English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 3/2017 (517)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 3/2017 (517)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Quyết định về tổ chức Tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ

Tổng cục Thống kê tiến hành Tổng điều tra kinh tế năm 2017 trên phạm vi cả nước

Một số nội dung chủ yếu trong phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2017

Một số điểm mới về điều tra doanh nghiệp trong Tổng điều tra kinh tế năm 2017

¨ TS. PHẠM ĐÌNH THÚY

Một số lưu ý trong triển khai Tổng điều tra kinh tế 2017 đối với khối Hành chính sự nghiệp

¨ ThS. BÙI TRỌNG TÚ

Quảng Trị: Quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2017

¨ NGUYỄN QUÂN CHÍNH

Thái Nguyên: Tổng kết TĐT NT, NN và thủy sản năm 2016 và triển khai kế hoạch Tổng điều tra kinh tế năm 2017

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 3 tháng đầu năm 2017

Việt Nam một thập kỷ hội nhập WTO

¨ ThS. LƯƠNG THỊ THU HẰNG – ThS. LÊ THỊ LOAN

Năm APEC 2017 những cơ hội cho Việt Nam

¨ ThS. DƯƠNG DANH ĐẠT

Thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2015

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – những vấn đề đặt ra cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam

¨ ThS. NGUYỄN ĐẠI LÂM

Giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

¨ ThS. TRẦN ÁNH NGỌC

Đổi mới giáo dục tiểu học – Những yếu tố làm nên thành công

¨ ThS. Lương Thanh Hà – ThS. ĐẶNG THỊ THÚY DUYÊN

Thực trạng và giải pháp phát triển các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố Hà Nội

¨ ThS. ĐỖ VĂN TRƯỜNG – TS. NGUYỄN THỊ LỆ THÚY

Nông nghiệp Hà Nội tiếp tục đà phát triển

¨ MINH CHÂU

Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào Phú Yên

¨ ThS. HUỲNH VĂN THUẤN – ThS. TRẦN TRUNG HIẾU

Một số đề xuất nhằm phát triển mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

¨ ThS. TRIỆU VĂN CHÚC – TS. NGUYỄN THỊ LỆ THÚY

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

Bộ chỉ tiêu tỉnh công nghiệp hiện đại và phương pháp xác định trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương

¨ NCS. NGUYỄN HUY LƯƠNG

QUỐC TẾ

Đầu tư cho bé gái 10 tuổi: Thách thức và cơ hội đối với cộng đồng toàn cầu

¨ NGỌC LINH

VUI VUI THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 3/2017

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ TIẾN HÀNH TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017

TRÊN PHẠM VI CẢ NƯỚC

 

LTS. Thực hiện Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 26/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ, từ tháng 3/2017, Tổng cục Thống kê triển khai thu thập thông tin Tổng điều tra kinh tế 2017, phóng viên Tạp chí Con số và Sự kiện có buổi trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về vấn đề này.

PV: Tháng 3/2017, Tổng cục Thống kê sẽ tiến hành Tổng điều tra kinh tế năm 2017 trên phạm vi cả nước. Xin Ông cho biết mục tiêu của cuộc Tổng điều tra là gì ?

TS.Nguyễn Bích Lâm: Đây là lần thứ 5 Tổng cục Thống kê tiến hành Tổng điều tra kinh tế (các Tổng điều tra trước tiến hành vào các năm 1995, 2002, 2007 và 2012). Tổng điều tra Kinh tế năm 2017 được tiến hành nhằm đáp ứng các mục tiêu lớn:

Một là, đánh giá sự phát triển về số lượng và lao động của các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp, bao gồm đến cấp đơn vị cơ sở; kết quả sản xuất kinh doanh; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin; cơ cấu và sự phân bổ của các cơ sở, của lao động  theo địa phương, ngành kinh tế, hình thức sở hữu, đáp ứng yêu cầu quản lý của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương;

Hai là, tính toán những chỉ tiêu thống kê chủ yếu năm 2016, là năm đầu tiên thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 theo nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; tính toán GDP của toàn quốc và GRDP của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (theo Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi quy trình biên soạn chỉ tiêu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (GRDP); 

Ba là, bổ sung số liệu và cập nhật cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, dàn mẫu tổng thể về cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp cho các cuộc điều tra chọn mẫu trong thời kỳ tiếp theo của ngành Thống kê, các Bộ, ngành và địa phương.

