English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 1+2/2017 (516)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 1+2/2017 (516)

Ra hàng tháng. Năm thứ 56

 

Thư của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê gửi công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê nhân dịp xuân Đinh Dậu 2017

Luật Thống kê sau 6 tháng triển khai

¨ TS. NGUYỄN BÍCH LÂM

Hội nghị triển khai kế hoạch công tác ngành Thống kê năm 2017

 Ngành Thống kê: Kết quả công tác thi đua khen thưởng năm 2016 và phát động phong trào thi đua năm 2017

Ngành Thống kê – Phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2017

Cục Thống kê Quảng Nam mũi nhọn phát triển công nghệ thông tin trong công tác thống kê

¨ ĐINH VĂN ĐÀO

Trưởng Cao đẳng Thống kê – Đổi mới đào tạo đáp ứng nhu cầu của Ngành và xã hội

¨ TS. NGUYỄN NGỌC TÚ

Kinh tế Việt Nam năm 2016 và triển vọng năm 2017

¨ MINH HẢI

Điểm sáng kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2016

¨ BÍCH NGỌC – THU HÒA

Nhìn lại chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

¨ THU HƯỜNG

Năm 2016 toàn ngành công nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá

¨ TS. PHẠM ĐÌNH THÚY

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư – Làn sóng làm thay đổi cả thế giới

¨ ThS. PHẠM THỊ BÍCH NGỌC

Thời trang Việt Nam: Giữ bản sắc là con đường hội nhập

¨ MINH THƯ

Sản xuất nông nghiệp Việt Nam sau một năm vượt khó

¨ NGUYỄN HÒA BÌNH

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016

Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2017: Cơ hội và thách thức

¨ ThS. NGUYỄN VIỆT PHONG

Phát triển ngành Du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa

¨ NCS. NGUYỄN CHÍ TRANH

Nhìn lại bức tranh xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2016

¨ ThS. PHẠM QUỲNH LỢI

Thành công trong kiểm soát lạm phát năm 2016 tại Việt Nam

¨ ThS. VŨ THỊ THU THỦY

Kinh tế biển: Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững

¨ THU HÒA

Để nâng cao hiệu quả giảm nghèo giai đoạn 2016 – 2020

¨ ThS. CHU THỊ HẠNH

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc thiểu số

¨ ThS. PHẠM THỊ THU HIỀN

Kinh tế tỉnh Thừa Thiên – Huế thành quả năm 2016 và giải pháp năm 2017

¨ NGUYỄN TRUNG TIẾN

Hà Nội: Thực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn

¨ NGUYỄN THÚY CHINH

Vài nét về nông thôn An Giang qua kết quả sơ bộ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2016

¨ TRƯƠNG VĂN TẤN

Bức tranh kinh tế thế giới năm 2016 và triển vọng 2017

¨ TRÚC LINH

Vui vui … Thống kê

¨ VŨ LIÊM

Lễ hội mừng lúa mới ở Tây Nguyên

¨ GIA LINH

Tết Nào Pê Chầu của người H’Mông đen

Văn hóa ẩm thực ngày tết ở Nam Bộ

¨ HẠNH LY

Lễ hội Ok-om-bok: Nét văn hóa đặc sắc của người Khmer Nam Bộ

¨ TIẾN LONG

 Dịu dàng lụa Hà Đông

¨ NGỌC LINH

Gà trong đời sống văn hóa Việt Nam

¨ ANH HÙNG

Ca Huế - Lời tâm tình trên dòng Hương Giang

Kèn lá – Tiếng xuân của người H’Mông

Làng Xuân La: Nơi lưu giữ nghề nặn Tò he

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam: Những giá trị văn hóa tiêu biểu

Lung linh đèn lồng phố Hội

Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước

Khám phá nét đặc sắc Tết cổ truyền âm lịch một số nước châu Á

¨ NGỌC LINH

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 1+2/2017:

THƯ CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ GỬI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THỐNG KÊ NHÂN DỊP XUÂN ĐINH DẬU 2017

Nhân dịp Tết cổ truyền của dân tộc và đón Xuân Đinh Dậu, thay mặt Lãnh đạo Tổng cục Thống kê, tôi thân ái gửi đến toàn thể công chức, viên chức và người lao động của ngành Thống kê cùng gia đình lời chúc mừng năm mới, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng và tiếp tục đạt nhiều thắng lợi.

