English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2017 (522)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 8/2017 (522)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Kết quả phản hồi thông tin trên Báo Điện tử Dân trí

Nhu cầu sử dụng sản phẩm thống kê Nhà nước trên địa bàn cấp xã một số vấn đề cần quan tâm

 

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế  - xã hội cả nước 8 tháng đầu năm 2017

ASEAN – 50 năm hình thành và phát triển

¨ THU HÒA

Kinh tế tư nhân phát huy vài trò động lực của nền kinh tế

¨ ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGỌC

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Giấy Việt nam

¨ ThS. NGUYỄN THỊ THANH

Hiệp định RCEP và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

¨ TS. ĐẶNG THỊ HUYỀN ANH

Phát triển thị trường Khoa học công nghệ ở Việt Nam

¨ ThS. NGUYỄN VIỆT DŨNG

Ô nhiễm môi trường đô thị Việt Nam

¨ MINH THƯ

Phát triển giao thông nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng và một số vấn đề đặt ra

¨ ThS. LÊ THỊ TƯỜNG THU

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của khu vực đồng bằng sông Hồng – Những đặc trưng và một số giải pháp nâng cao chất lượng

¨ ThS. ĐỖ THÁI HUY

Tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo: Thực trạng và giải pháp

¨ ThS. LƯƠNG THANH HÀ

Nghệ An – Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề

¨ NGUYỄN HỮU VĨNH

Để ngành nông nghiệp An Giang tăng trưởng bền vững

¨ ThS. TRƯƠNG VĂN TẤN

 

VUI VUI… THỐNG KÊ

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

Xây dựng Khung chất lượng Thống kê Việt Nam

¨ ThS. HÀ MẠNH HÙNG

 

QUỐC TẾ

Vài nét phác thảo dân số thế giới cuối thế kỷ XXI

¨ KIM ANH

 

TUYÊN QUANG – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Tuyên Quang trải “thảm đỏ” thu hút đầu tư

Vai trò của khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp ở Tuyên Quang

Sở Xây dựng Tuyên Quang: Hướng tới sự phát triển toàn diện

Cục thuế tỉnh Tuyên Quang: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Sở y tế tỉnh Tuyên Quang: Triển khai đồng bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân

Sơn Dương: Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh để phát triển

Huyện Yên Sơn – Phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với thị trường tiêu thụ

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Dương: Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng tới phát triển bền vững

Bệnh viện phục hồi chức năng Hương Sen: Nơi thắp sáng những khát vọng

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 8/2017

 

NHU CẦU SỬ DỤNG SẢN PHẨM THỐNG KÊ NHÀ NƯỚC

TRÊN ĐỊA BÀN CẤP XÃ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

 

Trần Thanh Bình

Phó cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Hà Tĩnh

 

Để từng bước làm tăng thêm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thống kê Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển ngành Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030 (theo Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ), việc nghiên cứu cung cầu sản phẩm thống kê Nhà nước ở Trung ương và địa phương, đặc biệt là ở cấp cơ sở là việc làm cần thiết. Năm 2017, Cục Thống kê tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện khảo sát cung cầu sản phẩm thông tin thống kê Nhà nước trên địa bàn cấp xã. Số xã được khảo sát một cách ngẫu nhiên là 184/263 xã (69,96%); thu được 216 đối tượng trả lời phiếu. Trong đó, có 54/216 người trả lời là bí thư và bí thư kiêm chủ tịch xã, chiếm 26,38%; 122/216 người trả lời là chủ tịch và phó chủ tịch xã, chiếm 56,48% và  40/216 người trả lời là cán bộ chuyên môn (văn phòng thống kê, địa chính, nông nghiệp; dân số chính sách xã hội cấp xã), chiếm 18,52%. (…)

Kết quả khảo sát trên cho thấy, để các đối tượng xã hội có thể tiếp cận thông tin thống kê hiệu quả hơn thì đơn vị sản xuất thông tin thống kê cần nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu sử dụng thông tin thống kê của các đối tượng dùng tin và sản xuất thông tin bằng cách thực hiện theo nhiều chuyên đề nhỏ, chuyên đề nhánh đến từng cấp hành chính ở Trung ương, tỉnh và các cấp huyện, xã. Có thể giao cấp tỉnh thu thập thông tin nghiên cứu trên địa bàn cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; càng có nhiều tỉnh nghiên cứu càng tốt, theo phương châm khách quan, trung thực và theo hướng mở. Ngoài một số chỉ tiêu bắt buộc nghiên cứu đánh giá chung cho phạm vi cả nước, còn có các chỉ tiêu mở theo sự sáng tạo nghiên cứu ở từng địa phương cấp tỉnh, huyện, xã. Cần tăng cường tuyên truyền quảng bá giới thiệu sản phẩm thông tin thống kê để người sử dụng thông tin biết được bản chất, chất lượng, vai trò, ý nghĩa của sản phẩm như là một catalog (quy cách) sản phẩm. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm thống kê và sản xuất thông tin thống kê đảm bảo nguyên tắc đã được quy định trong các văn bản pháp luật; tuyên truyền phổ biến, giới thiệu sản phẩm đến các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin thống kê một cách thuận lợi dễ dàng; lưu trữ và khai thác tốt nhất, đặc biệt đối với cấp cơ sở, cấp xã./.

