English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 4/2017 (518)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 4/2017 (518)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Hội thảo thống kê về việc làm phi chính thức tại Việt Nam

Họp báo công bố một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình phát triển doanh nghiệp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2016

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 4 tháng đầu năm 2017

FDI ở Việt Nam – 30 năm nhìn lại

¨ THU HÒA

Công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2016: Đà Nẵng tiếp tục giữ ngôi đầu bảng

Đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

¨ MINH HẢI

Xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam và các quốc gia ASEAN

¨ TS. LÊ TUẤN LỘC

Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam

¨ THU HƯỜNG

Năm 2017: Nhiều biến động cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam?

¨ BÍCH NGỌC

Một số giải pháp phát triển bền vững giao thông đường bộ của đô thị Việt Nam

¨ ThS. NGUYỄN VĂN HIẾU

Chương trình phát triển nhà ở xã hội: Những kết quả đạt được

¨ ThS. TRẦN ÁNH NGỌC

Bắc Ninh: Phát triển công nghệ cao qua con số thống kê

¨ NGHIÊM ĐÌNH THUẬN

Để du lịch trở thành thế mạnh về phát triển kinh tế ở Lào Cai

¨ ThS. NGUYỄN MAI THÚY

Định hướng thị trường xuất khẩu cá tra An Giang trong thời gian tới

¨ ThS. TRƯƠNG VĂN TẤN

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

Vận dụng phương pháp chỉ số trong phân tích thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa

¨ TS. ĐẶNG VĂN LƯƠNG

Định danh hợp tác xã nông nghiệp, thực trạng và kiến nghị

¨ TRẦN THANH BÌNH

QUỐC TẾ

Khủng hoảng di cư Châu Âu: Thực trạng và thách thức

VUI VUI THỐNG KÊ

LÀO CAI – THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG

Lào Cai với Tổng điều tra kinh tế năm 2017

Bảo Yên phát huy lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội

Xã Phong Niên: Phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2017

Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Lào Cai: Phát triển nguồn vốn, đầu tư hiệu quả góp phần bảo đảm an sinh xã hội

Sở Y tế Lào Cai nỗ lực hướng tới sự hài lòng của người bệnh

Trung tâm Y tế Mường Khương thực hiện hiệu quả chương trình y tế trên địa bàn

Bệnh viện đa khoa huyện Văn Bàn: không ngừng nâng cao y đức và chất lượng khám chữa bệnh cho bệnh nhân

Bệnh viện nội tiết tỉnh Lào Cai – nâng cao chất lượng công tác dự phòng và điều trị bệnh

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 4/2017

 

HỌP BÁO CÔNG BỐ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU PHẢN ÁNH TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG NĂM 2016

Ngày 11 tháng 4 năm 2017 tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê (TCTK) phối hợp với Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đồng tổ chức Họp báo công bố một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình phát triển doanh nghiệp các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương năm 2016.

Tham dự buổi Họp báo có Ông Phạm Quang Vinh, Phó Tổng cục trưởng TCTK; ông Nguyễn Hồng Long, Phó Trưởng ban, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp; ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; đại diện lãnh đạo và chuyên viên các đơn vị thuộc TCTK, Cục Phát triển doanh nghiệp, Cục Đăng ký Kinh doanh, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các Bộ, Ngành liên quan; cùng đông đảo phóng viên các cơ quan báo chí và truyền thông.

Tại buổi Họp báo, các đại biểu đã được nghe ông Phạm Quang Vinh, Phó Tổng cục trưởng TCTK giới thiệu một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình phát triển doanh nghiệp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2016 và giai đoạn 2000-2015. Theo đó, tổng số doanh nghiệp trên phạm vi cả nước tính đến thời điểm ngày 31-12-2016 là 477,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 8% so với năm 2015. Trong đó, số doanh nghiệp thành lập mới cả nước năm 2016 đạt kỷ lục 110,1 nghìn, tăng 16,2% so với năm 2015. Riêng vùng Trung du và miền núi phía Bắc tăng 20,2%; đồng bằng sông Hồng tăng 18,3%; Đông Nam Bộ tăng 15,4%. Tuy nhiên, số doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký trên phạm vi cả nước cũng rất lớn, gần 20 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,3% so với năm 2015. Có 55/63 số tỉnh, thành phố có số doanh nghiệp ngừng hoạt động trong năm 2016 tăng so với năm 2015, còn lại chỉ có 8 tỉnh, thành phố có số doanh nghiệp ngừng hoạt động giảm hoặc không tăng. Bên cạnh đó, cả nước có 26,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2016 sau một thời gian ngừng hoạt động và 12,5 nghìn doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể, tăng 31,8% so với năm 2015. 

