English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2017 (523)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 9/2017 (523)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Thực trạng nhân lực ngành Thống kê

Đại hội Đại biểu Công đoàn Tổng cục Thống kê khóa 28 (nhiệm kỳ 2017 -2022)

Hội thảo Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng thống kê Nhà nước

Hội thảo trưng cầu ý kiến về Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2017

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế  - xã hội cả nước 9 tháng  năm 2017

Sự chuẩn bị của Việt Nam cho  cách mạng công nghệ 4.0

¨ ThS. PHÙNG THỊ KIM PHƯỢNG – ThS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

Thu hút FDI năm 2017: Hứa hẹn nhiều kỷ lục

¨ ThS. NGUYỄN CHUNG THỦY – ThS. NGUYỄN THỊ NGÂN

Phát triển xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ

¨ TS. BÙI THỊ MINH NGUYỆT

Công tác giáo dục đào tạo vùng dân tộc thiểu số

¨ ThS. LƯƠNG THANH HÀ – ĐẶNG THỊ THÚY DUYÊN

Giáo dục mầm non Việt Nam – Những bước tiến về chất lượng

¨BÍCH NGỌC

Phát triển nguồn nhân lực Đồng bằng sông Cửu Long

¨ TS. CẢNH CHÍ HOÀNG – TRẦN VĂN DŨNG

Bắc Ninh: đẩy mạnh cải cách chỉ số PCI và PAR INDER

¨ ThS. KHỔNG VĂN THẮNG

Nghệ An: Thực trạng và giải pháp lao động, việc làm giai đoạn 2017 – 2020

¨ NGUYỄN THỊ THU HÀ

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Phân tích biến động của NSLĐ chung toàn nền kinh tế trong quan hệ với NSLĐ của các khu vực

¨ TS. ĐẶNG VĂN LƯƠNG

QUỐC TẾ

Kinh tế toàn cầu khởi sắc và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

¨ NGỌC LINH

VUI VUI… THỐNG KÊ

THANH HÓA – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Thanh Hóa: Những dấn ấn trong phát triển kinh tế - xã hội

¨ NGUYỄN ĐÌNH XỨNG

Y tế Thanh hóa – Nỗ lực nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân

¨ NGỌC LINH

Hải quan Thanh Hóa: Đồng hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp

Sầm Sơn: Thành phố trẻ sải cánh vươn cao

Huyện Nga Sơn: Phát huy mọi nguồn lực tạo bước tiến trong công cuộc xây dựng nông thôn mới

Xã Nga Phú: “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”

Huyện Hậu Lộc: Phát huy thế mạnh kinh tế biển

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 9/2017

 

THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH THỐNG KÊ

 

Nhân lực Thống kê là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới chất lượng thông tin thống kê, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Phóng viên Tạp chí Con số và Sự kiện đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK về vấn đề này.

PV: Trong những năm gần đây, công tác thống kê luôn được các cơ quan Đảng, Quốc hội và Chính phủ đặc biệt quan tâm. Điều này cho thấy, số liệu thống kê có vai trò rất quan trọng trong công tác đánh giá tình hình quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước, cũng như của các đối tượng dùng tin khác. Tuy nhiên để công tác thống kê đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì nguồn nhân lực Thống kê là một trong những quan tâm hàng đầu của ngành Thống kê. Vậy Ông có thể cho biết vài nét về thực trạng nhân lực ngành Thống kê hiện nay?

TS.Nguyễn Bích Lâm: Theo số liệu thống kê, tính đến ngày 31/12/2016,  tổng số công chức, viên chức (CCVC) thuộc Tổng cục Thống kê quản lý là 5.410 người, trong đó, công chức 5.156 người, viên chức 254 người. Nếu phân chia theo cấp hành chính, cơ quan Tổng cục Thống kê có 288 người, chiếm 5,3%; Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc TW có 4.868 người, chiếm 90,0% (cơ quan Cục thống kê cấp tỉnh có 1.814 người, chiếm 33,5%; Chi Cục Thống kê cấp huyện có 3.054 người, chiếm 56,5%); đơn vị sự nghiệp 254 người, chiếm 4,7% CCVC toàn Ngành.