Các đồng chí thân mến,

Năm 2016, trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, ngành Thống kê tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành; sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng và Lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư; cùng sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, lòng yêu Ngành, yêu nghề của toàn thể công chức, viên chức và người lao động nên ngành Thống kê đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vị thế và uy tín của Ngành ngày càng được nâng cao.

Công tác đảm bảo thông tin thống kê được thực hiện tốt, ngày càng nâng lên về số lượng và chất lượng, cung cấp thông tin chính thống phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nền kinh tế-xã hội của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Năm 2016, ngành Thống kê đã chủ động xây dựng những“kịch bản kinh tế”, đánh giá tác động của việc điều chỉnh các loại giá, tham mưu kịp thời với Thủ tướng Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Đồng thời, Ngành đã xây dựng Báo cáo kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế hiện nay để báo cáo Thủ tướng Chính phủ làm căn cứ báo cáo Bộ Chính trị. Cùng với việc thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin thống kê, trong năm 2016, chúng ta đã thực hiện thành công các cuộc điều tra thường xuyên có trong kế hoạch, tổ chức tốt các cuộc điều tra đột xuất phục vụ kịp thời yêu cầu thông tin cho quản lý, điều hành đất nước. Đặc biệt, chúng ta đã thực hiện thành công cuộc Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2016 với nhiều điểm mới về nội dung và phương thức thực hiện. Việc thực hiện Luật Thống kê, các Đề án và Chiến lược phát triển của Ngành được triển khai tích cực và hiệu quả. Năm 2016, chúng ta đã hoàn thành những bước chuẩn bị quan trọng cho việc tính GRDP tập trung tại cơ quan Tổng cục bắt đầu từ năm 2017 và những năm tiếp theo. Năm 2016 cũng là năm chúng ta tập trung hoàn thiện môi trường pháp lý của Ngành với việc phối hợp với các Bộ, ngành biên soạn, trình Bộ trưởng để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 05 văn bản quan trọng, gồm: Nghị định số 94/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê, Nghị định số 95/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, Nghị định số 97/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Quyết định số 43/2016/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 ban hành Chương trình điều tra thống kê quốc gia, Quyết định số 54/2016/QĐ-TTg ngày 19/12/2016 về ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của hệ thống tổ chức thống kê tập trung; chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức thống kê bộ, cơ quan ngang bộ phù hợp với Luật thống kê cũng đã được xây dựng và lấy ý kiến thẩm định. Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, có ý nghĩa nhằm tăng cường việc chấp hành pháp luật thống kê, đồng thời đẩy mạnh hoạt động sản xuất và phổ biến thông tin thống kê, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và vị thế của ngành Thống kê. Công tác phương pháp chế độ, tổ chức cán bộ, quản lý tài chính, ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học, thanh tra, thi đua khen thưởng và các công tác khác được triển khai tích cực, đạt hiệu quả cao. Công tác thống kê nước ngoài tiếp tục được chú trọng với nhiều đổi mới trong thu thập số liệu và thông tin tình hình kinh tế - xã hội các nước trên thế giới phục vụ báo cáo nhanh tình hình kinh tế - xã hội hàng quý của Tổng cục và của Bộ.

Bên cạnh những kết quả đạt được về công tác chuyên môn, năm 2015, chúng ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc và đặc biệt tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Ngành với việc tổ chức cuộc thi viết “Tìm hiểu ngành Thống kê - 70 năm xây dựng và phát triển”; Hội diễn văn nghệ, mít tinh kỷ niệm... qua đó tăng thêm sự hiểu biết, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong công tác thống kê, nâng cao lòng yêu Ngành, yêu nghề của công chức, viên chức và người lao động trong Ngành.

Những kết quả toàn Ngành đã đạt được trong năm qua, cùng với sự quan tâm, lãnh đạo của Bộ trưởng, Ban Cán sự đảng Bộ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, Lãnh đạo Tổng cục đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, đoàn kết, hợp tác, khắc phục khó khăn của toàn thể công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê.

