English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 5/2017 (519)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 5/2017 (519)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Giám sát Tổng điều tra kinh tế 2017 tại Tây Nguyên

Hà Nội: Cục Thống kê và Bưu điện ký kết thỏa thuận hợp tác

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 5 tháng đầu năm 2017

Phát triển khu kinh tế ven biển

¨ PHẠM THU HƯỜNG – ThS.TRẦN THỊ ĐÀO

Thách thức và triển vọng thép Việt 2017

¨ ThS.BÙI THỊ KIM CÚC – ThS.TRẦN QUANG VIỆT

Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp môi trường bền vững

¨ NHÀN THƯ

Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào nông nghiệp nông thôn

¨ MINH HẢI

Nhãn xanh Việt Nam: Công cụ để vượt qua các rào cản kỹ thuật trong thương mại

¨ ThS.PHẠM THỊ TRÚC QUỲNH

Thị trường du lịch trực tuyến – Hứa hẹn sân chơi sôi động

¨ PHẠM THỊ BÍCH NGỌC - ThS.NGUYỄN QUANG KHẢI

Xuất khẩu rau quả tăng trưởng ngoạn mục

¨ ThS.NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN – ThS.MAI THỊ CHÂU LAN

Trồng cây dược liệu cần chính sách đột phá để phát triển

¨ THU HÒA

Hướng tới đảm bảo chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng dân tộc thiểu số

¨ VIỆT HÙNG

Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

¨ ThS. KHỔNG VĂN THẮNG

Định hướng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Thanh Hóa

¨ ThS.LÊ THỊ MINH TRÍ – ThS.NGUYỄN THỊ THANH

Sơn La môi trường kinh doanh nhìn nhận từ chỉ số PCI

¨ NGUYỄN HỒNG NHUNG

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

Nhận thức và tính toán đúng chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

¨ NGUYỄN THANH NGHỊ

VUI VUI THỐNG KÊ

QUỐC TẾ

Thế giới – Vài nét phác họa GDP của tương lai

¨ KIM ANH

HẢI DƯƠNG – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Hải Dương – Thành tựu 20 năm xây dựng và phát triển

¨ NGUYỄN DƯƠNG THÁI

Sở Y tế tỉnh Hải Dương: Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân

¨ MINH THƯ

Ngành Giáo dục và đào tạo Hải Dương – phát triển toàn diện sau 20 năm

Điểm sáng trong công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm ở Hải Dương

¨ THÀNH NAM

Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Hải Dương: Bảo đảm đúng quy định pháp luật, bảo vệ môi trường, vì sự phát triển bền vững của nguồn tài nguyên

¨ LINH THƯ

Huyện Cẩm Giàng sau 20 năm tái lập: Những thành tựu nổi bật

Huyện Kinh Môn – chặng đường 20 năm xây dựng và phát triển

Xã Cẩm Vũ phấn đấu về đích đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 5/2017

GIÁM SÁT TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017 TẠI TÂY NGUYÊN

Từ tháng 3 - 5/2017, toàn ngành Thống kê đã tổ chức thực hiện Tổng điều tra kinh tế 2017 giai đoạn 1 trên phạm vi cả nước. Đây là cuộc Tổng điều tra có quy mô lớn, nội dung phức tạp điều tra 4 khối đối tượng: Doanh nghiệp, hành chính sự nghiệp, hộ cá thể và tôn giáo, tín ngưỡng; và thực hiện với hai giai đoạn (giai đoạn 1 điều tra khối doanh nghiệp và hành chính sự nghiệp; giai đoạn 2 điều tra khối cá thể và tôn giáo, tín ngưỡng). Do quy mô lớn và tính chất phức tạp nên công tác chuẩn bị và thực hiện các công đoạn của Tổng điều tra được thực hiện rất bài bản, kỹ lưỡng và chu đáo. Công tác kiểm tra, giám sát được đặc biệt quan tâm ở cả Trung ương và địa phương. Tổ thường trực Ban chỉ đạo Trung ương đã thành lập 9 đoàn công tác kiểm tra, giám sát công tác Tổng điều tra giai đoạn 1 tại tất cả các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Nhiệm vụ của các đoàn công tác nhằm kiểm tra tình hình triển khai thực hiện Tổng điều tra, nắm bắt những khó khăn vướng mắc của các địa phương, đồng thời có những hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể…

Từ ngày 4 – 10/5/2017, đoàn công tác do ông Phạm Đình Thúy, Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp, tổ phó Tổ thường trực Ban chỉ đạo Trung ương làm trưởng đoàn, đã đi kiểm tra, giám sát tại 4 tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Kon Tum.