 

ASEAN – 50 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

 

Thu Hòa

 

Năm 2017 đánh dấu chặng đường 50 năm hình thành và phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nay là Cộng đồng ASEAN. Với những bước chuyển mình vượt bậc, ASEAN đã ngày càng khẳng định vị thế là một tổ chức vững mạnh, liên kết sâu rộng và là đối tác không thể thiếu của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, chặng đường phát triển phía trước của ASEAN đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Để tiếp tục phát triển bền vững và lớn mạnh, đòi hỏi ASEAN phải đoàn kết, nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển và không ngừng nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

 

ASEAN – hội tụ và phát triển từ những sắc màu khác biệt

Cách đây nửa thế kỷ, xuất phát từ mong muốn xây dựng một nền tảng vững chắc cho hành động chung nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông Nam Á trên tinh thần bình đẳng và đối tác, đóng góp cho hòa bình, tiến bộ ở khu vực, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã ra đời. Sự kiện này chính thức được ghi dấu sau tuyên bố BangKok (Thái Lan) tháng 8 năm 1967. Từ một tổ chức với 5 thành viên đầu tiên gồm Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines, ASEAN đã kết nạp thêm Brunei (năm 1984), Việt Nam (năm 1995), Lào và Myanmar (năm 1997) và Campuchia (năm 1999). Chặng đường hình thành và phát triển đã khẳng định những dấu son lịch sử với sự chuyển mình vượt bậc, từ một khu vực bị chia rẽ bởi các quan điểm văn hóa, chính trị, xã hội khác nhau, hiện ASEAN đã trở thành một khối thống nhất, đoàn kết, gắn bó, hữu nghị cùng phát triển.

Có thể thấy, các nước thành viên ASEAN có vị trí địa lý gần nhau, nhưng khá đa dạng về chế độ chính trị, văn hóa, ngôn ngữ và trình độ phát triển. Trải qua những thăng trầm lịch sử với những mục tiêu và vận mệnh chung đã dần dần thu hẹp khoảng cách, hài hòa khác biệt. Hiện nay ASEAN được đánh giá là một trong những tổ chức đa phương thành công nhất thế giới, một nền kinh tế lớn, một trung tâm thương mại quan trọng trong bản đồ kinh tế toàn cầu, vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 của thế giới và thứ 3 ở châu Á. Với dân số trên 630 triệu người và tổng GDP đạt 2.400 tỷ USD, với mức tăng trưởng 4,7%/năm, là một mức cao trong khu vực và trên thế giới. Vị trí địa lý chính trị quan trọng, ASEAN không chỉ kết nối châu Á và châu Đại dương, mà còn liên kết Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương… Với đà phát triển như hiện nay, đến năm 2050, ASEAN được dự báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 toàn cầu. (…)

Việt Nam – nỗ lực hết mình vì sự hợp tác trong ASEAN

Trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN vào tháng 7 năm 1995. Sau hơn 22 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã dần tham gia sâu rộng, toàn diện vào tất cả các lĩnh vực hợp tác, trong đó có hợp tác kinh tế, theo phương châm: Chủ động, tích cực và có trách nhiệm. Đồng thời có những đóng góp quan trọng cho sự vươn lên ngày càng lớn mạnh của hợp tác kinh tế ASEAN thời gian qua. (…)

Tham gia ASEAN đã mang đến nhiều lợi ích và cơ hội để Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế, nâng cao thực lực và cải cách trong nước, phát huy vai trò và vị thế của một quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

ASEAN – thách thức và định hướng phát triển trong tương lai

Có thể thấy, trong bức tranh phát triển chung của ASEAN nửa thập kỷ qua là những mảng màu rực rỡ và sống động với những kết quả cụ thể và thiết thực. Tuy nhiên, ASEAN cũng đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, trong đó yếu tố chủ quan là do tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Khối hiệu quả chưa cao Thỏa thuận nhiều song quá trình triển khai hiện thực hóa còn hạn chế, trình độ phát triển kinh tế đa dạng, nhận thức của người dân về ASEAN chưa thật sự đầy đủ, lợi ích và mục tiêu ưu tiên phát triển của mỗi nước khác nhau. Bên cạnh đó, những nhân tố khách quan như: Sự cạnh tranh giữa các nước lớn, sự chuyển biến nhanh của tình hình khu vực và quốc tế cũng có tác động không nhỏ tới sự phát triển chung của khu vực. (…)

Hy vọng rằng, với những nỗ lực phát triển trong tương lại, với việc hướng tới mục tiêu “một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng đùm bọc và sẻ chia”, ASEAN sẽ ngày càng khẳng định vị thế cũng như tầm quan trọng của mình trong khu vực cũng như trên thế giới./.

