu tư công so kế hoạch còn đạt thấp hơn (Quý I đạt 13,8%; 6 tháng đạt 34,8%; 9 tháng đạt 59,2%) do nguồn vốn trái phiếu Chính phủ được phê duyệt và giải ngân rất chậm. Do đó, việc thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong quý I và những tháng đầu năm đạt thấp và có xu hướng tăng lên trong các quý tiếp theo là một trong những nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng GDP thường tăng trưởng chậm trong các tháng đầu năm và tăng cao hơn trong những tháng cuối năm.

Thứ hai, chi ngân sách Nhà nước quý I đạt thấp so với dự toán. Trong những năm gần đây, tỷ lệ chi ngân sách của quý I so với dự toán năm có xu hướng ngày một giảm dần. Chi đầu tư phát triển chậm sẽ tác động đến nhiều ngành kinh tế (vốn ngân sách Nhà nước được coi là vốn “mồi” để thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia); trong khi chi thường xuyên tác động trực tiếp đến các ngành và hoạt động như: Quản lý Nhà nước, khoa học công nghệ, y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, nghệ thuật. Điều này cũng làm cho tăng trưởng GDP của quý I thường thấp hơn các quý cuối năm.

Thứ ba, dư nợ tín dụng có xu hướng tăng dần qua các quý. Những năm vừa qua, dư nợ tín dụng (so với tháng 12 năm trước) có xu hướng tăng dần qua các quý đã phản ánh thực trạng sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng có xu hướng tăng qua các quý. Ví dụ: Năm 2015, tốc độ tăng dư nợ tín dụng quý I tăng 2,65%, quý II tăng 7,86%, quý III tăng 12,12% và quý IV tăng 17,26%; Tương tự, năm 2016 lần lượt là: 3,04%, 8,21%, 11,64% và 18,25%; Năm 2017: 4,37%, 9,01%, 11,02% và quý IV dự kiến là 21%.

PV: Tuy nhiên cũng có ý kiến “GDP quý I thấp do nghỉ Tết, nhưng bù lại tăng tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư”, Ông có ý kiến về vấn đề này ra sao?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (quý, 6 tháng, 9 tháng, năm). Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giá hiện hành và giá so sánh cho từng quý và cả năm thông qua Phương pháp sản xuất và Phương pháp sử dụng (2 phương pháp).

Theo phương pháp sản xuất, GDP được tính bằng Tổng giá tăng thêm theo giá cơ bản của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm. Việc tiêu dùng tăng lên trong dịp Tết sẽ tác động chính tới một số ngành dịch vụ (bán lẻ, vận tải, bưu chính viễn thông, văn hóa, vui chơi, giải trí…), nhưng các ngành sản xuất vẫn bị ảnh hưởng do phần lớn các sản phẩm phục vụ Tết chủ yếu được sản xuất cuối năm trước, khu vực hành chính, giáo dục thường được nghỉ dài ngày trong dịp Tết cổ truyền.

Bên cạnh đó, theo phương pháp sử dụng, GDP bằng tổng của 3 yếu tố: Tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư và Nhà nước; tích lũy tài sản (cố định, lưu động và quý hiếm) và chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, trong quý I ngoại trừ tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình tăng (tiêu dùng cuối cùng tăng làm GDP tăng), hoạt động đầu tư và xuất khẩu những tháng đầu năm đạt thấp đã ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP (làm GDP tăng thấp).

PV: Xin Ông cũng làm rõ thêm một số ý kiến về tăng trưởng của ngành thủy sản 9 tháng năm 2017, cụ thể: Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giá trị tăng thêm ngành thủy sản đạt mức tăng cao nhất với 5,42% so với cùng kỳ năm 2016, nhưng sản lượng thủy sản 9 tháng chỉ tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước…?

TS.Nguyễn Bích Lâm: Sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng đầu năm 2017 tăng 4,2% so cùng kỳ trong khi đó giá trị sản xuất (bằng sản lượng mỗi loại thủy sản nhân với đơn giá cố định bình quân của từng loại thủy sản) tăng 5,52% do có sự thay đổi về cơ cấu sản lượng thủy sản nuôi trồng, trong đó sản lượng tôm tăng cao ở mức tăng 8% so với cùng kỳ năm trước (đơn giá bình quân 1 kg tôm sú là 120,5 nghìn đồng; tôm thẻ là 75,8 nghìn đồng, trong khi cá các loại chỉ khoảng 9 nghìn đồng/kg).