Phân theo độ tuổi, trong tổng số 5.410 người, dưới 30 tuổi chiếm 15,6%, từ 30 - 40 tuổi chiếm 45,0%, từ 41 - 50 tuổi chiếm 20,2%, trên 50 tuổi chiếm 19,2%.

Chất lượng CCVC ngành Thống kê trong những năm gần đây ngày càng được nâng cao. Về trình độ đào tạo và trình độ chuyên môn, số người có trình độ tiến sỹ chiếm 0,11%, trình độ thạc sỹ chiếm 5,2%, trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao nhất 79,8%, số người có trình độ cao đẳng, trung cấp chỉ chiếm 14,8% toàn Ngành.

Những số liệu trên cho thấy, độ tuổi của CCVC ngành Thống kê đang ở độ chín, CCVC trong độ tuổi từ 30 – 50 tuổi chiếm 65,2%. Tuy nhiên, điều này cũng bộc lộ một số hạn chế đáng kể trong việc phát triển nguồn nhân lực của Ngành. Đó là, có sự chênh về số lượng CCVC giữa các nhóm tuổi. Do vậy, việc tuyển dụng lực lượng CCVC trẻ cần quan tâm để có sự đào tạo, bồi dưỡng tầng lớp kế cận. Từ kinh nghiệm thực tiễn, để một CCVC trẻ có thể tiếp cận công việc cần có sự đào tạo, đào tạo lại và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cho đến khi đáp ứng yêu cầu công việc không hề đơn giản, nhất là những ngành có tính chuyên môn nghiệp vụ cao như thống kê. Một điểm đáng lưu ý khác đó là, số người có trình độ đại học và thạc sĩ chuyên ngành thống kê không nhiều, đây thực sự là một thách thức đối với ngành Thống kê trong thực hiện công tác thống kê với yêu cầu chuyên môn hóa cao. Đó là chưa kể số lượng CCVC hiện nay vẫn thiếu khá nhiều so với nhu cầu thực tiễn cũng như so với chỉ tiêu biên chế được giao.

PV: Được biết, Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18/10/2011), trong đó có Chương trình hành động Phát triển nhân lực làm công tác thống kê để xây dựng đội ngũ những người làm công tác thống kê đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và cơ cấu trình độ hợp lý, vậy với số biên chế còn thiếu, ngành Thống kê có gặp khó khăn gì trong việc thực hiện công tác thống kê, thưa Ông?

TS.Nguyễn Bích Lâm: Tổng cục Thống kê là cơ quan quản lý theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện. Cơ quan Thống kê ở Trung ương có 15 đơn vị hành chính, 63 cơ quan Cục Thống kê cấp tỉnh (mỗi cơ quan Cục Thống kê cơ cấu tổ chức được chia thành 6 hoặc 7 phòng nghiệp vụ) và 713 Chi cục Thống kê cấp huyện. Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong 2 năm 2016 -2017, biên chế công chức của ngành giảm 184 chỉ tiêu. Năm 2017, Tổng cục Thống kê được Bộ Nội vụ giao 5906 chỉ tiêu biên chế (giảm 92 chỉ tiêu so năm 2016).  Trong khi trước đó, cuối năm 2014 – 2015 có 11 Chi cục Thống kê cấp huyện được thành lập mới do chia tách đơn vị hành chính cấp huyện mà chưa được cấp biên chế. Với tổng số chỉ tiêu biên chế được giao năm 2017, bình quân mỗi đơn vị thuộc Cơ quan Tổng cục có 22,2 biên chế, mỗi Cục Thống kê có 32 biên chế, mỗi Chi cục Thống kê có 4,92 biên chế.

Trong khi theo tính toán, ở Chi cục Thống kê địa phương với khối lượng công việc hiện tại cần phải có khoảng 7,5 biên chế mới đáp ứng được yêu cầu công việc. Việc thiếu nhân lực tất yếu dẫn đến những áp lực công việc rất lớn đối với đội ngũ CCVC, và dù muốn hay không cũng ảnh hưởng phần nào đến chất lượng số liệu. Đây thực sự là thách thức rất lớn đối với ngành Thống kê.