 

TIẾP CẬN GIÁO DỤC CHO TRẺ EM NGHÈO

 

ThS. Lương Thanh Hà

Học viện Ngân hàng

 

Những năm qua, cùng với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển giáo dục. Theo Báo cáo kết quả 15 năm thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 2015, Việt Nam đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học (theo chuẩn quốc gia) vào năm 2010 (sớm hơn 5 năm so với kế hoạch) và đang tiến dần tới việc phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở.  Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục, đặc biệt là đối với trẻ em nghèo vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức.

 

Thực trạng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo tại Việt Nam

Phát triển giáo dục là một trong những mục tiêu quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trẻ em. Vì vậy, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học ở các cấp học ngày càng cao. Tuy nhiên, xét về tỷ lệ nhập học ở các cấp, càng lên cấp học cao thì số lượng học sinh nghèo đến trường càng giảm; Khả năng trang trải các dịch vụ giáo dục của người nghèo còn thấp, học phí và các khoản đóng góp trường lớp đã trở thành gánh nặng đối với gia đình nghèo; Học sinh nghèo ít có cơ hội đi học thêm, phải dành thời gian giúp đỡ gia đình và lao động kiếm sống… đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em. (…)

Có thể nói, đời sống kinh tế gia đình có tác động lớn đến điều kiện trẻ em tiếp cận được với các dịch vụ giáo dục, đặc biệt là giáo dục có chất lượng cao. Thu nhập của gia đình thấp sẽ cản trở việc học tập của trẻ em, trẻ em không có tiền đóng góp các khoản chi phí cho giáo dục để được đi học hoặc tiếp cận với các dịch vụ học tập có chất lượng. Hơn nữa thu nhập thấp, kinh tế khó khăn buộc trẻ em phải tham gia lao động sớm với gia đình và không có điều kiện để đi học. Bên cạnh đó, tình trạng học thêm đang ngày càng phổ biến ở các lớp, các cấp với nhiều hình thức, cách dạy, cách học… cũng là nguyên nhân gây bất bình đẳng đối với việc tiếp cận giáo dục trẻ em trong các hộ gia đình nghèo.

Giải pháp tăng cường tiếp cận cho trẻ em nghèo

Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người nghèo trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục nhưng tỉ lệ học sinh nghèo không đến trường và bỏ học còn cao. Vì vậy, Chính phủ cần tập trung đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn cho các bậc giáo dục vùng khó khăn, ưu tiên xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ giáo viên. Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, chất lượng đồng bộ ở các môn học. Có kế hoạch và thực hiện bồi dưỡng thuờng xuyên về chuyên môn, phương pháp dạy học cho giáo viên. (…)

Để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục có chất lượng cần tập trung vào học sinh. Cần trang bị cho các em kiến thức và công cụ nhằm giúp các em hiểu được các quyền của mình, đồng thời có thể trao đổi các nhu cầu, nguyện vọng của mình với giáo viên, các cấp quản lý và các nhà hoạch định chính sách một cách tích cực. Những học sinh thuộc các hộ gia đình nghèo thì trình độ học vấn của cha mẹ hạn chế nên không hiểu rõ được tầm quan trọng của giáo dục vì vậy cần việc nâng cao năng lực cho các hộ gia đình và học sinh nghèo thông qua việc tuyên truyền, tập huấn cho cha mẹ để họ có kiến thức về việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, có khả năng giúp con em mình tiếp cận đầy đủ dịch vụ có chất lượng tốt.

 

VÀI NÉT PHÁC THẢO DÂN SỐ THẾ GIỚI CUỐI THẾ KỶ XXI

Kim Anh

Viện Nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương

                                                Bộ Kế hoạch và Đầu tư

 