Các đồng chí thân mến,

Năm 2017 là năm có nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức mới đối với hoạt động của Ngành. Phát huy truyền thống đoàn kết và những kết quả, kinh nghiệm đã có, toàn Ngành quyết tâm phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục nâng cao chất lượng thông tin thống kê, thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin kinh tế - xã hội định kỳ và đột xuất phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; Thực hiện tốt Tổng điều tra kinh tế năm 2017 và các cuộc điều tra thường xuyên của Ngành; Thực hiện Kế hoạch triển khai Luật thống kê và các đề án lớn của Ngành; Nghiên cứu, cải tiến và áp dụng phương pháp một số thống kê mới trong hoạt động thống kê; Tổ chức thi tuyển công chức, viên chức cho các đơn vị trong toàn Ngành...

 

KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2016 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2017

Minh Hải

 

Năm 2016, là một năm đầy thách thức đối với nền kinh tế nước ta khi tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu thấp hơn so với dự báo; giá nhiều hàng hóa cơ bản và giá dầu thô giảm mạnh; tình hình biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp; biến đổi khí hậu bất thường, nhanh hơn dự báo... Ở trong nước, thiên tai xảy ra liên tiếp: Rét đậm, rét hại ở phía Bắc; hạn hán kéo dài ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; xâm nhập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long; bão, lũ, sự cố ô nhiễm môi trường biển tại miền Trung… gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện quyết liệt hàng loạt các giải pháp, kinh tế nước ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục đà phục hồi và phát triển.

Kinh tế phát triển ổn định

Với việc nỗ lực trong thực hiện nghị quyết cải thiện môi trường kinh doanh; tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền; tăng quyền chủ động, xử lý nhanh chóng, kịp thời các kiến nghị của địa phương, doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công, có chính sách đặc thù để tạo đột phá cho phát triển... Nhờ đó, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, góp phần vào việc thực hiện đạt và vượt 11/13 chỉ tiêu kế hoạch năm 2016 do Quốc hội đề ra. (…)

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được đảm bảo

Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp từ sản xuất, tiêu dùng, điều hòa cung cầu, nhất là việc điều hành chủ động linh hoạt, kết hợp chặt chẽ các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát một cách chủ động và trong giới hạn cho phép. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2016 tăng 0,23% so với tháng trước; tăng 4,74% so tháng 12 năm trước, bình quân năm 2016 so năm 2015 tăng 2,66%. Các cân đối lớn về tài chính, tiền tệ, tín dụng cơ bản được bảo đảm. (…)

Chuyển biến tích cực trong cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp và phát triển kinh tế tập thể

Năm 2016, môi trường đầu tư được tiếp tục được cải thiện, nhờ những tiến bộ trong cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi, những đổi mới hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (10/2016), xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam 2016 tăng tới 9 bậc, xếp thứ 82/189 quốc gia được xếp hạng. (…)

Triển vọng năm 2017

Với những diễn biến của tình hình kinh tế năm 2016, dự báo năm 2017 tình hình kinh tế và thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới có thể tăng cao hơn năm 2016 nhưng vẫn phục hồi chậm, không đồng đều và có nhiều rủi ro. Giá một số hàng hóa cơ bản và dầu thô vẫn ở mức thấp. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực diễn ra gay gắt. Tình hình Biển Đông tiếp tục căng thẳng, khó lường. Ở trong nước bên cạnh những thuận lợi, chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp trong khi thế giới đang bước vào Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hiệp quốc về phát triển bền vững và thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế, nhất là các Hiệp định FTA thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Nhu cầu tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia và ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp. (…)./.

 

PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

 

Nguyễn Chí Tranh

NCS. Trường Đại học Ngoại thương

 

Việc tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng sẽ tạo ra nhiều cơ hội mới cho phát triển kinh tế của Việt Nam, trong đó có ngành du lịch. Tuy nhiên, bên cạnh đó là những thách thức không hề nhỏ trong bối cảnh cạnh tranh du lịch đang diễn ra gay gắt hơn. Vì vậy, phát triển ngành du lịch trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cần có nhiều giải pháp đồng bộ cả từ phía Nhà nước, hiệp hội du lịch, cơ sở kinh doanh du lịch...

