English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2017 (524)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 10/2017 (524)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

 

Họp báo công bố kết quả chính thức Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2016

Hội thảo kết quả điều tra lao động phi chính thức và điều tra thử nghiệm lao động việc làm 6 tháng năm 2017

Luật Thống kê 2015 sau hơn 1 năm triển khai

¨TRẦN TUẦN HƯNG

 

KINH TẾ - XÃ HỘI

Kinh tế - xã hội cả nước 10 tháng năm 2017

Việt Nam 40 năm gia nhập Liên hợp quốc – Những thành tựu đạt được

¨ THU HÒA

Doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu

ThS. Nguyễn Thị Thanh Huyền – ThS. Nguyễn Thị Hạnh Nguyên

Tăng trưởng xuất khẩu – kỳ vọng từ các FTA

¨ THU HƯỜNG

Thị trường viễn thông Việt Nam – cuộc chiến nhiều đối thủ

¨ ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGỌC

Kết quả chính thức Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016

Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản bền vững

¨ ThS. ĐẶNG THỊ THƯ

Thực trạng lao động phi chính thức ở Việt Nam

Dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật: Cần sự chung tay của cả cộng đồng

¨ TS. CAO THỊ HÀ

 

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Xây dựng và sử dụng chỉ số thời vụ trong dự báo du lịch

¨ HOÀNG VĂN SỸ

Bắc Giang - Nâng cao chất lượng công chức Văn phòng – Thống kê tỉnh

¨ NGUYỄN NGỌC CHÍNH – TS. HOÀNG VŨ QUANG

Hà Giang – Một số khó khăn, bất cập trong hoạt động thống kê xã

¨ TĂNG BÁ TUYÊN

QUỐC TẾ

Nông nghiệp thông minh: Xu hướng mới tại châu Á

¨ TRÚC LINH

VUI VUI… THỐNG KÊ

THANH HÓA – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Thanh Hóa: Đổi mới và tạo đột phá trong thu hút đầu tư

¨ HOÀNG VĂN HÙNG

Văn hoá, Thể thao và du lịch Thanh Hoá trên đà phát triển

Cục Thuế tỉnh Thanh Hoá: Đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp

Huyện Hà Trung: Tạo sức bật mới từ phát triển kinh tế - xã hội

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá: Hướng tới sự phát triển toàn diện

Bệnh viện Phụ sản Thanh Hoá: Nỗ lực hết mình vì sứ mệnh cao cả chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh

Bệnh viện Da liễu Thanh Hoá: Từng bước nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân

Bệnh viện Nhi Thanh Hoá: 10 năm xây dựng và trưởng thành

 

NGÀNH GIÁO DỤC HÀ NỘI – ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

 

Ngành Giáo dục Hà Nội trên đường đổi mới

Liên đội THCS Cát Linh: Sân chơi bổ ích cho học sinh

Trường THCS Quang Trung – Giáo dục gắn với thực tế và trải nghiệm

Trường THPT Thái Thịnh – Tích cực chủ động nâng cao chất lượng giáo dục

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 10/2017

 

LUẬT THỐNG KÊ SAU HƠN 1 NĂM TRIỂN KHAI

Trần Tuấn Hưng

Vụ trưởng Vụ Phương pháp chế độ TK-CNTT - TCTK

Luật Thống kê 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 23 tháng 11 năm 2015 và Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ký Lệnh công bố số 17/2015/L-CTN ngày 04 tháng 12 năm 2015. Luật Thống kê 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Sau hơn 1 năm  triển khai, Luật Thống kê 2015  bước đầu đạt được kết quả đáng ghi nhận. Trước hết, các văn bản pháp quy đã được xây dựng đúng và sớm so với qui định của Luật như: Nghị định số 94/2016-NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê, Nghị định số 95/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, Nghị định số 97/2016/NĐ-CP quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. (…)