PV: Trước thực trạng đó, Ông có thể cho biết những giải pháp nào mà ngành Thống kê đang hướng tới cho vấn đề này?

TS.Nguyễn Bích Lâm: Để nâng cao chất lượng nhân lực ngành Thống kê, nhằm thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, tôi cho rằng công tác đào tạo và đào tạo lại CCVC là rất cần thiết và phải có tầm nhìn dài hạn, có bước đi thích hợp theo yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Đặc biệt, phát triển nhân lực phải có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Bên cạnh đó, phát triển nhân lực thống kê phải bảo đảm tính thời đại, gắn với yêu cầu của hội nhập quốc tế, kỹ năng làm việc của CCVC phải tiếp cận trình độ thống kê các nước tiên tiến ở khu vực và thế giới.

Trên quan điểm đó, ngành Thống kê luôn chú trọng công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng CCVC thông qua việc nâng cao chất lượng tuyển dụng, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức giai đoạn 2015 – 2020; hàng năm Tổng cục Thống kê cũng ban hành Quyết định về phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức. Cụ thể, thực hiện công tác đào tạo và đào tạo lại trong nước, thông qua thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm với các chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chuyên ngành, chương trình bồi dưỡng cập nhật theo vị trí việc làm và các khóa tập huấn, hội thảo cập nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, nghiệp vụ chuyên sâu. Bên cạnh đó còn đào tạo các khóa ngoại ngữ và tin học. Đối với công chức tập sự, cũng phải trải qua các lớp đào tạo về quản lý nhà nước chương trình chuyên viên, bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê (nếu tốt nghiệp cao đẳng, đại học không đúng chuyên ngành thống kê), bồi dưỡng nghiệp vụ công tác thống kê trình độ thống kê viên. Đối với CCVC đang giữ ngạch, Tổng cục thực hiện đào tạo, bồi dưỡng thi nâng ngạch. Ngành Thống kê cũng thường xuyên động viên, tạo điều kiện để CCVC học đại học văn bằng 2, học nâng cao trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, đặc biệt khuyến khích với chuyên ngành thống kê và có chính sách hỗ trợ khi tốt nghiệp.

Bên cạnh đẩy mạnh đào tạo trong nước, Tổng cục Thống kê còn thực hiện công tác đào tạo ở nước ngoài bằng việc động viên, khuyến khích công chức toàn ngành đăng ký dự tuyển các khóa đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài do Chính phủ các nước và các trường đại học trên thế giới tài trợ. Từ năm 2011 đến nay, đã có 01 công chức tốt nghiệp tiến sĩ và 10 công chức tốt nghiệp thạc sĩ ở nước ngoài trở lại công tác. Ngoài ra, Tổng cục còn cử nhiều lượt công chức tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn của các tổ chức quốc tế, các cơ quan thống kê nước ngoài, các viện đào tạo quốc tế tổ chức bằng nguồn kinh phí được tài trợ và nguồn ngân sách Nhà nước và học trực tuyến các chương trình của quốc tế... Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế - xã hội luôn vận động phát triển không ngừng, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu của xã hội đối với thông tin thống kê có chất lượng ngày càng lớn, càng đa dạng. Trước thực tiễn đó, yếu tố nâng cao cả về chất và lượng nguồn nhân lực cần được đặt lên hàng đầu và đây cũng là nhiệm vụ, là thách thức mà toàn ngành Thống kê đang đặt trọng tâm triển khai.

PV: Trân trọng cảm ơn Ông!

 

THU HÚT FDI NĂM 2017: HỨA HẸN NHIỀU KỶ LỤC

Thu Hường

 

Nửa đầu năm 2017, nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã ghi nhận những kỷ lục mới, hứa hẹn một năm tràn đầy hy vọng đối với thu hút đầu tư nước ngoài. Theo các chuyên gia kinh tế, với những động thái tích cực từ Chính phủ và các Bộ, ngành địa phương, nguồn vốn FDI vào Việt Nam đang được kỳ vọng sẽ ngày càng chất lượng hơn, góp phần vào công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bền vững.