Trong suốt hơn 2 thập kỷ qua, số lượng khách quốc tế đến du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh với tốc độ trung bình trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS 2003 (-8%) và suy thoái kinh tế thế giới 2009 (-11%). Nếu lấy dấu mốc lần đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam 1990 (khởi đầu thời kỳ đổi mới) với 250 nghìn lượt khách quốc tế thì đến năm 2016 có 10 triệu lượt khách tăng khoảng 40 lần trong 26 năm.

Từ chỗ chiếm 4,6% thị phần khu vực Đông Nam Á, 1,7% thị phần khu vực Châu Á -Thái Bình Dương và 0,2% thị phần toàn cầu vào năm 1995 đến 2013 Du lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị phần khu vực ASEAN; 2,4% khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,68% thị phần toàn cầu. Vị trí của Du lịch Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trên bản đồ du lịch thế giới. Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút mạnh dòng khách du lịch. (…)

Hệ thống di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận liên tiếp gia tăng về số lượng là các trọng tâm trong thực tiễn xây dựng sản phẩm, thu hút khách du lịch. Các sản phẩm như tham quan cảnh quan vịnh Hạ Long, tham quan di sản văn hoá Huế, phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn; du lịch mạo hiểm khám phá hang động Phong Nha-Kẻ Bàng, du lịch nghỉ dưỡng biển Mũi Né, Phú Quốc, du lịch sự kiện Nha Trang... thu hút được sự quan tâm lớn của khách du lịch trong và ngoài nước. Các lễ hội được tổ chức ở quy mô lớn đã trở thành các sản phẩm du lịch quan trọng như lễ hội Chùa Hương, lễ hội bà chúa Xứ, festival Huế, carnaval Hạ Long, lễ hội pháo hoa Đà Nẵng, festival hoa Đà Lạt... Những sản phẩm và những giá trị nổi bật của điểm đến Việt Nam dần được hình thành và định vị tại các thị trường khách du lịch mục tiêu. (…)

Để thực hiện được mục tiêu đó, cần thực hiện một số giải pháp:

Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế để quy hoạch và thực hiện việc phát triển tài nguyên du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch; Nâng cao nhận thức về xu thế toàn cầu hóa ngành du lịch; Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ nhân lực; Tăng cường kết nối quản lý du lịch với quốc tế; Tiếp tục thực hiện các biện pháp mở cửa.

 

KINH TẾ BIỂN – TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Thu Hòa

 

Được đánh giá là một trong 10 quốc gia có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ, tiềm năng phát triển kinh tế biển của Việt Nam là tương đối lớn. Hiện nay, theo ước tính, kinh tế biển và vùng ven biển nước ta bình quân chiếm khoảng 47-48% GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải và du lịch biển. Trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển kinh tế biển, đảo theo hướng bền vững, bảo đảm quyền lợi lâu dài của đất nước, đưa nước ta trở thành quốc gia giàu mạnh về biển, đảo, bảo đảm vững chắc chủ quyền trên biển chính là yêu cầu cấp thiết và cũng là định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước.

 

Tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế biển

Là một quốc gia ven bờ Biển Đông, Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng khoảng 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền); bờ biển dài khoảng 3.260 km, cứ 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền có 1 km bờ biển); có khoảng 3 nghìn đảo lớn, nhỏ gần bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cả nước có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển, chiếm 42% diện tích đất liền và 45% dân số toàn quốc. (…)

Đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức

Rõ ràng, kinh tế biển, đảo nước ta trong những năm gần đây đã phát triển không ngừng, với nhiều kết quả ấn tượng, khẳng định tầm quan trọng cũng như lợi ích không hề nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế biển và ven biển đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đầu tiên là vấn đề nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân chưa đầy đủ. Cùng với đó là công tác quản lý, khai thác tài nguyên thiên nhiên biển còn thiên về coi trọng lợi ích kinh tế, xem nhẹ yếu tố an sinh xã hội. (…)

Định hướng phát triển bền vững kinh tế biển 

Nghị quyết 09 - NQ/ TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đã chỉ rõ, đến năm 2020 kinh tế biển đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Cùng với đó, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII tháng 6 năm 2015 đã thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Đây là những cơ sở pháp lý đặc biệt cần thiết để phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn. (…)

Phát triển kinh tế biển gắn liền với với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, cũng như các chương trình bảo vệ tài nguyên, môi trường biển… sẽ là điều kiện tiên quyết và mang ý nghĩa sống còn để kinh tế biển, đảo phát triển bền vững./.