Phóng viên: So với các cuộc Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp trước đây, Tổng điều tra kinh tế năm 2017 có những điểm gì mới, thưa Ông?

TS.Nguyễn Bích Lâm: Tổng điều tra kinh tế năm 2017 cơ bản kế thừa nội dung, phạm vi các cuộc Tổng điều tra trước nhằm đảm bảo tính so sánh của số liệu. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu quản lý và số liệu trong tình hình mới, Tổng điều tra lần này có một số điểm mới:

Một là, về tên gọi và phạm vi. Tên gọi được rút gọn là TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ, tuy nhiên đối tượng, phạm vi cơ bản kế thừa Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012 nhằm đảm bảo tính so sánh của số liệu giữa hai cuộc Tổng điều tra. Và đây là  lần đầu tiên Tổng điều tra kinh tế thu thập số liệu về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (ngành U – Hoạt động của các tổ chức quốc tế).  

Hai là về thời điểm. Rút kinh nghiệm từ 4 cuộc Tổng điều tra trước đây, việc thu thập số liệu khối hành chính, sự nghiệp sẽ được tiến hành ngay trong giai đoạn một của Tổng điều tra, tháng 3-5/2017 (thay vì ở giai đoạn sau như trong các cuộc TĐT trước), nhằm tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cho việc thu thập số liệu của các đơn vị thuộc khối này, như ngành Giáo dục (cơ sở thường nghỉ hè vào thời gian tháng 7 khi thu thập thông tin trong các Tổng điều tra trước), tăng thời gian thu thập thông tin nhằm đảm bảo đủ phạm vi cho tổng hợp nhanh, nghiệm thu số liệu vào tháng 10, công bố sơ bộ vào tháng 12.

Ba là, sử dụng tối đa nguồn thông tin hồ sơ hành chính từ ngành Thuế, Kho bạc Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước khác như y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa thể thao, thông tin truyền thông. Do vậy, trong thành phần các Ban Chỉ đạo Tổng điều tra ở các cấp đều có sự tham gia của các ngành quản lý Nhà nước có liên quan nhiều đến chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới cơ chế quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; 

Bốn là về cách thức tổ chức và thu thập thông tin. Tổng điều tra kinh tế năm 2017 vẫn được tổ chức kết hợp với điều tra doanh nghiệp và điều tra cá thể năm 2017 nhằm tránh trùng chéo các hoạt động điều tra thống kê. Các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty có hoạt động hạch toán toàn hệ thống thực hiện theo hướng trụ sở chính sẽ ghi thông tin hạch toán toàn hệ thống cho cơ sở trực thuộc nhưng được bổ sung về số lượng Tập đoàn, Tổng công ty. Doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập sẽ do Cục Thống kê tổ chức điều tra. Đối với các cơ sở hành chính, sự nghiệp Trung ương, do việc thu thập thông tin của các Cục Thống kê đối với những đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn rất khó khăn nên sẽ do Ban Chỉ đạo TĐT Trung ương phối hợp với các Bộ, Ngành trực tiếp lập danh sách và thu thập số liệu. Riêng các đơn vị Trung ương của các ngành tổ chức theo hệ thống ngành dọc vẫn do các Ban Chỉ đạo TĐT địa phương thu thập;

Năm là về nội dung thông tin và phiếu điều tra. Do sự phát triển của các hoạt động kinh tế, TĐT lần này mở rộng thêm một số chỉ tiêu nhằm đánh giá sâu hơn kết quả sản xuất kinh doanh, cơ cấu và sự phân bố của các cơ sở, của lao động theo địa phương, ngành kinh tế, hình thức sở hữu… trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như ở mỗi vùng, địa phương, các thông tin chuyên đề về gia công hàng hóa với nước ngoài của doanh nghiệp. Số lượng phiếu điều tra nhiều hơn do tách riêng các hoạt động của cơ sở trực thuộc có hoạt động chuyên ngành khác nhau thuộc khối doanh nghiệp, hành chính sự nghiệp nhằm đảm bảo cho việc tính toán đúng cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và toàn quốc. Ngoài hoạt động y tế, giáo dục Tổng điều tra kinh tế năm 2017 tách thêm các phiếu điều tra đối với hoạt động, văn hóa, thể thao, thông tin, truyền thông là các lĩnh vực đang phát triển nhanh trong khi mức độ chi tiết về thông tin rất hạn chế, phục vụ yêu cầu đánh giá kết quả xã hội hóa, khả năng phát triển của các hoạt động sự nghiệp đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội;

Sáu là công bố thông tin sẽ được thực hiện sớm hơn với nhiều loại ấn phẩm, công bố từng phần theo chuyên đề, nội dung thông tin chi tiết hơn theo ngành kinh tế, khu vực sở hữu.