Buổi họp báo cũng dành thời gian để các đại biểu đưa ra các câu hỏi về tình hình phát triển doanh nghiệp, những khó khăn tồn tại và hướng giải quyết và đã được Lãnh đạo TCTK và các cơ quan liên quan giải đáp thoả đáng./.

 

FDI Ở VIỆT NAM – 30 NĂM NHÌN LẠI

            Thu Hòa

 

Hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu thực hiện từ những năm 80 bằng các liên doanh thăm dò, khai thác dầu khí và trồng cao su theo các hiệp định song phương giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ Liên Xô và một số nước Xã hội chủ nghĩa lúc đó. Hoạt động này được chính thức triển khai rộng rãi từ sau năm 1987 theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên được Quốc hội thông qua tháng 12/1987. (…)

30 năm thu hút FDI – những giá trị nhận được

Số liệu thống kê cho thấy, trong 3 năm đầu (1988-1990) nước ta đã thu hút được 1,6 tỷ USD. Đến giai đoạn 1991-1995, thu hút được trên 17 tỷ USD. Giai đoạn 1996-2000, nhờ kết quả thu hút được ở giai đoạn trước đã tạo tiền đề cho dòng vốn này chảy mạnh vào Việt Nam. Năm 1996 với con số kỷ lục lần đầu tiên đạt gần 10 tỷ USD và tạo nên làn sóng FDI đầu tiên ở nước ta. Đến giai đoạn 2001 - 2005 là thời kỳ thu hút FDI gặp nhiều khó khăn, dòng vốn FDI vẫn duy trì nhưng không bằng giai đoạn 1996-2000 (khoảng 20,8 tỷ USD trong khi giai đoạn trước là 25,5 tỷ USD). (…)

Ngoài ra, FDI thực sự đã tạo ra một lượng công việc lớn đồng thời cũng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta một cách đáng kể.Lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng, năm 2010, khu vực FDI đã thu hút trên 1,7 triệu lao động trực tiếp, trong đó lao động trực tiếp làm việc trong khu vực công nghiệp chiếm gần 80%, năm 2015 là 2,2 triệu lao động. Ngoài ra, FDI còn tạo việc làm cho khoảng 2,5 triệu lao động gián tiếp. Khu vực FDI được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý. Một bộ phận trong đó đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài.

…và những hạn chế

Mặc dù đạt được những kết quả khá quan trọng, song với 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta cũng đã có không ít những ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Sự mất cân đối về ngành nghề là biểu hiện rõ nhất đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, bởi với mục tiêu cao nhất của mọi nhà đầu tư là lợi nhuận, chính vì vậy, với những lĩnh vực, ngành có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không mang lại nhiều lợi nhuận thì hầu như không thu hút được đầu tư nước ngoài. (...)

Định hướng thu hút FDI thời gian tới

Theo phân tích của các chuyên gia, FDI ở Việt Nam hiện đang tác động hai chiều, bên cạnh sự đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế thì FDI còn có tác tộng tiêu cực đến các doanh nghiệp nội địa và dần chiếm ưu thế tại thị trường trong nước. Định hướng của nước ta thời gian tới thu hút FDI cần phải được điều chỉnh theo hướng chuyển từ thiên về số lượng như trước đây, sang chú trọng nhiều hơn đến hiệu quả thu hút và nâng cao chất lượng đầu tư, tận dụng tối đa nguồn FDI để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả, thực hiện nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ưu tiên thu hút các dự án FDI có công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường.(…)/.

 

NĂM 2017:  NHIỀU BIẾN ĐỘNG CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ

VIỆT NAM?