 Bên cạnh việc các văn bản pháp quy đã được xây dựng đúng và sớm so với qui định của Luật thì  công tác tổ chức quán triệt thực hiện và tuyên truyền, phổ biến Luật Thống kê 2015 đã triển khai rộng rãi  tới nhiều đối tượng trong và ngoài ngành Thống kê. Hình thức tuyên truyền Luật cũng được thực hiện đa dạng, phong phú thông qua tổ chức các chương trình tuyên truyền Luật tại các cơ quan Bộ, ngành và Sở, ban ngành ở Trung ương và địa phương, lồng ghép nội dung của Luật vào các cuộc hội thảo, tập huấn nghiệp vụ, hay tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiên thông tin đại chúng…(…)

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, vẫn còn những bất cập, thách thức không hề nhỏ trong thực hiện công tác thống kê. Trong đó, bất cập lớn nhất đó là sự quan tâm của một số Bộ, ngành, địa phương về công tác thống kê nói chung và Luật Thống kê nói riêng còn chưa đầy đủ, tương xứng với tinh thần đổi mới của Luật Thống kê, thể hiện ở 3 điểm sau đây:

Một là, một số Bộ, ngành, địa phương còn chưa triển khai tới các cán bộ, công chức trong Bộ, Ngành, địa phương về Luật thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hai là, tổ chức thống kê một số Bộ, ngành còn chưa được thành lập theo tinh thần của Nghị định 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 về Tổ chức thống kê Bộ, ngành.

Ba là, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng văn bản pháp quy về thống kê còn chậm trễ, mang tính hình thức trong khi khối lượng công việc lớn, quan trọng, đòi hỏi tiến độ cũng như thống nhất cao về chuyên môn nghiệp vụ.

Có thể thấy rõ, những hạn chế này không thể khắc phục một sớm, một chiều và công tác thống kê nói chung cũng như Luật Thống kê nói riêng không thể thành công và đi vào thực tiễn cuộc sống nếu không có sự chung tay góp sức của những người làm công tác thống kê chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp hay sự ủng hộ của cộng đồng toàn xã hội./.

 

VIỆT NAM 40 NĂM GIA NHẬP LIÊN HỢP QUỐC: NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

Thu Hòa

 

Tại phiên họp lần thứ 32 Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 20/9/1977, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc, đánh dấu sự ghi nhận của tổ chức toàn cầu lớn nhất hành tinh và cộng đồng quốc tế đối với nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do và dân chủ. Năm 2017 đã diễn ra nhiều hoạt động ghi dấu chặng đường 40 năm hợp tác của Việt Nam và Liên hợp quốc. Sau 4 thập kỷ gia nhập tổ chức này, Việt Nam đã dần khẳng định vị thế trên trường quốc tế ở nhiều lĩnh vực. Những thành tựa đạt được từ sự hợp tác này sẽ làm nền tảng cho sự phát triển ngày càng lớn mạnh của Việt Nam trong tương lai.

 

Hợp tác Liên hợp quốc – Việt Nam: những dấu son lịch sử

Liên hợp quốc là tổ chức được thành lập ngày 24/10/1945 trên cơ sở hiến chương được 51 nước tham gia ký, với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hòa bình và trật tự thế giới bền vững. Sau hơn 70 năm thành lập, Liên hợp quốc đã khẳng định vai trò trung tâm trong duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, ngăn chặn và giải quyết các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Với những thay đổi tích cực nhằm điều chỉnh hành động từ thụ động thực hiện mục tiêu bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế sang chủ động hơn với việc thành lập lực lượng gìn giữ hòa bình của riêng mình và ngày càng mở rộng hoạt động ở nhiều khu vực trên thế giới, đến nay Liên hợp quốc đã có 193 thành viên. (…)

Trong quá trình tham gia Liên hợp quốc, Việt Nam đã và đang là thành viên của nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như Hội đồng Bảo an (HĐBA, 2008 -2009), Hội đồng Kinh tế - Xã hội (1998 - 2000 và 2016 - 2018), Hội đồng Nhân quyền (2014 - 2016), Hội đồng Chấp hành UNESCO (2015 - 2019), Ủy ban luật pháp quốc tế (2017 - 2021)… ; qua đó đóng góp tích cực vào công việc của các cơ chế này, đề xuất nhiều sáng kiến vừa là lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam đồng thời cũng là sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Những nỗ lực và đóng góp trên đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, điều đó được thể hiện thông qua việc Việt Nam luôn được bầu với số phiếu cao khi ứng cử vào các cơ quan của Liên hợp quốc.