Phóng viên: Xin ông cho biết vài nét về phương án và cách thức thực hiện cuộc Tổng điều tra lớn nhất năm 2017 này?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Theo Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 26/8/2016 về tổ chức Tổng điều tra kinh tế năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành phương án Tổng điều tra và cách thức tiến hành. Triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã gửi công văn hướng dẫn thành lập Ban chỉ đạo TĐT các cấp từ Trung ương đến địa phương, thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ thường trực giúp việc ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Trung ương. Phương án TĐT đã được Bộ trưởng Bộ KHĐT ban hành theo Quyết định số 1896/QĐ-BKHĐT ngày 26/12/2016 trên cơ sở Quyết định TĐT của Thủ tướng, kế thừa nội dung các cuộc Tổng điều tra trước, khắc phục những bất cập hạn chế và cập nhật những thay đổi của thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước 5 năm qua.

Tổng điều tra kinh tế năm 2017 sẽ được triển khai theo 2 giai đoạn: 01/03/2017 đối với khối doanh nghiệp và hành chính sự nghiệp, 01/7/2017 đối với khối cơ sở SXKD cá thể và tôn giáo tín ngưỡng. Các Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, huyện, xã sẽ thực hiện các công việc theo nội dung và lộ trình ban hành trong phương án, thích hợp với từng khối đơn vị điều tra, nhằm đảm bảo cuối năm 2017 kết quả sơ bộ sẽ được công bố. Ngành Thống kê sẽ tập trung toàn bộ lực lượng, phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành có liên quan từ Trung ương đến địa phương để thực hiện cuộc Tổng điều tra quan trọng này.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Ông!

 

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP

TRONG TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

TS. Phạm Đình Thúy

Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp,

Tổ phó Tổ Thường trực Ban chỉ đạo

Tổng điều tra kinh tế Trung ương

 

Triển khai Quyết định 1672/QĐ- TTg ngày 26 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Tổng điều tra kinh tế năm 2017, ngày 26 tháng 12 năm 2016 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số 1879/QĐ-BKHĐT về việc tổ chức rà soát danh sách doanh nghiệp năm 2017 và Quyết định số 1896/QĐ-BKHĐT về ban hành phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2017. Đây là một trong ba cuộc Tổng điều tra lớn được tiến hành 5 năm/1 lần trên phạm vi cả nước do Tổng cục Thống kê tổ chức thực hiện.

Tổng điều tra kinh tế năm 2017 thu thập thông tin về các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp nhằm đáp ứng các mục đích:

Một là, đánh giá sự phát triển về số lượng cơ sở và lao động của các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp; kết quả sản xuất kinh doanh; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin; cơ cấu và sự phân bổ của các cơ sở, của lao động theo địa phương, ngành kinh tế, hình thức sở hữu, đáp ứng yêu cầu quản lý của Đảng, nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương;

Hai là, tính toán chỉ tiêu thống kê chính thức của các chuyên ngành thống kê, chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (GRDP) năm 2016 theo Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trong nước trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các chỉ tiêu thống kê khác thuộc hệ thống tài khoản quốc gia; 

Ba là, bổ sung số liệu và cập nhật cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, dàn mẫu tổng thể về cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp cho các cuộc điều tra chọn mẫu trong thời kỳ tiếp theo của ngành Thống kê, các Bộ, ngành và địa phương.

Đến nay, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế Trung ương đã chỉ đạo và triển khai tập huấn nghiệp vụ Tổng điều tra cho Ban chỉ đạo Tổng điều tra cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ban chỉ đạo Tổng điều tra Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Công tác triển khai thu thập thông tin Tổng điều tra đang được tiến hành khẩn trương tại các địa phương và Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Điều tra đối với khu vực doanh nghiệp trong Tổng điều tra kinh tế 2017 là một trong những khu vực điều tra quan trọng và phức tạp nhất.