Tại Gia Lai, với 17 đơn vị cấp huyện, 222 đơn vị cấp xã/phường, có gần 3400 doanh nghiệp, trên 2800 đơn vị hành chính sự nghiệp, công tác TĐT được tiến hành khá tốt. Tuy nhiên việc rà soát doanh nghiệp trên địa bàn chưa thực sự thuận lợi, sự phối hợp giữa các cơ quan Thống kê – Sở Kế hoạch và Đầu tư và ngành Thuế chưa nhịp nhàng, dẫn đến kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ điều tra khối doanh nghiệp.

Kon Tum, một tỉnh nhỏ ở khu vực Tây Nguyên, với 10 huyện và 102 xã/phường/thị trấn, qua kiểm tra cho thấy công tác Tổng điều tra được triển khai bài bản, đạt đúng tiến độ, là một trong những tỉnh làm tốt công tác rà soát doanh nghiệp. Do có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành trong tỉnh, nhất là sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, công tác tuyên truyền được thực hiện và đặc biệt coi trọng ngay từ giai đoạn 1 nên tiến độ thu thập phiếu doanh nghiệp và hành chính sự nghiệp đều đạt kết quả khá. Tính đến đầu tháng 5, đã thu thập được 53,8% phiếu doanh nghiệp và 61,8% phiếu hành chính sự nghiệp. Hiện công tác lập danh sách khối cá thể và tôn giáo đang được tích cực triển khai.

Công tác điều tra thu thập thông tin đối với khối doanh nghiệp được các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đắk Lắk tích cực triển khai. Qua tổng hợp báo cáo tiến độ điều tra đến hết ngày 30/4, trên địa bàn tỉnh thu thập thông tin khối doanh nghiệp đạt xấp xỉ 54%, khối hành chính sự nghiệp trên 32% . Việc lập danh sách khối cá thể và tôn giáo, tín ngưỡng cũng đang được khẩn trương triển khai, dự kiến đến 25/5 sẽ hoàn thành.

Tại Đắk Nông, với 8 huyện, 71 xã/phường, gần 1500 doanh nghiệp, công tác thu thập thông tin điều tra doanh nghiệp và hành chính sự nghiệp cũng đạt cao, khoảng 70%.

Ghi nhận chung cho thấy, công tác triển khai Tổng điều tra tại các tỉnh Tây Nguyên được thực hiện nghiêm túc, đúng tiến độ từ công tác rà soát danh sách doanh nghiệp, tập huấn, tuyển chọn điều tra viên, tổ chức điều tra thu thập thông tin của giai đoạn 1; song song với việc tập huấn, tổ chức rà soát lập danh sách hộ cá thể và tôn giáo chuẩn bị cho giai đoạn 2…

Khó khăn chung đối với các tỉnh Tây Nguyên, đó là thời gian diễn ra Tổng điều tra cũng là thời điểm mùa mưa ở Tây Nguyên bắt đầu, địa hình đồi núi rộng, dân cư thưa thớt, gây nhiều khó khăn cho công tác thu thập thông tin của điều tra viên, cũng như bảo quản tài liệu. Và giống như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, công tác rà soát và điều tra thông tin từ doanh nghiệp gặp khá nhiều khó khăn, do ý thức chấp hành nghĩa vụ cung cấp thông tin của doanh nghiệp kém, địa điểm hoạt động không rõ ràng, khó tiếp cận chủ doanh nghiệp; trong khi đó, trình độ điều tra viên còn có nhiều hạn chế… Trong quá trình giám sát các tỉnh Tây Nguyên, đoàn công tác nhận thấy những thắc mắc nghiệp vụ trong việc triển khai thu thập thông tin thường tập trung vào một số vấn đề như: Bóc tách, khấu hao tài sản, thu chi trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, xác định danh sách hộ cá thể, cách thức khai thác số liệu doanh thu… Đoàn đã có giải đáp thắc mắc thỏa đáng và thay mặt đoàn công tác, đồng chí Trưởng đoàn đã yêu cầu Cục Thống kê các tỉnh tiếp thực hiện tốt, triển khai bài bản theo hướng dẫn của phương án TĐT; chủ động huy động và tận dụng tối đa các nguồn lực để thực hiện TĐT; Và đặc biệt lưu ý các Cục cần thu thập đầy đủ số liệu, đẩy mạnh tiến độ thu thập và nghiệm thu phiếu giai đoạn 1, đồng thời khẩn trương tiến hành các công đoạn chuẩn bị cho giai đoạn 2./.