Bích Ngọc

Ngay từ những tháng đầu năm 2017, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phải đối mặt với không ít khó khăn do lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc tăng mạnh, đặt biệt từ các thị trường trong khu vực ASEAN, do Việt Nam thực hiện lộ trình giảm thuế như đã cam kết. Trước tình hình đó, các Bộ, ngành đã nhanh chóng vào cuộc để tìm ra các giải pháp nhằm gỡ khó cho ngành sản xuất ô tô trong nước nhưng rất cần những chính sách rõ ràng, ổn định, nhất quán bởi thời gian không còn nhiều. 

Sức ép nhập khẩu và những khó khăn nội tại

Theo Tổng cục Thống kê, lượng ô tô nhập khẩu về thị trường Việt Nam trong những năm qua tăng mạnh. Nếu như năm 2013, Việt Nam chỉ nhập khẩu 34 nghìn chiếc ô tô, thì trong năm 2014 lượng ô tô nhập là 72 nghìn chiếc, tăng gấp đôi so năm trước đó và năm 2015 là 125 nghìn chiếc, tăng 74% so năm 2014. Dù năm 2016, lượng ô tô nhập khẩu giảm nhẹ, chỉ đạt 115 nghìn chiếc, giảm 8% so năm 2015, song trong 3 tháng đầu năm 2017 tình hình nhập khẩu ô tô tăng mạnh trở lại, với 28 nghìn chiếc, tăng 43,4% so cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý là theo Tổng cục Hải quan, lượng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc từ ASEAN tăng tới 76%, chủ yếu từ Indonesia, Thái Lan.(…)

Bộ Công Thương cũng đánh giá thời gian vừa qua, ngành công nghiệp ô tô nước ta chưa đạt được mục tiêu cả về tham gia chuỗi cung ứng thị trường thế giới, cũng như việc tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm trong nước do dung lượng thị trường nhỏ, thiếu liên kết và yếu trong khâu chuyển giao công nghệ. Tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân đạt thấp, bình quân khoảng 7-10%, trong đó Thaco đạt 15-18%, Toyota Việt Nam đạt 37% đối với riêng dòng xe Inova, thấp hơn nhiều so mục tiêu của Chiến lược và Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 đề ra là 40% vào năm 2005 và 60% vào năm 2010 đối với loại xe thông dụng như xe tải, xe khách. (…)

Sự vào cuộc nhanh chóng của các Bộ, ngành

Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định Việt Nam là thị trường tiềm năng đối với ngành sản xuất ô tô với quy mô dân số gần 100 triệu dân, GDP bình quân đầu người và tỉ lệ dân số tầng lớp trung lưu ngày một tăng. Từ năm 2010 đến năm 2016, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng gần 2 lần, từ 1.273 USD lên mức 2.215 USD (theo Tổng cục Thống kê), vượt qua ngưỡng mong đợi của các hãng xe lớn tại Việt Nam. Thị trường tiêu thụ ô tô Việt Nam được đánh giá là đang trên đà tăng trưởng tốt. Riêng năm 2016, thị trường ôtô Việt Nam lập kỉ lục về lượng xe bán ra, đạt trên 304 nghìn chiếc, tăng 24% so năm trước; tức là cứ mỗi ngày có khoảng 834 xe ôtô đến tay người tiêu dùng (Số liệu Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam –VAMA). (…)

Có thể thấy thời gian để ngành sản xuất ô tô trong nước vươn lên, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu còn quá ít do lộ trình giảm thuế đã được thực hiện và chỉ còn chưa đầy 1 năm nữa thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các thị trường ASEAN về 0%. Vì vậy, các giải pháp trên cần nhanh chóng được hiện thực hóa và cần có những chính sách rõ ràng, ổn định và nhất quán để giữ chân các nhà đầu tư, các nhà sản xuất, lắp ráp tiếp tục đầu tư vào thị trường Việt Nam, giúp ngành công nghiệp ôtô trong nước duy trì và phát triển./.