Đột phá mới trong thu hút vốn FDI

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 20/8/2017 cả nước có 1.624 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 13,45 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 773 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 6,4 tỷ USD, tăng 40,2% so với cùng kỳ năm 2016 và 3.374 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 3,5 tỷ USD, tăng 101,3% so với cùng kỳ 2016. Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2017, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 23,36 tỷ USD, tăng 45,1% so với cùng kỳ năm 2016. Ước tính đến ngày 20/8/2017, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10,3 tỷ USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2016. Như vậy, năm 2017 đã đi qua được 2/3 chặng đường và nguồn vốn FDI vào Việt Nam cũng đã thiết lập những đỉnh cao và kỷ lục mới, đạt gần bằng cả năm 2016 (24,3 tỷ USD). Đây là những tín hiệu tích cực, hứa hẹn nhiều đột phá mới trong thu hút FDI năm 2017 tại Việt Nam. (…)

Kỳ vọng về làn sóng mới

Theo nghiên cứu, đầu tư thế giới trong hai năm gần đây bắt đầu đà phục hồi. Dự báo trong năm 2017, FDI thế giới có thể tăng đến 1.700-1.800 tỷ USD. Trong khi đó, tình hình thu hút FDI tại các nước trong khu vực châu Á đang có xu hướng chững lại, do đó thu hút FDI của Việt Nam đang có triển vọng rất tốt, không chỉ năm nay mà cả trong vài năm tới. (…)

Định hướng mới trong thu hút FDI

Theo các chuyên gia kinh tế, hiện nay, Việt Nam vẫn chưa tận dụng được hết lợi ích từ các dòng vồn FDI. Kết nối kinh doanh giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước vẫn còn mờ nhạt. Nền kinh tế hiện đang có sự lệch pha giữa hai khu vực kinh tế nhà nước và FDI. Theo thống kê của VCCI, trong các dự án FDI tại Việt Nam có quá ít doanh nghiệp liên doanh, khoảng 80% doanh nghiệp FDI ở Việt Nam là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, chỉ có khoảng 14% doanh nghiệp trong nước có khách hàng là các doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam. (…)

Ngoài ra, Việt Nam cũng cần tăng tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp, khu kinh tế và tăng cường sức cạnh tranh của các địa phương trong việc thu hút FDI. Để thực hiện được điều đó cần phải tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng; tăng cường kết nối các hệ thống giao thông chung như đường bộ, đường sắt, cảng biển; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực; tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, hấp dẫn; đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường xúc tiến đầu tư; rà soát lại quy hoạch; đẩy mạnh các chính sách khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài... Có thể nói, đây là thời cơ rất lớn để chúng ta không chỉ thay đổi định hướng về thu hút FDI mà còn thay đổi hoạt động quản trị Nhà nước, doanh nghiệp và kinh doanh trong nước theo hướng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0./.

 

PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU GỖ VÀ SẢN PHẨM TỪ GỖ

 

TS. Bùi Thị Minh Nguyệt

Đại học Lâm nghiệp

 

Trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đưa sản phẩm này trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Sản lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng cao, thị trường tiêu thụ được mở rộng ở nhiều nước trên thế giới. (…)

Những tín hiệu lạc quan trong biểu đồ xuất khẩu

Ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, với kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao, trung bình hàng năm đạt từ 6-7 tỷ USD.Số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê cho thấy năm 2014, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,14 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2013; năm 2015, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, tăng 10,7% so với năm 2014, đạt xấp xỉ 6,8 tỷ USD; năm 2016 tăng nhẹ so với năm 2015 đạt 6,96 tỷ USD, chiếm 3,9% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước. (…)

Có thể thấy, bức tranh xuất khẩu gỗ của Việt Nam đang ngày càng được tô đậm thêm những gam màu sáng, với nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cùng tham gia cạnh tranh, phát triển lành mạnh. (…)