Bích Thủy

THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG THÉP VIỆT 2017

ThS. Bùi Thị Kim Cúc – ThS. Trần Quang Việt

Đại học Công nghiệp Hà Nội

Trong xu thế hội nhập chung, ngành Thép đang nỗ lực nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh, với mức tăng trưởng được dự báo đạt khoảng 12% trong năm 2017 cùng những triển vọng phát triển mới. Tuy nhiên, trước cánh cửa hội nhập ngày càng rộng mở cũng đang đặt ra cho các doanh nghiệp ngành Thép không ít sức ép cạnh tranh. Đặc biệt khi thuế suất nhập khẩu hàng hóa bằng 0%, thép nước ngoài nhập khẩu càng có cơ hội tràn vào và thị trường xuất khẩu cũng gặp khó khăn bởi biện pháp phòng vệ thương mại của nhiều quốc gia.

Thách thức đan xen cùng cơ hội

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tổng năng lực sản xuất của ngành Thép trong nước vào khoảng 32 triệu tấn/năm. Cụ thể, năng lực sản xuất thực tế của Việt Nam ở mặt hàng phôi thép là 12 triệu tấn/năm, thép cán 12 triệu tấn/năm, tôn mạ phủ màu 5 triệu tấn/năm, thép ống 3 triệu tấn/năm. Với quy mô này, ngành Thép Việt Nam được đánh giá đang đứng đầu các nước Đông Nam Á.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê 4 tháng năm 2017 sản xuất thép trong nước tăng trưởng tốt, trong đó: Sắt thép thô đạt 1911,7 nghìn tấn, tăng 30,1% so với cùng kỳ năm 2016; thép cán đạt 2009,4 nghìn tấn, tăng 29,3%; và thép thanh, thép góc đạt 1645,2 nghìn tấn, tăng 8,6%. Với năng lực sản xuất hiện tại, ngành thép Việt Nam có khả năng đáp ứng 100% nhu cầu trong nước về phôi thép, thép xây dựng và thép cán nguội (khoảng 7-8 triệu tấn/năm). Tuy nhiên, chủng loại thép tấm cán nóng là nguyên liệu đầu vào cần thiết cho nhiều ngành như sản xuất thép cán nguội, tôn mạ, ống thép, đóng tàu, cơ khí chế tạo, có nhu cầu lớn (khoảng 10 triệu tấn/năm) trong nước lại chưa sản xuất được, hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu. Thực tế cho thấy, mặc dù các doanh nghiệp thép trong nước đã sản xuất được nhiều chủng loại thép khác nhau nhưng số lượng thép nhập khẩu vẫn tăng mạnh, như: Phôi thép, tôn mạ và sơn phủ màu và chiếm tới trên 50% thị phần nội địa, ảnh hưởng rất lớn đối với thị trường trong nước. (…)

Giải pháp đối mặt với khó khăn thách thức

Đối diện với những sức ép cạnh tranh trong hội nhập, ngành Thép đã không ngừng nỗ lực cải tổ và áp dụng các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành. Việt Nam đã áp thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng sắt thép nhập khẩu, như: Thép không gỉ cán nguội, thép mạ, thép hình chữ H, phôi thép và thép dài… Các chuyên gia khẳng định, việc đưa ra quyết định áp dụng chống bán phá giá đối với một số sản phẩm sắt thép nhập khẩu là biện pháp tự vệ để bảo vệ sản xuất trong nước, phản ứng có lợi cho thị trường, cho nền kinh tế và phù hợp chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên về lâu dài hàng rào thuế quan không phải là giải pháp hữu hiệu. (…)

Theo dự báo đến năm 2020 cả nước sẽ thiếu hụt khoảng 15 triệu tấn thép thô; đến năm 2025, con số này sẽ là 20 triệu tấn, giá trị nhập siêu ngành thép sẽ ngày càng tăng.  Mặc dù các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, song sắt thép trong nước vẫn liên tục phải cạnh tranh về giá với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài tràn vào Việt Nam. Chính vì vậy, trước mắt nước ta vẫn cần tiếp tục áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, tự vệ tạm thời nhằm bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước, đảm bảo cạnh tranh công bằng với hàng nhập khẩu./.