 

BẮC NINH: PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO QUA

CON SỐ THỐNG KÊ

Nghiêm Đình Thuận

Cục trưởng, Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh

Quá trình phát triển

Khi mới tái lập tỉnh (năm 1997), Bắc Ninh vẫn còn là một tỉnh thuần nông, lại là tỉnh “đất chật, người đông” nên mặc dù có thế mạnh về các làng nghề truyền thống… nhưng hầu hết đều sử dụng công nghệ lạc hậu, lao động thô sơ để sản xuất. Vì thế, ngay trong những năm cuối của thế kỷ XX, Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân và UBND tỉnh Bắc Ninh đã nhận thức được và xác định: nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển KT-XH của tỉnh trong những năm tiếp theo là xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN) tập trung, cụm công nghiệp làng nghề, đa nghề vừa và nhỏ. Trong đó, xây dựng và phát triển các KCN là nhiệm vụ mang tính đột phá, mũi nhọn để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành công nghiệp ứng dụng và sản xuất sản phẩm công nghệ cao. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để xây dựng hình ảnh “Bắc Ninh văn hiến, năng động và phát triển”. (...)

Mặc dù, số DN ứng dụng CNC và DN sản xuất sản phẩm CNC còn ít, nhưng với quy mô vốn đầu tư lớn, dây truyền sản xuất hiện đại, quy trình kiểm soát sản phẩm đầu ra tiên tiến, thương hiệu quốc tế đã nhanh chóng đưa quy mô sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh phát triển vượt bậc, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Kết quả hoạt động

Về vốn đầu tư đăng ký, tính đến ngày 31/12/2016, 40 DN ứng dụng CNC và 5 DN sản xuất sản phẩm CNC có tổng vốn đăng ký 7,6 tỷ USD (bao gồm cả vốn đăng ký lần đầu và điều chỉnh tăng thêm). So với toàn tỉnh, chỉ chiếm 4,8%/tổng số dự án FDI được cấp phép đầu tư, nhưng lại chiếm tới 61,8% về vốn đăng ký. (…)

Về lao động, đến hết năm 2016 tỉnh Bắc Ninh có 194 nghìn lao động đang làm việc trong các DN và dự án FDI, trong đó số lao động đang làm việc trong các DN ứng dụng CNC và DN sản xuất sản phẩm CNC là 81,7 nghìn người, chiếm 42,1%/tổng lao động DN FDI và chiếm 26,5%/tổng lao động trong các DN độc lập đang hoạt động của tỉnh Bắc Ninh. (…)

Về doanh thu, năm 2000 (khi DN đầu tiên ứng dụng CNC trong sản xuất) đi vào hoạt động, doanh thu đạt 510 tỷ đồng, tuy chiếm tới 34,3% tổng doanh thu của các DN ngành công nghiệp chế biến, nhưng chỉ chiếm 14,4%/tổng doanh thu của các DN độc lập đang hoạt động; tương tự, năm 2005 có 2 DN và doanh thu đạt 599 tỷ đồng, chiếm 39,5% và chiếm 5,8%. (…)

Về hiệu quả, với quy mô sản xuất lớn, lại có trình độ quản lý tiên tiến, nhiều công đoạn được ứng dụng CNTT, nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN này rất cao. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2015, lợi nhuận trước thuế của các DN ứng dụng CNC và DN sản xuất sản phẩm CNC đạt 43 nghìn tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần đạt 8,8%; trong đó lợi nhuận của các DN sản xuất sản phẩm CNC là 42,7 nghìn tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận đạt 10,8%. (…)

Vì thế, trong thời gian tới, các cấp, các ngành cần có sự phối hợp chặt chẽ trong hành động nhằm thực hiện có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ DN trong nước tham gia chuỗi cung ứng và sản xuất sản phẩm CNC để đẩy mạnh hơn nữa quá trình CNH-HĐH theo hướng công nghiệp CNC và bền vững, hướng tới mục tiêu xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, trở thành thành phố trực thuộc trung ương vào những năm 20 của thế kỷ XXI theo hướng văn minh, hiện đại; và, hướng tới là một trong những thành phố sáng tạo nhất châu Á, theo đề xuất của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong buổi làm việc với tỉnh Bắc Ninh ngày 12/2/2017./.