Số liệu thống kê cho thấy,  năm 1500 dân số thế giới mới chỉ có 425 triệu người, năm 1820 trên 1 tỷ  người, đến năm 1987 đã đạt 5 tỷ người, năm 1999: 6 tỷ, năm 2011: 7 tỷ. Có thể nhận thấy, dân số thế giới sau 3 thế kỷ (từ XVI đến XIX) chỉ tăng thêm hơn 500 triệu người, nhưng chỉ  riêng thế kỷ XX đã tăng trên 4 tỷ người. Sự tăng nhanh dân số cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật (Cách mạng công nghệ lần thứ I vào giữa thế kỷ XIX, Cách mạng công nghệ II, III trong thế kỷ XX và Cách mạng công nghệ lần thứ IV vào đầu thập kỷ XXI) đã đưa thế giới có những bước tiến trong đời sống kinh tế-xã hội. Nhưng từ các thập kỷ cuối của thế kỷ XX, sự phát triển dân số quá nhanh ở nhiều nước đã ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các vấn đề đói nghèo, lao động, việc làm, giáo dục, y tế, và cả những bất bình đẳng giữa các quốc gia,... Do đó ở một số quốc gia đã có những chương trình, chính sách để giảm sinh. (…)

Theo số liệu của Vụ Dân số thuộc Liên hợp quốc, dân số thế kỷ XXI sẽ có đặc điểm sau:

Dân số tăng chậm dần, nhất là từ giữa thế kỷ XXI (…)

Mức độ tăng giữa các châu lục khác nhau (…)

Các nước đang phát triển, kém phát triển, thu nhập thấp vẫn giữ tốc độ phát triển dân số cao. (…)

Tuổi thọ bình quân đều tăng, tuy cũng còn khác biệt giữa các nước, giữa các châu lục, nhưng khoảng cách đã thu hẹp dần

Trong giai đoạn 2010-2015, Nhật Bản và Hồng Công là 2 nước có tuổi thọ trên 83,3 năm, nhưng ngược lại cũng còn không ít quốc gia có tuổi thọ từ 49,5 năm trở xuống, như: Swaziland, Lesotho, Trung Phi... Chỉ tiêu này ở Việt Nam trên 73 năm. (…)

Dân số thế giới già đi, dân số trẻ giảm, người trong tuối lao động giảm tương đối.

Đến năm 2100, người già từ 80 tuổi trở lên chiếm 8,4% dân số thế giới (riêng Việt Nam: 12,9%). Có nhiều nước có tỷ lệ trên 18%, như: Cu Ba: 18,2%, Nhật Bản: 18,5%, Chi Lê: 18,1%, Bồ Đào Nha: 18,4%, Singapo: 21,7%...

Dân số thành thị tăng ở tất cả các châu lục, các nước phát triển có thu nhập cao trên 4/5 dân số sống ở thành thị

Tỷ lệ này ở nhiều nước và vùng lãnh thổ rất cao, ngay từ năm 2015, như:, Nhật Bản là 93%, Hồng Công, Ma Cao là 100%,..; nhưng cũng còn nhiều nước tỷ lệ này dưới 20% như: Nam Xu đăng, Uganđa, Nê pan... Theo dự báo, tỷ lệ này ở Việt Nam vào năm 2050: 54%./.

 

TUYÊN QUANG TRẢI ”THẢM ĐỎ” THU HÚT ĐẦU TƯ

Nằm ở miền múi phía Bắc, có diện tích đất nông, lâm nghiệp chiếm tới gần 90% tổng diện tích tự nhiên, có nhiều tài nguyên khoáng sản, có nhiều danh lam thắng cảnh gắn với di tích lịch sử nổi tiếng nên Tuyên Quang xác định tập trung phát triển một số ngành công nghiệp có lợi thế đi đôi với phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa song song với phát triển du lịch địa phương là hướng đi hiệu quả bền vững. Để làm được điều đó, Tuyên Quang đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm khai thác hiệu quả những tiềm năng, nguồn lực của tỉnh.

Nắm bắt rõ thế mạnh của từng vùng, Tuyên Quang đã xây dựng kế hoạch thu hút đầu tư cho từng lĩnh vực. Trong đó, chú trọng thu hút đầu tư các dự án trồng và chế biến nông, lâm, thủy sản gắn với vùng nguyên liệu, tập trung thu hút đầu tư vào các khu du lịch như Khu du tích văn hóa – lịch sử và sinh thái Quốc gia Tân Trào, Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm…, ưu tiên đầu tư vào các KCN Long Bình Án, các cụm công nghiệp ở huyện Na Hang, An Thịnh (huyện Chiêm Hóa), Sơn Nam (huyện Sơn Dương), Tân Thành (Hàm yên). Đặc biệt khuyến khích đầu tư vào phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vào địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, để từng bước chuyển dịch lao động nông thôn sang lao động khu vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. (…)

Những kết quả khởi sắc trong thu hút đầu tư những năm qua sẽ khởi động cho kỳ vọng bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội của Tuyên Quang trong những năm tiếp theo và là nền tảng vững chắc cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh từ nay đến năm 2020 và sớm đạt được mục tiêu trở thành một trong những “hạt nhân” phát triển kinh tế của vùng Tây Bắc./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 5/2018 (530)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 4/2018 (529)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 3/2018 (528)