 

THỊ TRƯỜNG DU LỊCH TRỰC TUYẾN – HỨA HẸN SÂN CHƠI SÔI ĐỘNG

Phạm Thị Bích Ngọc - ThS. Nguyễn Quang Khải

Đại học Exeter - Anh

Sự phát triển của thương mại điện tử, các thiết bị di động và xu hướng tiêu dùng online khiến du lịch trực tuyến ngày càng phát triển và đang trở thành một cuộc đua khốc liệt trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là khu vực châu Á. Tại thị trường Việt Nam, du lịch trực tuyến cũng đang bùng nổ mạnh mẽ khi có tới 53% dân số sử dụng Internet. Mặc dù vậy, các đại lý du lịch trực tuyến (Online Travel Agent – OTA) trong nước tham gia còn khá dè dặt, dường như nhường lại sân chơi cho các OTA tên tuổi nước ngoài.

Sân chơi còn bỏ ngỏ

Theo kết quả nghiên cứu của Công ty nghiên cứu thị trường eMarketer, ước tính doanh số du lịch trực tuyến toàn cầu năm 2016 đạt khoảng 565 tỷ USD, tăng 13,8% so năm 2015. Châu Á – Thái Bình Dương và châu Mỹ La tinh là hai thị trường góp phần đáng kể cho sự tăng trưởng nhanh này. Tuy Bắc Mỹ vẫn là thị trường du lịch trực tuyến lớn nhất năm vừa qua, nhưng từ năm 2017, châu Á – Thái Bình Dương sẽ chiếm ngôi đầu, sớm hơn một năm so với dự báo trước đó. Trong đó, sự tăng trưởng nhanh chóng của du lịch trực tuyến ở Trung Quốc là động lực chính cho sự thay đổi này. Đồng thời, nhiều nước khác ở khu vực châu Á cũng có đà tăng trưởng du lịch trực tuyến nhanh hơn dự báo. (…)

Nỗ lực để làm chủ sân chơi

Theo dự báo từ nghiên cứu của Google phối hợp với Temasek (Singapore), thị trường du lịch trực tuyến ở Đông Nam Á sẽ đạt doanh thu 90 tỷ USD vào năm 2020, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 10%, tương đương doanh thu 9 tỷ USD. Trong khối doanh thu 9 tỷ USD từ thị trường trực tuyến, 85% dòng tiền sẽ được chảy vào dịch vụ đặt phòng khách sạn và vé máy bay. Dự báo trên cho thấy Việt Nam sẽ trở thành “miếng bánh” hấp dẫn, có sức hút mãnh liệt đối với các OTA quốc tế, nhất là khi Việt Nam chưa có nhiều OTA dày dặn kinh nghiệm. Điều này đòi hỏi các công ty lữ hành và dịch vụ du lịch của Việt Nam phải nắm bắt cơ hội một cách tương xứng, nếu không muốn để mất thị phần vào tay doanh nghiệp ngoại. (…)

Mong rằng các OTA trong nước sớm tìm được hướng đi riêng, ngày càng lớn mạnh, tạo dựng được thương hiệu vững chắc, tạo niềm tin cho khách hàng và cùng nhau làm chủ sân chơi đang ngày một khốc liệt./.

NHẬN THỨC VÀ TÍNH TOÁN ĐÚNG CHỈ TIÊU THU NHẬP BÌNH QUÂN

ĐẦU NGƯỜI TRONG CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI

Nguyễn Thanh Nghị

Phó cục trưởng Cục Thống kê Quảng Trị

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCHTW Đảng khóa X  “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 491/QĐ-TTg bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Tiếp theo, ngày 21/8/2009 Bộ NN &PT NT đã ban hành Thông tư số 54/2009/TT-BNN&PTNT hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí QG về NTM. Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2011-2020, và mới đây ngày 17/10/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTg Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016-2020.

Đến nay có thể nhìn nhận diện mạo về NTM đã hiện hữu và thể hiện rõ hướng đi sắp tới. Từ bước đi xây dựng thí điểm, mô hình điển hình nhân ra diện rộng, bước đầu đã thực hiện được những kết quả khả quan.