Đối mặt với thách thức

Bên cạnh những lợi thế phát triển xuất khẩu, ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng, đặc biệt từ phía Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia…Đồng thời do chất lượng và mẫu mã sản phẩm đồ gỗ Việt Nam còn hạn chế, chưa thật sự phong phú, đa dạng nên sức cạnh tranh chưa cao. Nhiều năm qua, ngành chế biến gỗ, lâm sản mặc dù phát triển nhanh nhưng được đánh giá chưa bền vững. Tăng trưởng của Ngành chủ yếu dựa vào xuất khẩu nhưng phần lớn lại chỉ là gia công, phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng và thiết kế mẫu mã từ khách hàng nước ngoài. (…)

Giải pháp thúc đẩy phát triển xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam

Mặc dù có những biến động về thị trường, song theo đánh giá chung, thời gian tới xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sẽ có nhiều điểm sáng. Để có thể thúc đẩy phát triển xuất khẩu gỗ, Ngành cần tập trung vào một số giải pháp sau:

- Tận dụng cơ hội từ ký kết và thực thi cácHiệp định thương mại tự do. Có thể thấy việc ký kết và thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới sẽ giúp duy trì, mở rộng thị trường và nâng cao hình ảnh quốc gia, thương hiệu cho mặt hàng gỗ Việt Nam. (…)

- Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu được trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô. (…)

Ngoài ra, để phát triển xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ, Việt Nam cần phải đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả. Bởi đây chính là kênh cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất hiệu quả nhất, đồng thời cũng là giải pháp giúp cho phát triển bền vững ngành gỗ của nước ta./.

 

BẮC NINH ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH CHỈ SỐ PCI VÀ PAR INDEX

 

ThS. Khổng Văn Thắng

Phó cục trưởng Cục Thống kê Bắc Ninh

 

Trong những năm qua, tỉnh Bắc Ninh đã tích cực đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, khắc phục nhiều “điểm yếu” trong thu hút đầu tư, nhờ đó, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Bắc Ninh đã liên tục đứng trong top dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên, chỉ số PCI của Bắc Ninh đã tụt từ thứ 2 năm 2011 xuống thứ 15 năm 2015 và thứ 17 năm 2016. (…)

Thực trạng cải cách hành chính và chỉ số PCI

Thực trạng cải cách chỉ số PCI

Một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015-2020 là cải cách thủ tục hành chính, góp phần đẩy mạnh công tác xúc tiến và thu hút đầu tư đối với sự phát triển của tỉnh. Công tác này đã được thực hiện thông qua một loạt các giải pháp như: Rà soát đơn giản hóa thủ tục hành chính; Xây dựng và ban hành quy trình, thủ tục cấp, điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo hướng nhà đầu tư chỉ phải giao dịch với một đầu mối. (...)

Thực trạng chỉ số cải cách hành chính Par Index

Chỉ số cải cách hành chính - PAR INDEX là một trong những chỉ số phát triển góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, trong những năm qua, chỉ số này ở Bắc Ninh vẫn luôn rất “lẹt đẹt. Cụ thể: Năm 2012, năm đầu tiên triển khai Chỉ số cải cách hành chính, tỉnh Bắc Ninh đạt 78,29 điểm xếp thứ 28 toàn quốc; năm 2013 tụt 0,66 điểm mà thứ hạng tụt 7 bậc xuống thứ 35; năm 2014 tăng được 8 bậc và đứng thứ 27 toàn quốc; nhưng năm 2015 chỉ số này tụt tới 18 bậc, đứng thứ 45. (…)

Một số tồn tại hạn chế khi triển khai chỉ số PCI và Par Index

Một là, nhận thức của một số cơ quan, công chức, viên chức của các sở, ngành, địa phương về tầm quan trọng của chỉ số PCI và chỉ số Par Index còn hạn chế nên vẫn còn tình trạng chậm giải quyết hồ sơ tại các cơ quan tham mưu và ở cả cơ quan ra quyết định cuối cùng, từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh. (…)