Những thành tựu đã đạt được của Việt Nam và sự đồng hành phát triển trong tương lai

Có thể thấy, trong suốt 40 năm gia nhập Liên hợp quốc, đặc biệt là 30 đổi mới, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tăng nhanh, với tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gần gấp đôi, đạt 8,2%/năm; đến giai đoạn 2011-2015, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và khủng hoảng nợ công năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, đây là mức cao của khu vực và thế giới. Năm 2016, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 6,21%. (...)

40 năm gia nhập Liên hợp quốc, cùng với 30 năm đổi mới là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức của Việt Nam theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việt Nam đã thiết lập được quan hệ với nhiều đối tác chiến lược về kinh tế, đã tham gia ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương… Điều này đã giúp cho vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế.

Có thể thấy, những đóng góp không nhỏ của Liên hợp quốc đối với Việt Nam trong quá trình 40 năm qua, đã nâng tầm ngoại giao đa phương lên tầm cao mới. Đây sẽ là cơ sở vững chắc để chúng ta không ngừng đẩy mạnh hơn nữa hoạt động hợp tác với Liên hợp quốc nói riêng, với các cơ chế đa phương khu vực và thế giới nói chung. (…)

Chương trình hợp tác giai đoạn 2017-2021, Việt Nam và Liên hợp quốc sẽ tập trung thực hiện Kế hoạch chiến lược chung được ký giữa hai bên vào tháng 7/2017. Với 4 lĩnh vực ưu tiên: Đầu tư vào con người; bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển môi trường bền vững; thúc đẩy sự thịnh vượng và quan hệ đối tác; tăng cường công lý, hòa bình và quản trị toàn diện. Kế hoạch này sẽ hỗ trợ nước ta trong việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 và các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Đây cũng là nền tảng quan trọng để triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể giữa Việt Nam và Liên hợp quốc trong những năm tới./.

 

KẾT QUẢ CHÍNH THỨC TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN,

NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN NĂM 2016

Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 được tiến hành trên phạm vi cả nước vào thời điểm 01/7/2016 theo Quyết định số 1225/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ.

Cuộc Tổng điều tra có quy mô lớn, liên quan tới 8.978 xã và 79.898 thôn; gần 16,0 triệu hộ nông thôn và trên 1,0 triệu hộ thành thị hoạt động nông, lâm nghiệp, diêm nghiệp và thủy sản; gần 33,5 nghìn trang trại và nhiều đơn vị điều tra khác. Cuộc Tổng điều tra còn thu thập, xử lý, tổng hợp và cập nhật tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản được lồng ghép trong Điều tra doanh nghiệp năm 2016 của Tổng cục Thống kê.

Để tiến hành cuộc Tổng điều tra, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra các cấp đã huy động trên 18 vạn điều tra viên, tổ trưởng và giám sát viên tham gia liên tục từ 01/7/2016 đến 30/7/2016. Cuộc Tổng điều tra đã thực hiện thành công, đạt được mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Kết quả khái quát như sau:

Kết cấu hạ tầng nông thôn được tăng cường

Trong 5 năm 2011-2016, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã triển khai có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Bộ mặt nông thôn có sự biến đổi sâu sắc, nhất là kết cấu hạ tầng. (…)

Hình thức hỗ trợ kinh tế nông thôn ngày càng đa dạng

Hệ thống tín dụng, ngân hàng thực sự trở thành nguồn cung ứng vốn quan trọng thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển. Tại thời điểm Tổng điều tra, khu vực nông thôn có 1.806 xã có ngân hàng, chi nhánh ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động, chiếm 20,1% tổng số xã, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 2011. (…)

Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực, theo hướng nâng cao dần tỷ trọng ngành nghề phi nông, lâm nghiệp và thủy sản