 

ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2016-2020

 

Ths. Chu Thị Hạnh

Trong nhiều năm qua, mục tiêu giảm nghèo là chủ trương lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước. Nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo đã từng bước được thể chế hóa thông qua việc xây dựng pháp luật, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Từ năm 1993 đến nay, công tác xóa đói, giảm nghèo đi qua 5 giai đoạn chính (1993 - 1997, 1998 - 2000, 2001 - 2005, 2006 - 2010 và 2011 - 2015). Quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước coi vấn đề giảm nghèo vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu và là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm an sinh và công bằng xã hội.

Với quyết tâm và nỗ lực của cả hệ thống chính trị và người dân, Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói vào năm 2002 (sớm hơn 13 năm so với mục tiêu và sớm hơn 8 năm so với kết quả chung của toàn cầu), kết quả này đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo quốc gia. (...)

Để thực hiện những mục tiêu yêu cầu cao hơn trong giảm nghèo và an sinh xã hội theo tinh thần Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế và mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đến năm 2030, công tác giảm nghèo trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào các giải pháp có tính đột phá cụ thể như sau:

Thứ nhất, đẩy nhanh việc hoàn thiện cơ chế, chính sách giảm nghèo theo hướng tích hợp, thu gọn đầu mối nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, hạn chế các chính sách cấp phát, cho không và chuyển sang các chính sách hỗ trợ có điều kiện, có hoàn trả; (…)

Thứ hai, tập trung nguồn lực của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 cho các địa bàn nghèo nhất cả nước, đó là các huyện nghèo, các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi để tăng cường, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân trên địa bàn, (…)

Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp cho các cấp địa phương, cơ sở; thực hiện giao vốn trung hạn trong cả giai đoạn cho các địa phương công khai, minh bạch theo các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được quy định tại Quyết định số 48/2016/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, (…)

Thứ tư, mở rộng và phát huy nội lực cộng đồng, áp dụng cơ chế đặc thù rút gọn đối với một số dự án đầu tư có quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp, Nhà nước hỗ trợ đầu tư một phần kinh phí, phần còn lại do nhân dân đóng góp, có sự tham gia giám sát của nhân dân (theo quy định tại Nghị định số 161/2016/NĐ-CP ngày 02/12/2016 của Chính phủ). (...)

Thứ năm, thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện Chương trình, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo đúng cơ cấu đã được quy định; tăng cường huy động vốn từ ngân sách địa phương, các nguồn huy động đóng góp hợp pháp của doanh nghiệp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; vốn đối ứng, tham gia đóng góp của người dân, đối tượng thụ hưởng.

Thứ sáu, đẩy mạnh tuyên truyền mục tiêu giảm nghèo sâu rộng đến mọi cấp, mọi ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo nhằm thay đổi, chuyển biến nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên thoát nghèo của người dân, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, cộng đồng để thoát nghèo, vươn lên khá giả; phát động phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”; tôn vinh các doanh nghiệp, tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp về nguồn lực, cách làm hiệu quả trong công tác giảm nghèo bền vững./.

 

BỨC TRANH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2016 VÀ TRIỂN VỌNG 2017

Trúc Linh

 

Thế giới đang bước sang những ngày đầu của năm 2017 trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những dấu hiệu phục hồi khả quan sau khi trải qua giai đoạn khó khăn đầu năm 2016. Theo báo cáo triển vọng kinh tế thế giới của IMF, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016 ước đạt 3,1% và 3,4% vào năm 2017. Các nền kinh tế lớn đang dần lấy lại được đà tăng trưởng, Mỹ tiếp tục khẳng định vị thế là nền kinh tế lớn nhất thế giới; Kinh tế khu vực châu Á và Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao, ổn định. Tuy nhiên, ở châu Âu và Nhật Bản, những nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và lạm phát vẫn chưa mang lại kết quả như mong đợi.