Hai là, trình độ, năng lực, đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ CCHC chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra; cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu; việc cải cách hành chính vẫn có nơi làm chưa tốt, ứng dụng công nghệ thông tin còn chưa đồng bộ nhất là ở cấp xã; sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương triển khai các chương trình công tác liên ngành có một số mặt chưa đồng bộ, nhất là sự phối hợp trong tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Công tác phối hợp và thực hiện Quy chế phối hợp vẫn chưa thực sự được các ngành quan tâm thực hiện…

Ba là, việc thực hiện đối thoại, giải quyết khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp tuy có làm nhưng không thường xuyên, một số kiến nghị của doanh nghiệp được “ghi nhận” nhưng chưa có sự trả lời thiết thực và thấu đáo. (…)

Bốn là, hệ thống cơ sở dạy nghề của tỉnh tuy được đầu tư, mở rộng, nâng cấp nhưng quy mô đào tạo nghề còn nhỏ, nghề đào tạo đơn điệu, chưa đa dạng, chỉ chú trọng một số nghề; tỷ lệ lao động qua đào tạo và bồi dưỡng nghề chưa cao (khoảng 40%). (…)

Một số giải pháp chủ yếu để cải thiện môi trường khởi sự doanh nghiệp

Một là, tiếp tục công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về ý nghĩa của chỉ số PCI và chỉ số Par Index trong phát triển kinh tế - xã hội. (…)

Hai là, nâng cao các chỉ số thành phần trong chỉ số PCI và Par Index, thực thi các chính sách đổi mới; Nhanh chóng hoàn thiện các đồ án quy hoạch dài hạn, đề ra những thông điệp mới thể hiện những cam kết đổi mới ở tầm lãnh đạo tỉnh, đồng hành cùng doanh nghiệp; giải quyết tốt những vướng mắc của doanh nghiệp (…)

Ba là,  tạo ra bước đột phá mới trong vận hành hệ thống hướng tới mục tiêu xây dựng chính phủ điện tử, với các giải pháp thực chất, có hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin, điều hành, quản lý, nâng cao chất lượng các websitecủa các sở, ngành, huyện, thị xã, thành phố và tại trụ sở cơ quan, đơn vị (…)

Bốn là, công tác phối hợp và thực hiện Quy chế phối hợp cần thực hiện nghiêm túc và triệt để, gắn trách nhiệm cho người đứng đầu, đẩy mạnh công tác tham mưu của các Sở cho UBND tỉnh, giao cho Sở Nội vụ chịu trách nhiệm tiếp tục đôn đốc các sở, ngành, địa phương xây dựng Đề án xác định vị trí việc làm; (…)

Năm là, thực hiện tốt các đề án về đào tạo lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác đào tạo lao động đối với các cơ sở đào tạo trên địa bàn; kết nối nhu cầu lao động cho DN. (…)

Sáu là, chính quyền tăng cường đối thoại với doanh nghiệp, người dân và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các lợi ích chính đáng của doanh nghiệp. /.

 

XÃ NGA PHÚ: “TOÀN DÂN CHUNG SỨC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI”

 

Xã Nga Phú nằm ở phía Đông Bắc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách trung tâm huyện 12 km, có Quốc lộ 10B và đường tỉnh lộ 524 đi qua. Bằng sức vươn nội lực, cùng sự quan tâm đầu tư của tỉnh, huyện, sự chung sức đồng lòng của mỗi người dân đã đưa xã Nga Phú cán đích Chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM).

 

Tính đến cuối năm 2016, xã Nga Phú đã hoàn thành 100% tiêu chí NTM. Kinh tế tiếp tục có bước phát triển; tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 94,65%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 4,55%; văn hóa, giáo dục, y tế được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hoá và luôn đứng tốp cao của huyện; quốc phòng - an ninh được củng cố; Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, các tổ chức trong hệ thống chính trị đạt tiên tiến trở lên…” (…)

Trong thời gian tới, xã sẽ tập trung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; tiếp tục tăng cường công tác vận động, tranh thủ huy động nguồn lực tổng hợp; trong đó, đẩy mạnh huy động nguồn lực tại chỗ thông qua nguồn cấp quyền sử dụng đất, trong dân là chính, đồng thời làm tốt công tác vận động, tranh thủ ngân sách các cấp, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn để giữ vững và nâng cao chất lượng 18 tiêu chí NTM đã đạt được.