Tại thời điểm 01/7/2016, trên địa bàn nông thôn cả nước có 15,99 triệu hộ và 31,02 triệu người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. So với năm 2011, tăng 0,64 triệu hộ, nhưng giảm 0,98 triệu lao động. Số hộ và số lao động nông thôn trong những năm vừa qua không chỉ biến động về lượng, mà quan trọng hơn là đã có sự chuyển dịch dần sang hoạt động phi nông, lâm nghiệp và thủy sản. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. (…)

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới triển khai rộng khắp, đạt kết quả quan trọng

Theo kết quả Tổng điều tra, đến thời điểm 01/7/2016, cả nước có 2.060 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 23,1% tổng số xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và chiếm 22,9% tổng số xã khu vực nông thôn. Ngoài ra còn 139 xã đạt toàn bộ 19 tiêu chí về nông thôn mới, đang chờ cấp có thẩm quyền đánh giá, thẩm định và phê duyệt. Tại thời điểm 01/7/2016, cả nước có 34 đơn vị cấp huyện có 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Đời sống dân cư nông thôn tiếp tục được cải thiện

Tại thời điểm 01/7/2016, bình quân 100 hộ có 1,44 ô tô; 11,61 máy giặt; 65,36 tủ lạnh và tủ đá; 129,26 xe máy. Tỷ lệ hộ sử dụng điện chiếm trong tổng số hộ nông thôn tăng từ 98,0% năm 2011 lên 99,2% năm 2016, trong đó tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia tăng từ 96,4% lên 98,4%. Tỷ lệ hộ sử dụng nước máy để ăn uống tăng từ 13,2% lên 22,1%. Năm 2016 có gần 5,06 triệu hộ sử dụng nước từ công trình cấp nước sạch tập trung trên địa bàn nông thôn, chiếm 31,6% tổng số hộ. (…)

Bộ máy lãnh đạo và điều kiện làm việc của chính quyền cấp xã được kiện toàn

Tại thời điểm 01/7/2016 các xã có gần 38,5 nghìn cán bộ chủ chốt, bình quân mỗi xã có 4,3 người. Trong tổng số cán bộ xã nêu trên có 3.353 cán bộ nữ, chiếm 8,7% tổng số cán bộ chủ chốt xã và tăng 3,3 điểm phần trăm so với năm 2011. (…)

Về tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, thành tựu nổi bật trong phát triển phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nước ta, đó là:

Một là, sản xuất đang được cơ cấu lại về hình thức tổ chức và quy mô sản xuất. Quá trình cơ cấu lại sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong giai đoạn 2011-2016 thể hiện trước hết ở kết quả cơ cấu lại hình thức tổ chức sản xuất theo hướng số doanh nghiệp và số hợp tác xã tăng nhanh, số hộ ngày càng giảm mạnh. (…)

Hai là, ruộng đất được tích tụ với khâu đột phá là dồn điền đổi thửa và xây dựng cánh đồng lớn. Tính đến 01/7/2016, cả nước có 2.294 xã tiến hành dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 25,6% tổng số xã. Nhờ dồn điền đổi thửa nên diện tích bình quân một thửa đất sản xuất nông nghiệp tính chung cả nước đã tăng từ 1.619,7 m2 năm 2011 lên 1.843,1 m2 năm 2016. (…)

Ba là, ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa sản xuất và liên kết theo chuỗi giá trị có bước phát triển mới

Ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản qua kết quả Tổng điều tra năm 2016 được biểu hiện trước hết ở việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP). (…)

Bốn là, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển có hiệu quả

Trong giai đoạn 2011-2016, kinh tế trang trại phát triển với tốc độ nhanh. Tại thời điểm 01/7/2016, có 33,5 nghìn trang trại nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 67,2% so với năm 2011, bình quân mỗi năm tăng 10,8%. (…)

Có thể nói, trong những năm vừa qua, mặc dù sản xuất được cơ cấu lại theo hướng mở rộng quy mô, nhưng sản xuất nhỏ vẫn phổ biến. Đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa sản xuất còn hạn chế. Hiệu quả của hầu hết các loại hình tổ chức sản xuất, các ngành, các lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung vẫn thấp.