Trong 9 tháng năm nay, tôm sú và tôm thẻ chân trắng là sản phẩm có giá cố định cao hơn nhiều so với các sản phẩm thủy sản khác tăng trưởng khá: Sản lượng tôm sú chiếm 7% và tôm thẻ chiếm 9,9% trong tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng nhưng về giá trị thì tôm sú chiếm tới 26% và tôm thẻ chân trắng chiếm 23,2% tổng giá trị thủy sản nuôi trồng trong 9 tháng (theo giá so sánh). Điều này cho thấy, tôm sú và tôm thẻ chân trắng có mức đóng góp về giá trị cao hơn hẳn mức đóng góp về sản lượng, đồng thời lý giải vì sao sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2017 chỉ tăng 4,5% nhưng giá trị tăng thêm của ngành thủy sản tăng 5,42%.

Số liệu thống kê hiện nay được sử dụng với mật độ cao, Chính phủ luôn yêu cầu ngành Thống kê cung cấp thông tin sớm để đánh giá, dự báo tình hình và đề ra các giải pháp kịp thời. Điều này thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với hoạt động của Hệ thống thống kê. Đồng thời cũng đòi hỏi Tổng cục Thống kê, thống kê Bộ, ngành và địa phương phải có giải pháp phối hợp, chia sẻ thông tin nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng thông tin thống kê. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ do Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ KHĐT giao cho, ngành Thống kê luôn đề cao tính trung thực, trách nhiệm của người làm thống kê, đồng thời cần sự ủng hộ, chia sẻ của toàn xã hội trong việc cung cấp thông tin kịp thời, sát thực và rất cần sự phản biện, góp ý với tinh thần trách nhiệm của người sử dụng.

PV: Trân trọng cảm ơn Ông!

 

NĂM APEC 2017: DẤU ẤN THẾ VÀ LỰC MỚI CỦA VIỆT NAM

Thu Hường

Năm 2017, Việt Nam đã lần thứ 2 đảm nhận vai trò chủ nhà tổ chức các hoạt động của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) sau 19 năm trở thành thành viên của diễn đàn này. Điều đó thể hiện sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam, đồng thời khẳng định tầm nhìn chiến lược của nước ta về tương lai châu Á - Thái Bình Dương.

 

Những đóng góp tích cực của Việt Nam

Ngày 15/11/1998, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, mở ra một dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của đất nước trên mọi phương diện, đặt nền móng cho sự hội nhập năng động và tích cực.

Trong gần 20 năm qua, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào hợp tác Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương. Nổi bật là việc đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà Năm APEC Việt Nam 2006. Năm APEC 2006 là một sự kiện quốc tế lớn, mang đậm dấu ấn Việt Nam, với hơn 100 hoạt động mà đỉnh cao là Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 14 và đảm nhận vai trò Giám đốc điều hành Ban Thư ký APEC. Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội đã thông qua ba văn kiện có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của APEC gồm: Tuyên bố Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC lần thứ 14; Kế hoạch hành động Hà Nội để thực hiện Lộ trình Busan hướng tới hoàn thành các Mục tiêu Bogor; Tuyên bố về Chương trình nghị sự phát triển Doha của WTO. (…)

Tầm nhìn chiến lược của đối ngoại Việt Nam

Năm APEC 2017 là cơ hội quan trọng để khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của đối ngoại Việt Nam, đặc biệt là công tác đối ngoại đa phương trong giai đoạn đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng. Thành công của Năm APEC 2006 và uy tín quốc tế ngày càng cao qua việc đảm nhận tốt các trọng trách ở nhiều tổ chức, diễn đàn những năm qua đã giúp Việt Nam bước vào Năm APEC 2017 với một tâm thế mới. (…)

Nâng tầm vị thế, gia tăng lợi ích

APEC là diễn đàn khu vực hội tụ các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới và là diễn đàn liên kết kinh tế quy mô lớn nhất châu Á - Thái Bình Dương. Đối với Việt Nam, APEC là một trong những diễn đàn đa phương quan trọng và mang lại nhiều lợi ích thực chất nhất. Diễn đàn là nơi hội tụ 13 trong số 25 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện và nhiều đối tác kinh tế, thương mại hàng đầu của Việt Nam. (…)

Có thể nói, Năm APEC 2017 là một trọng tâm đối ngoại của Việt Nam và là đóng góp quan trọng nhất của nước ta đối với hợp tác APEC trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng. Cùng với việc đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và ứng cử vào Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 cũng như các nỗ lực hoàn tất các cam kết gia nhập WTO vào năm 2018, việc tổ chức thành công Năm APEC 2017 góp phần hiện thực hóa một chủ trương rất quan trọng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII là “nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các cơ chế đa phương” . (…)

Với thế và lực mới của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới, với sự ủng hộ, giúp đỡ qu. báu của bạn bè và đối tác trong và ngoài Diễn đàn, Năm APEC Việt Nam 2017 đã kết thúc thành công tốt đẹp, được các tổ chức trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, khẳng định tầm nhìn và vị thế mới của đất nước./.