Phía trước dự báo sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng có thể khẳng định rằng, lợi ích lớn nhất khi thực hiện thành công Chương trình XDNTM ở xã Nga Phú là được lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia, bộ mặt nông thôn ngày càng thay da đổi thịt. Đây chính là minh chứng rõ nét cho sự hòa quyện của ý Đảng, lòng dân trong thực hiện phong trào chung tay XDNTM tại Nga Phú.

                                                                                                Trọng Nghĩa

 

KINH TẾ TOÀN CẦU KHỞI SẮC VÀ TIẾP TỤC DUY TRÌ

ĐÀ TĂNG TRƯỞNG TÍCH CỰC

Ngọc Linh

 

Vượt qua năm 2016 với những bất ổn và sự tăng trưởng yếu ớt ở tất cả các nền kinh tế riêng lẻ cũng như khu vực, 6 tháng đầu năm 2017, bức tranh kinh tế toàn cầu chung một gam màu khởi sắc khi tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cùng với sự chuyển biến tích cực của tăng trưởng thương mại toàn cầu.

Tăng trưởng tích cực ở các nền kinh tế lớn

Trong báo cáo “Tình hình và Triển vọng kinh tế thế giới” mới nhất của Liên hợp quốc (LHQ) và báo cáo “Triển vọng và nguy cơ đối với nền kinh tế thế giới” của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đều có chung nhận định kinh tế toàn cầu đã có sự khởi sắc trong sáu tháng đầu năm nay. Động lực chính cho sự hồi phục trên là nhờ các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đang trên đà dịch chuyển, trong đó Đông Á và Nam Á là hai khu vực phát triển năng động nhất. (…)

Bên cạnh đó các chuyên gia kinh tế cũng chỉ ra không ít thách thức khác có thể cản bước tăng trưởng của kinh tế thế giới như một số nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu sẽ tiếp tục phải gánh chịu những tàn dư của khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng di cư, nước Anh ra khỏi EU (Brexit) hay tình trạng nợ công tiếp tục gia tăng.  

Những dự báo lạc quan

Với đà khởi sắc trong những tháng đầu năm, nền kinh tế thế giới trong nửa cuối năm 2017 được nhận định sẽ diễn biến tích cực hơn, các nền kinh tế lớn sẽ tiếp tục xu hướng phục hồi do những rủi ro kinh tế và chính trị toàn cầu đang có chiều hướng giảm. Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã có sự điều chỉnh dự báo so với trước đó. (…)

 Như vậy, qua dự báo của các tổ chức, có thể thấy sự hồi phục kinh tế toàn cầu sẽ tiếp tục được cải thiện trong nửa cuối năm 2017. Tuy nhiên, để có thể duy trì đà tăng trưởng tích cực, trong bối cảnh trên, các chuyên gia kinh tế khuyến cáo các Chính phủ cần có những chính sách mạnh mẽ hơn nữa để tạo sự đồng thuận, ngăn chặn sự phát nổ của các quả “bom nợ” và chủ nghĩa bảo hộ. Đồng thời, cần tạo môi trường thuận lợi để bảo đảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong trung hạn, gắn với giải quyết tình trạng đói nghèo thông qua các chính sách xóa bỏ bất bình đẳng trong thu nhập và cơ hội việc làm. Mặt khác, các nước nên thực hiện những cải cách về thể chế và cần nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy việc phối hợp thực hiện chính sách quốc tế trong các lĩnh vực then chốt, trong đó có việc kiến lập hệ thống thương mại đa phương đi đôi với Chương trình nghị sự Phát triển bền vững vào năm 2030./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)