Kinh tế Mỹ có nhiều khởi sắc

Theo báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ, trong quý III/2016, tăng trưởng GDP của Mỹ đạt 3,5%, cao hơn nhiều so với con số khiêm tốn 1,4% trong quý II và 0,8% trong quý I, đạt mức tăng nhanh nhất trong hai năm qua. Trong năm 2016, số việc làm mới được tạo ra và tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ có nhiều biến động nhưng đến tháng 11 thì kinh tế nước này đã tạo được 178 nghìn việc làm mới trong lĩnh vực phi nông nghiệp, cao hơn so với mức 142 nghìn việc làm trong tháng 10/2016; Tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm xuống 4,6%, đạt mức thấp nhất kể từ tháng 8/2007. (…)

Kinh tế khu vực châu Á và Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng ổn định

Theo báo cáo của Ngân hàng châu Á (ADB) về tăng trưởng kinh tế năm 2016 và triển vọng cho năm sau, kinh tế khu vực châu Á vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng 5,6-5,7% trong hai năm liên tiếp 2016-2017, thậm chí kéo dài sang năm 2018. Đây là tỷ lệ tăng trưởng khá lạc quan trong khi kinh tế toàn cầu chỉ đạt tăng trưởng khoảng 3,1% năm 2016. Theo giới chuyên gia kinh tế, mặc dù kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn nhưng các kinh tế của khu vực châu Á vẫn duy trì mức tăng mạnh mẽ. Cuộc cải cách mang tính kết cấu đang diễn ra tại khu vực sẽ nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường đầu tư, kích cầu trong nước, tạo lợi thế cho xu hướng phát triển kinh tế sau này. (…)

Kinh tế châu Âu cần thêm nỗ lực để đạt mục tiêu

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã tung ra một loạt các biện pháp kích thích để hỗ trợ nền kinh tế Khu vực và đưa lạm phát lên mức cao hơn. Tuy vậy, lạm phát của khu vực này vẫn chỉ nhỉnh hơn mức 0% và dưới mục tiêu đặt ra là 2%. (…)

Một bất ngờ đến với Eurozone là sự tăng trưởng trở lại của Hy Lạp, theo đó, GDP nước này có thể đạt tăng trưởng 2,8% vào năm 2017. Trong khi, Tây Ban Nha đạt tới 3,1%, tăng thêm 0,5 điểm so với dự báo hồi tháng 7/2017.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới dự báo sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tuy nhiên với đà tăng trưởng kinh tế trong thời gian gần đây, kinh tế toàn cầu được kỳ vọng sẽ khởi sắc và tăng trưởng cao hơn trong năm 2017./.

           

LỄ HỘI MỪNG LÚA MỚI Ở TÂY NGUYÊN

 

Cứ mỗi độ Xuân về, sau dịp Tết Nguyên đán, khi lúa ngoài đồng đã được thu hoạch xong, đồng bào dân tộc Ja Rai ở Tây Nguyên lại rộn ràng chuẩn bị cho lễ mừng lúa mới. Đây là một phong tục lâu đời của đồng bào các dân tộc sống trên dải Trường Sơn, nó có ý nghĩa tôn vinh hạt thóc của Giàng ban cho dân làng. Tập tục cúng Giàng, cúng các vị thần linh bao gồm những nghi lễ: Cúng trời đất, các thần sông suối, thần núi, thần mưa, thần sấm, thần mùa màng để cầu cho mưa thuận gió hòa.

Từ tập tục cúng Giàng…

Cũng giống như nhiều lễ hội khác, lễ mừng lúa mới của các dân tộc ở Tây Nguyên có phần lễ và phần hội. Phần lễ là tục cúng Giàng, với những lễ nghi trang trọng nhất và phần hội là lúc tất cả mọi người cùng nhau vui hội.