Tuy nhiên, nhiệm vụ về XDNTM là công việc mới mẻ, không ít khó khăn, tốn kém, đòi hỏi phải có thời gian lộ trình phù hợp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, trong thời gian đầu chỉ đạo điểm, triển khai rà soát đánh giá đã xuất hiện một số vấn đề mới nảy sinh, những hạn chế và bất cập. Nội dung chương trình đề ra khá toàn diện tuy nhiên, các chỉ tiêu cũng cần phải thống nhất thêm về: Khái niệm, nội dung và phương pháp thu thập thông tin, cách tính toán, tổng hợp… để tiếp tục hoàn thiện, bổ sung nhằm đạt được tính khả thi cao hơn, hiệu quả hơn, cũng như đảm bảo tính thống nhất, khách quan, đúng, đầy đủ, chính xác,… (…)

- Phương pháp tính: Tỷ số thu nhập bq/ng/năm = 12TNBQ/ng/năm xãNBQ của tỉnh vùng NT type="#_x0000_t75"> 

(Theo công thức tính toán của Vụ XHMT-TCTK quy định cụ thể)

- Nguồn số liệu làm căn cứ tính:

+ Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh vùng nông thôn do CTK điều tra theo dự án WB và tư vấn UNDP, các chuyên gia chọn mẫu Viện KHTK, đang tiến hành điều tra mức sống hộ gia đình 2 năm 1 lần (từ 2002 đến 2010, 2012; 2014) 

- Thu nhập bình quân đầu người của xã:

- Để phục vụ cho XDNTM cấp xã, tính thu nhập cho từng xã, cho khu vực NT, cho từng xã cũng không ngoài phương pháp điều tra mức sống hộ gia đình.

Mong rằng để tránh hiểu sai về chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người trong  XDNTM và có sự thống nhất chỉ đạo của tỉnh, của BCĐ chương trình NTM các cấp quan tâm khi tính toán, công bố, xét duyệt chỉ tiêu này./.

 

THẾ GIỚI – VÀI NÉT PHÁC HỌA GDP CỦA TƯƠNG LAI

Kim Anh

Viện quản lý kinh tế Trung ương – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Dự báo là một yêu cầu khách quan của xã hội và nó càng cấp bách hơn khi mỗi nước và cả thế giới đang trong quá trình hội nhập quốc tế, trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển nhanh (đặc biệt thế giới đã bước vào cuộc Cách mạng Công nghệ lần thứ IV). Chính vì vậy ở mỗi quốc gia và trong phạm vi khu vực cũng như toàn cầu đều có các tổ chức nhà nước, các viện nghiên cứu và nhiều tổ chức quốc tế (đặc biệt các tổ chức tài chính quốc tế),... đẩy mạnh công tác dự báo.

Dưới đây là kết quả dự báo GDP của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho tất cả các nước thành viên (191 nước) từ năm 2020 đến 2060 trên cơ sở database 2014- 2015. IMF đã sử dụng chủ yếu Mô hình Tổng cung (đầu vào) với các yếu tố thuộc về nguồn nhân lực (số lượng, chất lượng,...), vốn đầu tư, và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity); và tất nhiên IMF cũng coi tất cả các nước thành viên từ nay đến năm 2060 vẫn vẹn toàn lãnh thổ.

Một vài kết quả dự báo GDP đến năm 2060 của IMF:

1- Những con số “khủng”

Số nước đạt GDP (danh nghĩa) hàng nghìn tỷ USD không phải là hiếm, “Câu lạc bộ” nghìn tỷ USD  ngày càng có nhiều thành viên:

Nếu năm 1969 cả thế giới mới có nước Mỹ có chỉ tiêu GDP vượt qua nghìn tỷ USD, năm 1980 thêm Nhật Bản, năm 2000: 7 nước (trong đó có Trung Quốc), 2020: 16 nước, 2030: 20 nước, 2040: 28 nước, 2050: 38 nước và năm 2060: 48 nước. Thậm chí, đến năm 2060, Trung Quốc đạt gần 120 nghìn tỷ USD. Riêng Việt Nam gia nhập Câu lạc bộ  này vào khoảng năm 2045. (…)

2. Sao đổi ngôi

Theo dẫy số dự báo GDP (danh nghĩa) nhiều thập kỷ tới, nhiều nước sẽ xuất hiện vào nhóm các nước có GDP  lớn nhất. Chẳng hạn, năm 1990, trong 20 nước có GDP lớn nhất thế giới, chủ yếu là các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, không có nước nào ở  Đông Nam Á, thì năm 2060 có Inđônêxia, (xếp thứ 6), Philipin (xếp thứ 20). (…)