Những hạn chế nêu trên đang là thách thức lớn đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội nông thôn và sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Tuy nhiên, bên cạnh khó khăn, thách thức còn có thuận lợi và cơ hội, đặc biệt là kinh nghiệm đã tích lũy được. Với sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Chính phủ và các cấp, các ngành, sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của nhân dân, thành tựu đạt được trong hơn 30 năm đổi mới nói chung và 5 năm 2011-2016 nói riêng sẽ được phát huy; khó khăn, thách thức đang tồn tại sẽ được xử lý, khắc phục, đưa nông thôn, nông nghiệp nước ta tiếp tục phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững./.

(Lược trích Thông cáo báo chí kết quả chính thức TĐT Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2016 của TCTK)

 

HÀ GIANG – MỘT SỐ KHÓ KHĂN, BẤT CẬP TRONG HOẠT ĐỘNG THỐNG KÊ XÃ

Tăng Bá Tuyên

Theo quy định của Luật Thống kê năm 2015, Hệ thống tổ chức thống kê Nhà nước, gồm: Hệ thống tổ chức thống kê tập trung và Tổ chức thống kê Bộ, ngành. Hệ thống tổ chức thống kê tập trung được tổ chức theo ngành dọc gồm cơ quan thống kê Trung ương (Tổng cục Thống kê) và cơ quan thống kê địa phương (Cục Thống kê cấp tỉnh; Chi cục Thống kê cấp huyện). Thống kê bộ, ngành do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước theo chức năng nhiệm vụ có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác thống kê trong Bộ, ngành.

(…) Qua triển khai thực hiện hoạt động thống kê trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong những năm qua cho thấy, hiện nay hoạt động thống kê cấp xã đang gặp một số khó khăn, đó là:

- Thứ nhất, công chức Văn phòng - Thống kê xã hiện nay hầu hết chưa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về thống kê. (…)

- Thứ hai, báo cáo và số liệu thống kê cấp xã có độ chính xác chưa cao, không cân đối và chưa đạt độ tin cậy cao. (…)

Thứ ba, công chức làm Văn phòng - Thống kê xã thiếu ổn định, thường xuyên thay đổi sau nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ xã. (…)

Thứ tư, văn bản quy định về số lượng, chức danh cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn đối với chức danh thống kê ở cấp xã của tỉnh Hà Giang chưa rõ ràng, còn chồng chéo gây khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ thống kê ở cấp xã. (…)

Thứ năm, Lãnh đạo các xã chưa coi trọng, đánh giá đúng mức về công tác thống kê, thường xem nhẹ công tác thống kê. Việc đánh giá kết quả hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội còn mang tính định tính, không được lượng hóa cụ thể bằng số liệu thống kê.

Để nâng cao chất lượng thống kê, lãnh đạo các xã, phường, thị trấn cần có sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn cho công tác thống kê, có kế hoạch bố trí về nhân lực, thời gian, tạo điều kiện cần thiết để bộ phận chuyên môn này đánh giá đúng hơn về kết quả hoạt động của địa phương mình. Bên cạnh đó, trong công tác chuyên môn, ngành Thống kê cũng cần quan tâm nhiều hơn đến Thống kê cấp xã, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật  nghiệp vụ thống kê thường xuyên hơn, đảm bảo thống kê cấp xã thực sự là cánh tay nối dài của Chi cục Thống kê huyện/thành phố. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng số liệu thống kê các cấp, xây dựng ngành thống kê ngày càng vững mạnh và góp phần củng cố lòng tin của người dùng tin và các tổ chức sử dụng thông tin thống kê vào Ngành Thống kê và số liệu thống kê./.