Điều tra doanh nghiệp năm 2017 có những điểm mới cần lưu ý sau:

 Rà soát danh sách doanh nghiệp/cơ sở trực thuộc doanh nghiệp (…)

Về phương án điều tra doanh nghiệp (…)

Một số lưu ý:

- Đối với doanh nghiệp đơn/HTX: Thực hiện phiếu 1A/TĐTKT-DN đồng thời thực hiện các phiếu chuyên ngành từ 1A.2 - 1A.10 tương ứng với ngành SXKD thực tế hoạt động của doanh nghiệp (riêng đối với hợp tác xã, thực hiện thêm phiếu 1A.1/TĐTKT-HTX).

- Đối với doanh nghiệp có cơ sở trực thuộc: Doanh nghiệp thực hiện phiếu 1A/TĐTKT-DN và các phiếu chuyên ngành (đối với cơ sở trực thuộc có 13 số thuế) tương ứng với ngành SXKD thực tế của cơ sở. Nếu trụ sở chính của doanh nghiệp chỉ hoạt động quản lý thì thực hiện thêm phiếu 1D/TĐTKT-VP.

- Phiếu 1A.7.2/ĐTDN-XNKDVTCNH: Hoạt động xuất, nhập khẩu dịch vụ của ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ do Ngân hàng Nhà nước chủ trì thu thập thông tin.

- Đối với phiếu thu thập thông tin các chuyên đề: Thông tin thu thập là của doanh nghiệp không theo cơ sở, Phiếu 1A.2m là phiếu điều tra toàn bộ doanh nghiệp có hoạt động gia công, lắp ráp hàng hoá với nước ngoài và phiếu 1Am là phiếu mẫu, danh sách mẫu do Tổng cục Thống kê chọn (mẫu điều tra được cố định nhiều năm, nếu mất mẫu sẽ không chọn thay thế)./.

 

HỌP BÁO CÔNG BỐ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ - XÃ HỘI

QÚY I NĂM 2017

Thực hiện kế hoạch công tác và lịch phổ biến thông tin thống kê, ngày 29/3/2017, tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tổ chức Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý I năm 2017. Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chủ trì buổi họp báo.

Tham dự buổi họp báo có Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban kinh tế Quốc hội; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc TCTK và đông đảo các cơ quan thông tấn báo chí.

Theo Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2017 của TCTK, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2017 ước tính tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015 và 5,48% của cùng kỳ năm 2016. Trong mức tăng trưởng 5,10% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,03%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,17%, khu vực dịch vụ tăng 6,52%. Về cơ cấu kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,06%; khu vực dịch vụ chiếm 43,99%; thuế và sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,76%.

Cũng theo Báo cáo của TCTK chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây. Quý I/2017, cả nước có 26.478 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 271,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% về số doanh nghiệp và tăng 45,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I theo giá hiện hành ước tính đạt 297,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32% GDP. Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2017 thu hút 493 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.917,2 triệu USD, tăng 4,2% về số dự án và tăng 6,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu quý I lần lượt ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 12,8% và 45,6 tỷ USD tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I tăng 4,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2016. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I ước tính là 2,30%, trong đó khu vực thành thị là 3,21%; khu vực nông thôn là 1,82%. 

Cuối buổi họp báo, lãnh đạo TCTK và lãnh đạo một số Vụ nghiệp vụ đã dành thời gian giải đáp thỏa đáng câu hỏi của các phóng viên, nhà báo./.

T.H

 

VIỆT NAM MỘT THẬP KỶ HỘI NHẬP WTO

ThS. Lương Thị Thu Hằng

ThS. Lê Thị Loan

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

 

Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tính đến nay sau 10 năm gia nhập thể chế thương mại lớn nhất toàn cầu, Việt Nam đã khai thác được nhiều cơ hội từ hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đã đạt được những thành tựu quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, xuất nhập khẩu…

Kết quả đạt được

Do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; cùng với thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra ở trong nước đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn (2007-2016) suy giảm mạnh, chỉ đạt khoảng trên 6,2%, thấp hơn khá nhiều so với giai đoạn 1996-2000 (7%) và 2001-2005 (7,51%) (số liệu của Tổng cục Thống kê). Tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt trên 6,2% song xét trong bối cảnh nhiều yếu tố bất lợi liên tiếp xảy ra thì đây được coi là thành tựu rất quan trọng. Hơn nữa, nếu so với tốc độ tăng trưởng chung của thế giới, GDP của Việt Nam vẫn tăng ở mức cao, đứng vững trong tốp đầu. (…)