 

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP

 

ThS. Bùi Thị Kim Cúc

 

Năm 2016, lần đầu tiên Việt Nam đón trên 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm trước, gấp 2 lần lượng khách quốc tế đến nước ta năm 2010. Đây là con số khá ấn tượng cho sự phát triển vượt bậc của ngành công nghiệp không khói ở nước ta. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển của Ngành hiện đang kéo theo nhu cầu ngày càng gia tăng về nguồn nhân lực. Bài toán về đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho ngành du lịch đang đối diện với nhiều khó khăn, thách thức.

Nhu cầu nguồn nhân lực tăng cao và sự bất cập trong đào tạo

Với tốc độ tăng trưởng khoảng 7%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020, du lịch là ngành được đánh giá có nhu cầu nhân sự cao gấp 2 - 3 lần so với một số ngành trọng điểm khác như giáo dục, y tế, tài chính... Mỗi năm ngành du lịch cần 40 nghìn lao động, tuy nhiên số sinh viên tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghiệp vụ du lịch ra trường chỉ khoảng 15 nghìn người, trong đó hơn 12% trình độ ĐH, CĐ. Theo nhận định của các chuyên gia trong khoảng 5 năm tới, lực lượng lao động ngành du lịch phải tăng 20% thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển. (…)

Giải pháp trong đào tạo nhân lực ngành du lịch

Có thể thấy, khi sự cạnh tranh trong hội nhập ngày càng trở nên gay gắt thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ là giải pháp hữu hiệu nhất nhằm phát triển bền vững. Mới đây, các nước trong khối ASEAN đã đạt được sự thống nhất triển khai đầy đủ các nội dung về chuẩn hóa 32 chức danh nghề, 52 văn bằng, chứng chỉ. Theo đó, có 6 ngành nghề trong lĩnh vực du lịch được công nhận khi gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN gồm: Buồng, lễ tân, nhà hàng, chế biến món ăn, đại lý lữ hành và điều hành tour. Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp đào tạo, cách tiếp cận thông tin sao cho phù hợp với thực tế là đòi hỏi cần thiết đối với mỗi địa phương. (…)

Để đảm bảo công tác đào tạo nhân lực ngành du lịch đạt được hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu phát triển giai đoạn tới, một số giải pháp cụ thể khác được đưa ra như:

Thứ nhất, về chương trình đào tạo: Các cơ sở đào tạo cần hoàn thiện, nâng cao chương trình học theo hướng chuẩn quốc tế, phù hợp với khung tiêu chuẩn nghề VTOS, chương trình học đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của xã hội. (…)

Thứ hai, về phương pháp đào tạo: Tăng cường thời lượng thực hành, thực tế; nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. (…)

Thứ ba, về cơ sở vật chất: Để đảm bảo cho công tác đào tạo thu được hiệu quả tốt cần tăng cường đầu tư, nâng cấp và mở rộng các cơ sở đào tạo. (…)

Thứ tư, cần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, đặc biệt là về khả năng ngoại ngữ, khả năng nghiên cứu khoa học và khả năng thực hành, thực tiễn.

Thứ năm, tăng cường liên kết, hợp tác, tìm kiếm sự hỗ trợ đào tạo miễn phí cho nhân lực du lịch từ các tổ chức phi Chính phủ. Sự hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, tổ chức các khóa đào tạo dài - ngắn hạn sẽ tạo điều kiện để các giảng viên, học sinh, sinh viên học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển trên thế giới./.