 

ĐỂ DU LỊCH TRỞ THÀNH THẾ MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở LÀO CAI

 

ThS. Nguyễn Mai Thúy

Trường Chính trị tỉnh Lào Cai

 

Với vị trí cầu nối trên tuyến hành lang kinh tế Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh, đặc biệt từ khi tuyến đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai được đưa vào sử dung, lượng khách du lịch đến Lào Cai ngày một tăng. Phát huy lợi thế vốn có cùng với việc triển khai thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Nhà nước và của Tỉnh, đến nay du lịch thực sự trở thành thế mạnh để phát triển kinh tế của Lào Cai.

Tiềm năng, lợi thế

Nằm trong khu vực Tây Bắc, Lào Cai được đánh giá là tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, mang nét đặc trưng độc đáo, riêng có của vùng đất “Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”. Đến Lào Cai, du khách trong và ngoài nước có dịp được chinh phục đỉnh Phan xi păng cao nhất Đông Dương;  thăm một số địa phương có khí hậu quanh năm mát mẻ như: Bắc Hà, Sa Pa; thăm bãi đá cổ huyền bí; các di tích lịch sử được xếp hạng; tìm hiểu những nét văn hóa đặc trưng từ chữ viết, trang phục, kiểu dáng nhà ở, văn hóa ẩm thực, tâm linh của 25 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn … Đây là những điều kiện thuận lợi để Lào Cai phát triển kinh tế du lịch. (…)

Kết quả từ những nỗ lực không ngừng

Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với phát triển kinh tế của địa phương, Lào Cai đã ban hành nhiều chính sách thuận lợi cho phát triển du lịch, như: Nghị quyết số 39/NQ-HĐND, ngày 11/12/2015 về Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030. (…)

Một số đề xuất trong thời gian tới

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng việc phát triển du lịch tại Lào Cai cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của Tỉnh. Cụ thể như: Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả; tình trạng mất an ninh, an toàn, hiện tượng đeo bám, chèo kéo khách vẫn xảy ra; Cơ sở hạ tầng du lịch còn khiêm tốn, chưa có những dự án quy mô, đột phá; Hạ tầng giao thông đến các tuyến điểm du lịch chưa thuận lợi, thiếu bến bãi; Các sản phẩm, hoạt động du lịch còn đơn điệu, chưa đa dạng; Tính chuyên nghiệp trong dịch vụ du lịch chưa cao; Nhận thức của đồng bào để xây dựng văn hóa trong du lịch còn hạn chế...

Năm 2017, du lịch Lào Cai đặt ra nhiều mục tiêu phấn đấu đón 3,1 triệu lượt khách, trong đó, khách quốc tế 760 nghìn lượt, khách nội địa 2,3 triệu lượt, mang về tổng doanh thu ước đạt 7,8 nghìn tỷ đồng. Để cụ thể hóa được những con số này, đồng thời tạo tiền đề cho du lịch Lào Cai phát triển ổn định, bền vững, theo chúng tôi cần lưu ý một số vấn đề như sau:

Một là, cần đa dạng các sản phẩm du lịch, mở thêm các tour, tuyến để phục vụ du khách được tốt hơn, đồng thời từng bước khắc phục những yếu kém về hạ tầng.

Hai là, tăng cường liên kết với các địa phương khác, phổ biến sâu rộng hơn nữa Chỉ thị 14/CT-TTg, truyền tải nội dung tới đông đảo người dân, tạo chuyển biến thực sự; chủ động chuẩn bị thật tốt cho Năm Du lịch quốc gia 2017; (…)

Ba là, tiếp tục tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tại các khu tham quan, nghỉ dưỡng, như: Sa Pa, Bắc Hà, Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai, Khu du lịch tâm linh đền Bảo Hà, Di tích lịch sử Đền Thượng… (…).

Với những chỉ tiêu được đề ra cho đến năm 2030, cùng với sự nỗ lực vào cuộc của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, hy vọng du lịch Lào Cai sẽ là ngành kinh tế đột phá, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương./.

 

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ   

TRONG PHÂN TÍCH THỐNG KÊ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

 

TS. Đặng Văn Lương                                                                                                Đại học Thương Mại, Hà Nội

Chỉ số là một trong những phương pháp được vận dụng phổ biến trong đánh giá và phân tích thống kê. Tùy thuộc vào mục đích đánh giá, phân tích và khả năng thu thập số liệu của các hiện tượng kinh tế xã hội cụ thể mà có thể áp dụng phương pháp chỉ số một cách linh hoạt cho phù hợp và có ý nghĩa.