Việc gia nhập WTO trong 10 năm qua đã thúc đẩy hoạt động giao thương nhờ mở rộng thị trường. Nổi bật, năm 2016, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu đạt 175,9 tỷ USD, tăng gấp 3,6 lần so với năm 2007 (48,6 tỷ USD). Đến nay, Việt Nam có 25 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Đặc biệt là cán cân thương mại của Việt Nam sau nhiều thập kỷ bị thiên lệch về hướng nhập siêu nay đang cân bằng trở lại. Năm 2012, Việt Nam đã có thặng dư thương mại hơn 700 triệu USD. Sang năm 2013, nhập siêu khoảng 500 triệu USD, đến năm 2014 lại xuất siêu 2,337 tỷ USD. Năm 2015, Việt Nam nhập siêu 3,17 tỷ USD, sang năm 2016 lại xuất siêu 2,68 tỷ USD. Nhập siêu giảm là một trong những tác nhân quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam giảm áp lực tăng tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. (…)

Hạn chế

Sau 10 năm hội nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển đáng ghi nhận. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến hiệu quả thấp, tăng trưởng kinh tế phát triển thiếu bền vững, nhiều vấn đề xã hội, môi trường chưa được giải quyết hiệu quả.

Trong giai đoạn 2007-2016, mặc dù Việt Nam luôn duy trì được mức tăng trưởng khá cao, bình quân trên 6,2% nhưng để đạt được mức tăng trưởng đó, tổng đầu tư cho phát triển luôn ở mức cao (30-46,5%), cao hơn nhiều so với các nước khác. Điều này, chứng tỏ hiệu quả và chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực. (…)

Giải pháp

Để khắc phục những hạn chế, tận dụng triệt để các cơ hội từ WTO mang lại, cần có những cải cách đột phá, đặc biệt là tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục cải cách hành chính triệt để, khắc phục những mặt trái của cơ chế “một cửa”, đổi mới bộ máy hành chính Nhà nước cương quyết và hiệu quả. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, làm minh bạch, lành mạnh hóa môi trường kinh doanh.

Thứ hai, cần sớm xây dựng chiến lược phát triển các ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn 2030, trong đó, vấn đề cốt lõi là tái cơ cấu các doanh nghiệp, các loại dịch vụ cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung những dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, các dịch vụ có giá trị gia tăng cao và phát triển logistics xanh.

Thứ ba, cần nhanh chóng đầu tư phát triển hệ thống logistics của Việt Nam, bao gồm: Cơ sở hạ tầng logistics, thể chế pháp luật về phát triển dịch vụ logistics, phát triển các doanh nghiệp cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics…

Thứ tư, nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ (1-2% GDP) để Việt Nam thực sự sớm có những đột phá về khoa học công nghệ, tạo ra những mặt hàng, những sản phẩm kỹ thuật cao trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực mang lại giá trị cao cho xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ năm, cùng với việc đổi mới thế chế, hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cần giảm và tiến tới hạn chế mức thấp nhất xuất khẩu sản phẩm thô, khoáng sản; tăng xuất khẩu sản phẩm tinh chế, có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao.

Thứ sáu, về vấn đề lao động, ở góc độ đào tạo, cần có những dự báo mang tính chất dài hơi về nhu cầu nguồn nhân lực. Để từ đó, các cơ sở giáo dục thay đổi mô hình cũng như phương pháp đào tạo phù hợp. Ở góc độ sử dụng, cần tạo dựng những môi trường lao động chuyên nghiệp, tạo điều kiện cho người lao động phát huy được tối đa khả năng của mình.

Thứ bảy, đối với vấn đề cơ sở hạ tầng trong bối cảnh năng lực còn nhiều hạn chế, cần tập trung đầu tư có trọng điểm, giải quyết trước những điểm nghẽn trầm trọng. Điều này cần sự xem xét, đánh giá khách quan thay vì cơ chế “bình quân chủ nghĩa” trong phân bổ ngân sách đầu tư./.