 

KẾT CẤU HẠ TẦNG NÔNG THÔN – NHỮNG CẢI TIẾN TÍCH CỰC

NHÌN TỪ KẾT QUẢ TĐT NNNT&TS NĂM 2016

 

Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn được xem là khâu đột phá trong phát triển kinh tế nông thôn. Nhiều địa phương đã chủ động ban hành cơ chế hỗ trợ linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng để huy động nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này. Kết quả Cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 do Tổng cục Thống kê thực hiện cho thấy, thời gian qua, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hầu hết các cơ sở hạ tầng quan trọng như hệ thống điện, giao thông, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa, hệ thống bảo vệ môi trường của xã, thôn đã được tăng cường… tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế, bất cập cần tiếp tục được quan tâm đầu tư hơn nữa.

Một số kết quả đạt được

Trong 5 năm 2011-2016, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã triển khai có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Bộ mặt nông thôn có sự biến đổi sâu sắc, kết cấu hạ tầng ở nông thôn đã có nhiều cải tiến tích cực.

Hệ thống cung cấp điện đã vươn tới tất cả các xã và hầu hết các thôn (…)

Hệ thống giao thông nông thôn tăng cả về số lượng và chất lượng (…)

Hệ thống trường mầm non và trường phổ thông các cấp được quy hoạch lại, bảo đảm phù hợp với sự biến động về số lượng học sinh. (…)

Hệ thống thiết chế văn hóa thông tin đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tiếp cận thông tin của dân cư khu vực nông thôn. (…)

Cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông tiếp tục được tăng cường (…)

Cơ sở hạ tầng y tế ngày càng được bổ sung, hoàn thiện (…)

Hệ thống cung cấp nước sạch tiếp tục được đầu tư xây dựng (…)

Một số hạn chế, bất cập

Tuy kết cấu hạ tầng nông thôn đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn những tồn tại cần sớm được giải quyết. Kết quả Tổng điều tra cho thấy, kết cấu hạ tầng của một số địa phương vẫn còn yếu kém. Tại thời điểm 01/7/2016, trên địa bàn nông thôn còn 1.766 thôn chưa có điện; 51 xã chưa có đường ô tô từ trụ sở UBND xã đến trụ sở UBND huyện; 5.042 thôn chưa có đường ô tô tới trụ sở UBND xã; 59 xã có đường ô tô từ UBND xã đến UBND huyện nhưng không đi lại được quanh năm.

Về kết cấu hạ tầng giáo dục, còn 58 xã chưa có trường mầm non, chiếm 0,6% tổng số xã và 64 xã chưa có trường tiểu học, chiếm 0,7%. Về y tế và vệ sinh môi trường, còn 7 xã chưa có trạm y tế hoặc cơ sở y tế khác và 2.253 xã chưa có trạm y tế xây dựng kiên cố, trong đó 45 xã có trạm xây dựng tạm bằng tranh tre, nứa, lá. Tỷ lệ số xã và số thôn chưa có hệ thống thoát nước sinh hoạt chung lần lượt là 64,2% tổng số xã và 75,6% tổng số thôn./.

 

APEC 2017: TẠO ĐỘNG LỰC MỚI,

THÚC ĐẨY MỘT TƯƠNG LAI CHUNG

Tiến Long

 

Với chủ đề “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung”, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã cùng nhau bàn thảo những vấn đề quan trọng, thiết thân, nhằm tạo “động lực mới” cho tăng trưởng bền vững và liên kết khu vực, từ đó “vun đắp tương lai chung” là hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Thành tựu và dấu ấn APEC

Năm 1989 APEC ra đời vào đúng thời điểm thế giới đang trải qua những biến chuyển sâu sắc, mở ra một trang mới trong lịch sử hợp tác kinh tế của châu Á-Thái Bình Dương. Từ chỗ là khu vực bị chia cắt, APEC đã trở thành một thị trường ngày càng gắn kết, hướng tới mục tiêu chung nâng cao mức sống của người dân và sự phát triển thịnh vượng. (…)

Tạo động lực mới, hướng đến tương lai chung

Với chủ đề: “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung”, tại Hội nghị Cấp cao APEC 25, các nhà lãnh đạo và Trưởng đoàn 21 nền kinh tế thành viên APEC đã cùng nhau bàn thảo những vấn đề quan trọng trong 2 phiên họp kín mang chủ đề lần lượt là “Tăng trưởng sáng tạo, phát triển bao trùm và việc làm bền vững” và “Các động lực mới cho thương mại, đầu tư và liên kết khu vực”. Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 25 đã thông qua Tuyên bố Đà Nẵng về “tạo động lực mới, vun đắp tương lai chung”. Đây là kết quả quan trọng nhất của Hội nghị Cấp cao APEC và Năm APEC 2017, với 5 nội dung chính gồm:

Thứ nhất, thông qua Kế hoạch hành động APEC về thúc đẩy phát triển bao trùm về kinh tế, tài chính và xã hội nhằm khẳng định quyết tâm của các nền kinh tế thành viên hướng tới xây dựng cộng đồng APEC phát triển bao trùm và tự cường. Đây cũng là một nội dung quan trọng trong đối thoại giữa các nhà lãnh đạo kinh tế APEC với cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ hai, để nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và năng suất lao động của các nền kinh tế APEC, yêu cầu cấp bách đặt ra là tăng cường chất lượng giáo dục, trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng cần thiết để thích ứng tốt hơn với môi trường việc làm và thị trường lao động đang thay đổi căn bản bởi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhận thức sâu sắc về điều đó, Hội nghị đã thông qua Khuôn khổ Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số.

Thứ ba, nhằm tạo những động lực mới cho tăng trưởng bền vững và bao trùm, Hội nghị đã dành nhiều thời gian thảo luận một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng về các chính sách và biện pháp chiến lược nhằm phát triển các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, xanh, bền vững và sáng tạo; thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo; phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường an ninh lương thực - nước - năng lượng, phát triển nông thôn và đô thị; cải cách cơ cấu; nâng cao năng lực; giảm thiểu rủi ro thiên tai; tăng quyền năng kinh tế cho phụ nữ; phát triển du lịch bền vững.

Thứ tư, thúc đẩy thương mại, đầu tư tự do và mở ở châu Á - Thái Bình Dương là sứ mệnh của các nền kinh tế APEC. (…)

Thứ năm, APEC đang nỗ lực hơn bao giờ hết để hoàn tất các Mục tiêu Bogor vào năm 2020 và chuẩn bị bước vào thập niên phát triển thứ tư. (…)

Có thể nói, năm APEC 2017 đã thành công tốt đẹp, với thành tựu lớn nhất là đã duy trì được mục tiêu của APEC trong bối cảnh thế giới và khu vực có những biến động phức tạp với những chiều hướng khác nhau về kinh tế, thương mại, đầu tư..., góp phần thúc đẩy hòa bình, hợp tác và thịnh vượng của khu vực

 

NÔNG NGHIỆP THANH HÓA – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Lê Như Tuấn

Giám đốc Sở NN&PTNN Thanh Hóa

 

Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020, sản xuất nông nghiệp chiếm 73% cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản, tỷ lệ sản phẩm nông, lâm, thủy sản an toàn đạt 100%, trong đó sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 30%... những năm gần đây, ngành Nông nghiệp Thanh Hóa đã triển khai áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, đưa nông nghiệp ngày càng phát triển, hội nhập và hướng tới xuất khẩu nhiều mặt hàng nông nghiệp.

 

Năm 2016, kết quả thực hiện nhiều chỉ tiêu của ngành Nông nghiệp Thanh Hóa vượt kế hoạch, trong đó sản lượng lương thực có hạt đạt 1,726 triệu tấn (vượt 3,2% KH); tỷ lệ che phủ rừng đạt 52,92% (vượt 0,82% KH); tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 90% (vượt 2% KH); số xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 67 xã (vượt 22 xã, tăng 48,9% KH)… Với những kết quả đã đạt được, Ngành đã có đóng góp lớn vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn Tỉnh. (…)

Có thể nói, những định hướng phát triển theo xu thế hội nhập đã mở ra cho ngành Nông nghiệp Thanh Hóa nhiều cơ hội về thị trường, thu hút đầu tư; Đồng thời du nhập được nhiều công nghệ sản xuất tiến bộ, như: công nghệ sinh học, nuôi cấy mô, công nghệ gien, công nghệ tế bào... Tuy nhiên, việc hội nhập cũng đặt ra cho ngành Nông nghiệp Thanh Hóa không ít khó khăn, thách thức, bởi nền Nông nghiệp của tỉnh hiện chủ yếu vẫn là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khó phát triển hiệu quả mô hình cánh đồng mẫu lớn. (…)

Đặc biệt, theo quy hoạch tổng thể vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Thủ tướng Chính phủ tới năm 2020, định hướng đến năm 2030, Thanh Hóa là một trong 10 địa phương trên cả nước sẽ hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng hoạt động có hiệu quả khu nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nơi sẽ chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển nông nghiệp, sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao, với mục tiêu thay đổi và tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp với những thay đổi tích cực phù hợp trong hội nhập và phát triển./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)