Dưới đây bài báo sẽ đi sâu nghiên cứu việc vận dụng phương pháp chỉ số để tính toán đánh giá và phân tích kết quả xuất nhập khẩu thông qua số liệu thống kê tổng hợp hàng năm.

1. Vận dụng chỉ số giá XK và NK để phân tích kết quả XNK.

Lấy chỉ số phát triển về kim ngạch xuất hay nhập khẩu trong kỳ (phản ánh biến động chung cả giá và lượng – Ipq) chia cho chỉ số giá xuất hay nhập khẩu của kỳ đó (Ip) sẽ được chỉ số (tốc độ phát triển) về khối lượng xuất hay nhập khẩu (Iq) tức là được chỉ số kim ngạch xuất nhập khẩu theo giá so sánh(…)

2. Vận dụng chỉ số tỷ giá giá cánh kéo giữa XK và NK để phân tích kết quả XNK

Chỉ số tỷ giá giá cánh kéo giữa XK và NK hay chỉ số điều kiện xuất nhập khẩu (ngoại thương) là một chỉ tiêu số tương đối tính bằng số lần hay phần trăm (%) phản ánh mối quan hệ chéo giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu chung toàn bộ hàng hóa, riêng các nhóm hàng, từng thị trường, khu vực thị trường qua thời gian và thường được tính theo quý, 6 tháng hoặc năm.

Qua chỉ số tỷ giá giá cánh kéo giữa XK và NK sẽ cho ta thấy rõ điều kiện xuất, nhập khẩu hay điều kiện ngoại thương của một quốc gia đang gặp thuận lợi hay khó khăn; thấy được trong quan hệ xuất, nhập khẩu trong kỳ của quốc gia đó đang được lợi hay bị thua thiệt do biến động giá cả, cụ thể là:

- Nếu chỉ số tỷ giá giá cánh kéo giữa XK và NK trong kỳ tăng lên (trị số của chỉ số lớn hơn 1) thì điều đó có nghĩa là điều kiện xuất, nhập khẩu trong kỳ của quốc gia đó đang được lợi về giá, hay đang có điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu nên cần tranh thủ gia tăng tốc độ xuất, nhập khẩu để thu được nhiều lợi nhuận từ xuất, hay nhập khẩu.

- Ngược lại, nếu chỉ số tỷ giá giá cánh kéo giữa XK và NK trong kỳ giảm (trị số của chỉ số nhỏ hơn 1) thì có nghĩa là điều kiện xuất, nhập khẩu trong kỳ của quốc gia đó đang bất lợi hay thua thiệt về giá, trong điều kiện này cần xem xét hạn chế lại hoạt động xuất, nhập khẩu và tìm cách để cải thiện tình hình rồi mới tiếp tục đẩy mạnh xuất, nhập khẩu.

Chỉ số tỷ giá giá cánh kéo giữa XK và NK có thể tính trực tiếp từ quan hệ tỷ giá từng mặt hàng giữa XK và NK qua thời gian hay tính gián tiếp từ các chỉ số giá xuất khẩu và chỉ số giá nhập khẩu qua thời gian tương ứng. (…)

Tóm lại, chỉ số là phương pháp rất quan trọng và được áp dụng phổ biến trong công tác phân tích thống kê. Tuy nhiên để vận dụng tốt phương pháp chỉ số cần nắm vững nội dung và phương pháp tính của chỉ số, biết vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế cụ thể nhằm trả lời mang tính chất định lượng của các câu hỏi cần thiết phục vụ cho yêu cầu quản lý và điều hành.