 

THANH HÓA: ĐỔI MỚI VÀ TẠO ĐỘT PHÁ TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ

                                                                Hoàng Văn Hùng

                                           Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thanh Hóa

Trong những năm gần đây, Thanh Hóa là một trong những địa phương có sự phát triển kinh tế - xã hội ấn tượng. Từ một tỉnh nghèo, năng lực cạnh tranh thấp, song với sự đồng thuận của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, Thanh Hóa đã đẩy mạnh đổi mới và tạo nhiều đột phá trong thu hút đầu tư, trở thành “điểm hẹn” của nhiều dự án đầu tư lớn, trong đó có những dự án mang tầm thế kỷ.

Phát huy thế mạnh và tiềm năng 

Thanh Hóa là tỉnh nằm ở phía Bắc miền Trung, đứng thứ 3 về dân số, thứ 5 về diện tích tự nhiên và thứ 8 về quy mô kinh tế (lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ), có lợi thế kết nối vùng miền, là động lực phát triển cho cả khu vực Bắc Trung bộ. Hệ thống giao thông Thanh Hóa gồm đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không khá thuận lợi với cảng nước sâu Nghi Sơn và sân bay Thọ Xuân được coi là cửa ngõ quốc tế, hệ thống đường quốc lộ huyết mạch và tuyến đường xuyên Á… đã tạo thành mạng lưới giao thông và phân phối lan tỏa trong vùng và khu vực. (…)

Đổi mới và đột phá

Phát huy lợi thế, tiềm năng, trong những năm gần đây, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành nhiều chủ trương, chính sách về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư và đã đạt được những kết quả quan trọng. (…)

Với tư duy mới, tầm nhìn mới, Thanh Hóa đã và đang quyết tâm chuyển mình mạnh mẽ phấn đấu đến năm 2020 trở thành tỉnh khá của cả nước và đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu này, Thanh Hóa sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng minh bạch, hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước; Áp dụng cơ chế, chính sách ưu việt trong hỗ trợ đầu tư; hỗ trợ đặc biệt đối với các dự án lớn, có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 

NGÀNH GIÁO DỤC HÀ NỘI TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI

Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Nội đã tập trung lựa chọn những nhiệm vụ then chốt, bám sát thực tiễn để đề ra hướng triển khai thực hiện hiệu quả, tạo bước đột phá trong đổi mới. Nhờ đó, chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng giáo dục mũi nhọn của các cấp học đều có chuyển biến mạnh mẽ và rõ nét. Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên được tăng cường, đảm bảo chất lượng chuyên môn và năng lực sư phạm. Công tác quản lý, kiểm tra đánh giá trong giáo dục của Thành phố không ngừng được đổi mới, nâng cao. Công tác xã hội hóa giáo dục có nhiều bước chuyển biến, huy động được nhiều nguồn lực đầu tư, chăm lo phát triển giáo dục.

Một trong những điếm sáng đó là, nhiều trung học phổ thông luôn có sự đổi mới, sáng tạo và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Điển hình như: THPT Hà Nội – Amsterdam, THPT Chuyên Nguyễn Huệ, THPT Chu Văn An, Kim Liên, Phan Đình Phùng… luôn chủ động hợp tác, giao lưu quốc tế nhằm thúc đẩy hoạt động GD&ĐT theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, thể hiện qua nhiều hoạt động như: Tăng cường đào tạo giáo viên dạy song ngữ các môn khoa học tự nhiên cấp THPT, mở rộng mô hình liên kết với các công ty, trung tâm Ngoại ngữ có yếu tố nước ngoài để tăng cường dạy bổ trợ ngoại ngữ… (…)

Từ những thành công trên, năm học mới 2017 – 2018, Sở GD-ĐT Hà Nội đặt trọng tâm thực hiện đổi mới mạnh mẽ ở các bậc học. Nội dung dạy và học sẽ được điều chỉnh, tiếp cận định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. Công tác giáo dục hướng nghiệp sẽ được ưu tiên, đội ngũ giáo viên tư vấn tâm lý sẽ được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, chú trọng công tác trang bị kỹ năng sống cho học sinh, thí điểm đào tạo chương trình song bằng tú tài THPT quốc gia Việt Nam và tú tài Anh quốc ...

Thành Nam

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2017 (526)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2017 (525)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2017 (523)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2017 (522)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2017 (521)