 

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

ThS. Trần Ánh Ngọc

Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ, tỉnh Bắc Ninh

 

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có vai trò và sứ mệnh quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước (chiếm khoảng 70%). Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, GDNN ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn nhiều bất cập như: Đào tạo chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động, tình trạng hàng năm có hàng vạn học sinh/sinh viên (HS/SV) tốt nghiệp không tìm được việc làm, trong khi các doanh nghiệp cần nhân lực lại không tuyển dụng được lao động… Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu, rộng với các nước trong khu vực và thế giới, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp sẽ tạo nên diện mạo mới cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở nước ta, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.

Thực trạng đào tạo nghề ở nước ta     

Từ sự nhận thức rõ hạn chế của nhân lực trực tiếp trong các KCN, KCX, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt chú trọng nguồn nhân lực trong các KCN, KCX. Nhờ đó, hệ thống dạy nghề của nước ta đã được củng cố và phát triển mạnh trên toàn quốc với cả ba trình độ (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng), song song với đó là 3 loại hình cơ sở đào tạo nghề đó là Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp nghề (TCN) và cao đẳng nghề (CĐN). Mạng lưới đào tạo nghề ngày càng hoàn thiện đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo. (…)

Bên cạnh đó, GDNN vẫn tồn tại sự mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, chưa đáp ứng nguồn nhân lực của xã hội; mạng lưới cơ sở GDNN chưa phân bố hợp lý giữa vùng miền; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý thiếu về số lượng, một bộ phận trình độ đào tạo, kỹ năng nghề, tin học, ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu; chương trình, nội dung còn chưa sát thực tế, chưa kết hợp với doanh nghiệp...

Giải pháp phát triển

Theo dự báo, đến năm 2025, lực lượng lao động trong nền kinh tế khoảng 63 triệu người, chính vì vậy, giai đoạn 2016-2020, GDNN đặt mục tiêu đào tạo cho 12 triệu người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp cho 3,2 triệu người (10% theo các nghề trọng điểm), trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên cho cho khoảng 8,8 triệu người. Mạng lưới cơ sở GDNN phát triển theo hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội. Hình thành khoảng 70 trường chất lượng cao, 150 nghề trọng điểm, trong đó có 50 nghề cấp độ quốc tế. Phát triển các trường đặc thù, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho 250 nghề...

Để đạt được mục tiêu trên và khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đồng thời tăng cường công tác dạy nghề, bảo đảm đáp ứng kịp thời nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài cho các KCN, KCX, những giải pháp được đưa ra trong thời gian tới là:

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GDNN theo hướng lấy người học làm trung tâm, coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. (…)

Hai là, đổi mới chính sách gắn kết cơ sở GDNN với các bên liên quan như cơ quan quản lý nhà nước về GDNN, đại diện các cơ sở sản xuất bảo đảm cho các hoạt động của hệ thống GDNN hướng vào đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động nói chung và của các KCN, KCX nói riêng. (…)

Ba là, đổi mới cơ chế tài chính, huy động mạnh mẽ sự tham gia đóng góp của xã hội vào quá trình đào tạo, nhất là đóng góp của người học và của các đơn vị sử dụng lao động. (…)

Bốn là, chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GDNN theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước”. (…)

Năm là, chú trọng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền những đổi mới về chủ trương, chính sách, pháp luật về GDNN; những nội dung đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, như đổi mới chương trình và phương pháp dạy và học; hình thức và phương pháp tuyển sinh, thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, GDNN; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo, GDNN; phân luồng và định hướng GDNN ở giáo dục phổ thông; công tác quản lý, trách nhiệm của các cơ sở GDNN…; chương trình, giáo trình; nghiên cứu và ứng dụng khoa học; xã hội hóa giáo dục đào tạo; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và hoạt động giáo dục, đào tạo và dạy nghề../

 

ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO TỈNH PHÚ YÊN

 

ThS. Huỳnh Văn Thuấn, Trường Chính trị tỉnh Phú Yên

ThS. Trần Trung Hiếu, Trường Cao đẳng Thống kê 2

 

Với những thế mạnh về hạ tầng bất động sản nghỉ dưỡng, công nghiệp lọc hóa dầu, nông nghiệp công nghệ cao và tiềm năng du lịch, Phú Yên đang là vùng đất đầy hấp dẫn với các nhà đầu tư.