 

KHỦNG HOẢNG DI CƯ CHÂU ÂU – THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC

Theo tổ chức Di cư quốc tế (IOM), nếu như năm 2014 số người di cư sang châu Âu chỉ ở con số xấp xỉ 220  nghìn người thì năm  2015 con số này đã tăng hơn bốn lần và ước tính tăng gấp 6 lần trong năm 2016.  Riêng năm 2015 đã có tới 972 nghìn người  vượt biển để thực hiện giấc mơ tới miền đất hứa, trong khi chỉ có 34 nghìn người đi bằng đường bộ. Trong hành trình gian nan và đầy mạo hiểm, gần 4 nghìn người di cư đã thiệt mạng. Có thể nói  đây là cuộc khủng hoảng di cư tồi tệ nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2. (…)

Phương án tối ưu để giải quyết cuộc khủng hoảng di cư hiện nay là chấm dứt tình hình bất ổn đang gia tăng tại quê hương của những người tị nạn ở Trung Đông và Bắc Phi. Song giải pháp này chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở cộng đồng quốc tế và châu Âu, đặc biệt là EU, phải có chính sách thống nhất và phối hợp hành động có trách nhiệm.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, EU phải có cơ chế để các nước giàu giành thêm nguồn lực hỗ trợ cho các hoạt động tiếp nhận và tạo điều kiện cho người di cư hòa nhập vào cộng đồng của châu lục theo hướng: Hỗ trợ hội nhập vào cộng đồng sở tại và tìm việc làm. Đồng thời, tăng cường cung cấp tài chính cho những quốc gia ở gần nguồn dân di cư; hỗ trợ các hoạt động quản lý biên giới ngoài của EU; xây dựng hệ thống pháp lý để tái định cư những người tỵ nạn và thu hút nhân lực có trình độ phù hợp. Ngoài ra, cần nêu cao trách nhiệm cộng đồng quốc tế, nhất là Liên hợp quốc trong giải quyết cuộc khủng hoảng di cư. Dư luận quốc tế cho rằng, để giải quyết có hiệu quả cuộc khủng hoảng này, các nước châu Âu cần thúc đẩy các nỗ lực kinh tế, ngoại giao,… nhằm giúp các nước khu vực Bắc Phi - Trung Đông ổn định kinh tế, loại trừ khủng bố, chấm dứt xung đột, lập lại hòa bình. Cuối cùng, EU cần triển khai, xây dựng các chính sách dài hạn hơn như tập trung vào việc tái định cư người nhập cư, tăng cường đầu tư vào việc quản lý khủng hoảng ở các quốc gia láng giềng mới có thể giúp làn sóng di cư lắng xuống.

 

LÀO CAI VỚI TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017

Thực hiện Quyết định số 1672/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Tổng điều tra kinh tế năm 2017 và phương án Tổng điều tra của Ban Chỉ đạo trung ương, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế tỉnh Lào Cai đã xây dựng kế hoạch, thành lập ban chỉ đạo các cấp, tập huấn và khẩn trương tiến hành Tổng điều tra trên địa bàn.

Những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai có những bước phát triển tích cực, Tỉnh đã khai thác và phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, cả về du lịch dịch vụ, kinh tế cửa khẩu, phát huy truyền thống, kinh nghiệm, nền tảng sẵn có để phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu kinh tế của Tỉnh chuyển dần từ sản xuất nông nghiệp là chính sang sản xuất công nghiệp, dịch vụ - du lịch. Dịch vụ thương mại phát triển nhanh, bước đầu phát huy được thế mạnh của Khu kinh tế cửa khẩu và khu du lịch Sa Pa. (…)

Tính đến hết năm 2016, toàn Tỉnh có gần 3600 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh, thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” có hiệu quả; góp phần tạo môi trường đầu tư lành mạnh, hấp dẫn các doanh nghiệp đầu tư vào Lào Cai. (…). Nhờ đó, giai đoạn 2011 – 2016, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Tỉnh đạt trện 104 nghìn tỷ đồng, góp phần giảm dần tỷ trọng vốn ngân sách nhà nước, tăng nhanh nguồn vốn tín dụng của các thành phần kinh tế. Từ thực tế trên, đồng thời nắm rõ tinh thần của cuộc Tổng điều tra, Chính quyền, Ban chỉ đạo Tổng điều tra các cấp, các sở, ban, ngành địa phương, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cùng nhân dân Lào Cai đã chung sức, chung lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi Tổng điều tra kinh tế 2017.

                                                                                                    Thành Nam

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 5/2018 (530)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 4/2018 (529)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 3/2018 (528)