…Đến lưu giữ nét văn hóa độc đáo

Lễ mừng lúa mới là lễ hội mang đậm tín ngưỡng vạn vật hữu linh của người dân tộc trên dọc dải Trường Sơn, Tây Nguyên. Người ta tin rằng, xung quanh cuộc sống của con người, có rất nhiều vị thần như thần sông, thần núi, thần lửa…, luôn dõi theo, bảo vệ, phù trợ cho con người. Theo họ, mọi may mắn, rủi ro trong cuộc sống, trong lao động sản xuất đều có sự can thiệp của thần linh; vụ mùa bội thu, lúa thóc đầy đồng là nhờ sự giúp đỡ của các vị thần. Lễ mừng lúa mới là dịp để dân làng tỏ lòng biết ơn với các vị thần linh đã giúp cho cả làng có một vụ mùa tươi tốt, bội thu; ban cho người già, trẻ nhỏ có sức khỏe, ít ốm đau và cầu mong cho niên vụ mới ấm no, sung túc hơn. (…)./.

 

DANH NHÂN VIỆT NAM TUỔI DẬU

 

Theo quan niệm tín ngưỡng truyền thống, người tuổi Gà (sinh năm Dậu) thường chăm chỉ, năng động, tài hoa, mạnh mẽ và thành đạt. Trong số các danh nhân góp phần làm rạng rỡ nền văn hiến Việt Nam, có nhiều người sinh năm Dậu…

 

* ĐINH BỘ LĨNH: Sinh năm Ất Dậu 925, quê Ninh Bình, vị vua đầu nhà Đinh. Giỏi võ nghệ, nhiều mưu lược, có tài chỉ huy. Năm 968 ông lên ngôi Hoàng đế, lập ra triều Đinh, đóng đô tại Hoa Lư (Ninh Bình), đặt tên nước ta là Đại Cồ Việt và cho ban hành nhiều chính sách tiến bộ.

* LƯƠNG THẾ VINH: Sinh năm Tân Dậu 1441, quê Nam Định, nhà toán học, danh sĩ đời Lê Thánh Tông. Cực kỳ thông minh, nhanh nhạy, đỗ trạng nguyên năm 23 tuổi, làm việc trong Viện Hàn lâm đến chức Thừa chỉ.

* GIANG VĂN MINH: Sinh năm Quý Dậu 1573, quê Hà Nội, danh sĩ đời Lê Thần Tông. Khảng khái, cương trực, đỗ thám hoa, thăng quan đến chức Tự khanh. Giỏi việc chính trị có tài ứng đối.

* NGUYỄN GIA THIỀU: Sinh năm Tân Dậu 1741, quê Bắc Ninh, nhà văn hóa. Hoạt bát, bản lĩnh, lại văn võ song toàn. Ông nổi tiếng với năng khiếu văn, triết, sử, đồng thời rất thông tuệ về âm nhạc, hội họa, kiến trúc.

* NGUYỄN HUỆ: Sinh năm Quý Dậu 1753, quê Bình Định, anh hùng dân tộc, nhà quân sự lỗi lạc.

* NGUYỄN DU: Sinh năm Ất Dậu 1765,  quê Hà Tĩnh, thi hào nổi tiếng. Đa tài, nghị lực, ông sáng danh trong lịch sử thơ ca Việt Nam với nhiều tác phẩm bình dị mà ấn tượng, dạt dào tình cảm, thấm đẫm tinh thần nhân đạo, đặc biệt là Truyện Kiều.

* TRỊNH HOÀI ĐỨC: Sinh năm Ất Dậu 1765,  quê Đồng Nai, danh sĩ thời Nguyễn sơ. Văn võ song toàn, phong thái mạnh mẽ.

* NGUYỄN TRUNG TRỰC: Sinh năm Đinh Dậu 1837, quê Long An, anh hùng kháng Pháp, khảng khái, nồng nàn yêu nước.

* TRƯƠNG VĨNH KÝ: Sinh năm Đinh Dậu 1837, quê Bến Tre, học giả xuất sắc. Nổi tiếng thông minh, hiếu học, ông sử dụng được 11 ngoại ngữ phương Đông, 15 ngoại ngữ phương Tây, là tác giả của hơn 100 bộ sách.