Thực trạng thu hút đầu tư vào Phú Yên

Phú Yên là tỉnh có nhiều danh thắng cấp quốc gia độc đáo như Khu di tích Kháng chiến, Khu nhà thờ Bác Hồ, Khu di tích Tàu Không Số, Gò Thị Thùng… Bên cạnh đó, có những đầm vịnh, bãi tắm được đánh giá đẹp vào hạng nhất Việt Nam như gành Đá Đĩa, vịnh Xuân Đài, Mũi Điện… Đây là những lợi thế để phát triển du lịch biển, nghỉ dưỡng kết hợp với tham quan thắng cảnh và du lịch thể thao, vui chơi giải trí cao cấp. (…)

Ngoài các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đã được quy định, nếu xét thấy cần thiết, tỉnh sẽ xem xét từng dự án đầu tư cụ thể, để có những ưu đãi, hỗ trợ bổ sung nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án thuận lợi như việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, đào tạo lao động…

Kết quả, năm qua, nhiều tập đoàn lớn trong và ngoài nước như Sport ToTo, Ô tô Trường Hải, Mường Thanh, VinGroup, TH True Milk… đã đến Phú Yên tìm hiểu cơ hội đầu tư và nghiên cứu xúc tiến một số dự án trọng điểm để triển khai trong thời gian tới.

Theo thống kê, hiện nay, Phú Yên có 75 dự án đăng ký đầu tư vào Khu kinh tế Nam Phú Yên cùng các khu công nghiệp, với tổng vốn đầu tư đăng ký 3.100 tỷ đồng và hơn 3,2 tỷ USD. (…)

Mặc dù đạt được kết quả đáng khích lệ, nhưng thu hút đầu tư vào tỉnh Phú Yên còn một số hạn chế, đó là:

Thứ nhất,công tác tuyên truyền vận động, giải thích, hướng dẫn các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về huy động mọi nguồn lực, nguồn vốn để tập trung cho đầu tư phát triển chưa được thường xuyên và liên tục nên hiệu quả chưa cao.

Thứ hai, số lượng dự án đầu tư vào Tỉnh còn hạn chế. Một số dự án đã hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư nhưng chưa sắp xếp được tài chính nên chưa triển khai thực hiện dự án.

Thứ ba, công tác hỗ trợ cho nhà đầu tư sau cấp phép chưa tốt. Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư của tỉnh đã phần nào phát huy tác dụng nhưng khâu thực thi còn chưa được phối hợp nhịp nhàng, kéo dài thời gian cùng với sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc xử lý hồ sơ và giải quyết các vướng mắc cho nhà đầu tư còn hạn chế.

Giải pháp cho thời gian tới

Để thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, theo chúng tôi, thời gian tới, Phú Yên cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư của Tỉnh, tăng cường công tác vận động, xúc tiến đầu tư. (…)

Hai là, triển khai có hiệu quả công tác cải cách hành chính trong giải quyết thủ tục đầu tư, thực hiện vận hành thông suốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại. (…)

Ba là, kịp thời hướng dẫn triển khai các văn bản pháp luật, nghị định mới và văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương về những nội dung, vấn đề có liên quan đến đầu tư như: Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp 2014 để doanh nghiệp nắm bắt được các quy định của pháp luật hiện hành, triển khai đầu tư có hiệu quả. (…)

Bốn là, xây dựng cơ chế phối hợp trong quản lý đầu tư trong các công tác giám sát hoạt động đầu tư; giải quyết kịp thời các thủ tục, vướng mắc của nhà đầu tư trong quá trình triển khai thủ tục và đầu tư xây dựng, về đất đai, thuế, xuất nhập khẩu,...

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát sau khi cấp giấy chứng nhận đầu tư đểtạo điều kiện và thời gian nhanh nhất cho các nhà đầu tư khi thực hiện dự án. (…)

Sáu là, củng cố, kiện toàn mô hình “một cửa liên thông” ở một số sở, ban, ngành… để thực hiện tối đa cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết các thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đánh giá tác động môi trường, cấp phép xây dựng, giao đất... cho các nhà đầu tư, nhằm rút ngắn thời gian và chi phí không cần thiết cho nhà đầu tư./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2017 (526)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2017 (525)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2017 (524)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2017 (523)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2017 (522)