3. Cũng còn khoảng cách khá xa

Nếu theo GDP bình quân đầu người (PPP), 10 nước và lãnh thổ được xếp vào nhóm nước “Top ten”: năm 2030 có chỉ tiêu từ trên 55.839 USD đến 99.800 USD; 2040: 71.431 USD đến 118.049 USD; 2050: 90.158 USD đến 137.710 USD. Rất mừng, trong “Top ten” có sự góp mặt 4 nước và vùng lảnh thổ châu Á (Singapo, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc) ở cả ba năm trên;  Mỹ tụt xuống thứ V trong bảng xếp hạng, châu Phi phải tới năm 2050 mới có sự góp mặt của Saudi Arabia ( 98.311 USD).  Đứng đầu bảng trong cả ba năm trên là Singapo lần lượt đạt: 99.800 USD, 118.049 USD, và 137.710 USD. Việt Nam vẫn còn khoảng cách xa với 10 nước này, khi dự báo năm 2050 Việt Nam đạt trên 30.400 USD.

4. Tăng trưởng kinh tế

Dự báo nền kinh tế thế giới đều có sự tăng trưởng, tuy có chậm dần vào các thập niên sau: (…)

(…) Do vậy việc tăng trưởng 1% của các nước này rất khó khăn so với các nước đang phát triển. Năm 2014, có 43 nước và vùng lãnh thổ đã đạt chỉ tiêu GDP BQĐN từ 20.000 USD- PPP, mức tăng trưởng chung chỉ ở mức trên 2,2%; nhưng với các nước mới đạt GDP BQĐN (> 2000 - < 4000 USD-PPP) thì đạt mức tăng trưởng trên 5%. Còn theo dự báo, các nước thuộc Euro sau khi đạt mức tăng trưởng khoảng 1,94% (2025), sẽ giảm liên tục, và từ sau 2045, mức tăng trưởng chỉ ở mức dưới 1,5% năm; Trung Quốc và Ấn Độ đã từng có mức tăng trưởng trên 10% vào các năm thuộc thập kỷ đầu tiên thế kỷ XXI, các năm sau bắt đầu giảm, với Trung Quốc, từ sau 2025 dưới 4%, và từ sau 2050 chỉ ở dưới 2% , còn Ấn Độ sau 2045 giảm dưới mức 4%/năm./.

HẢI DƯƠNG – THÀNH TỰU 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Nguyễn Dương Thái

Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương

Sau 20 năm tái lập tỉnh (1/1/1997 - 1/1/2017), từ một tỉnh thuần nông, Hải Dương đã có sự phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, xây dựng nền tảng kinh tế - xã hội đồng bộ và vững chắc.

Hải Dương là vùng đất có lịch sử phát triển từ lâu đời, nằm ở đồng bằng Bắc Bộ, thuộc châu thổ sông Hồng; phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía nam giáp tỉnh Thái Bình, phía đông và đông nam giáp thành phố Hải Phòng, phía tây và phía tây nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh. Hải Dương nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, cách Hải Phòng 45 km và cách Hà Nội 57 km. Diện tích tự nhiên là 1668 km2, dân số gần 1,8 triệu người.(…)

Hải Dương đang tập trung phấn đấu để sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu đến năm 2020, cơ cấu kinh tế sẽ là nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 11%; công nghiệp, xây dựng 56%; dịch vụ 33%. Giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2016 - 2020 phấn đấu tăng trưởng bình quân 11%/năm. Để tiếp tục khẳng định vị thế ngành kinh tế trọng yếu, tỉnh đã hoàn thiện quy hoạch và định hướng phát triển công nghiệp. Các ngành Công nghiệp đang tái cơ cấu theo hướng tập trung phát triển, nâng cao năng lực và tỷ trọng sản phẩm có lợi thế, có giá trị nội địa cao như: Điện tử, viễn thông, thép chất lượng cao, ô tô, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm, công nghiệp phụ trợ ngành cơ khí, may, da giày.(…)

Với những thành tích đã đạt được, năm 2017, Hải Dương vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Từ những thành quả đã đạt được trong 20 năm qua, trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy, rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi đổi lề lối tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, tạo lập môi trường minh bạch, thông thoáng, thuận lợi cho đầu tư, sản xuất – kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), phấn đấu xây dựng Hải Dương sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)