* TRẦN XUÂN SOẠN: Sinh năm Kỷ Dậu 1849, quê Thanh Hóa, nhà yêu nước thời cận đại.

* PHẠM NGỌC THẠCH: Sinh năm Kỷ Dậu 1909, quê Quảng Nam, bác sĩ, nhà hoạt động cách mạng. Linh hoạt, giàu lòng ái quốc.

* LƯƠNG ĐỊNH CỦA: Sinh năm Tân Dậu 1921, quê Sóc Trăng, giáo sư, tiến sĩ nông nghiệp. Say mê nghiên cứu cây trồng, cần mẫn, khoa học, sáng tạo, ông lai kết ra nhiều giống lúa, khoai, ngô… mới, rất thiết thực với nền nông nghiệp Việt Nam.

                                                                                      CÔNG HIẾU

 

VĂN HÓA ẨM THỰC NGÀY TẾT Ở NAM BỘ

 

Mâm cỗ ngày Tết từ lâu đã trở thành một nét văn hóa trong ngày Tết cổ truyền của người Việt và ở mỗi vùng miền khác nhau sẽ có những đặc trưng văn hóa ẩm thực của riêng mình. Ẩm thực ngày Tết của người Nam Bộ là các món ăn đặc trưng không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết như: Bánh tét, củ kiệu, tôm khô, khổ qua, thịt kho nước dừa… rất dung dị, mộc mạc nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa như chính tính cách của người dân nơi đây.

Bánh Tét

Trong ngày Tết, nếu như ngoài Bắc có bánh chưng thì miền Nam lại có bánh tét. Với người dân Nam Bộ, bánh tét tượng trưng cho sự no ấm từ đời này qua đời khác và không thể thiếu trong ngày Tết. Bánh tét có nhiều loại như: bánh tét mặn, bánh tét nhân thập cẩm, bánh tét ngọt, bánh tét chay không nhân. (…)

Thịt kho

Món ăn ngày Tết của người Nam Bộ cũng rất độc đáo. Ngày tết, dù mâm cao cỗ đầy nhưng không thể thiếu nồi thịt kho trứng (người miền Bắc có món thịt đông). Miếng thịt thái vuông, quả trứng tròn thể hiện mong ước vuông tròn cho cả năm.
Đây là món thịt kho “lạt”, không phải là thịt kho theo kiểu của người Trung Hoa. Để có nồi thịt ngon, người ta cắt thịt miếng to cỡ ba ngón tay, tẩm ướp với gia vị như tỏi, nước mắm… (…)

Canh khổ qua

Canh khổ qua cũng là món ăn không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết. Theo quan niệm của người miền Nam thì canh khổ qua là món ăn để mong ước những cơ cực, không may mắn sớm qua đi để bắt đầu một năm mới tươi sáng. (…)

Bánh tráng cuốn

Một món ăn quen thuộc nữa trong mâm cỗ ngày Tết của người Nam Bộ là món bánh tráng cuốn. Những miếng bánh tráng trắng phau được làm từ gạo ngon đem ngâm rồi xay thành bột sau đó được tráng thành từng miếng mỏng, dùng để cuốn với thức ăn. Bánh tráng được cuốn cùng thịt, cá nướng, tôm, lạp xưởng và các loại rau. (…)

Củ kiệu tôm khô

Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến món củ kiệu tôm khô, một món ăn tuy bình dị nhưng không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết. Củ kiệu được làm sạch rồi đem phơi, sau đó cho củ kiệu vào lọ, cứ 1 lớp củ kiệu thì cho 1 lớp đường cát trắng rồi đậy kín để kiệu tự chảy ra nước, khoảng 10 ngày là ăn được. Củ kiệu được ăn cùng với tôm khô sẽ tạo thành một món ăn rất ngon. (…)

Những món ăn cổ truyền trong ngày Tết của người Nam Bộ không chỉ đơn thuần là ẩm thực mà còn thể hiện tính văn hóa đặc sắc của vùng miền. Một mâm cỗ ngày Tết với đầy đủ ngũ vị: mặn, chua, cay, ngọt và đắng mang ý nghĩa ngũ hành tương sinh với mong ước sum họp, vui vầy bên những người thân và gia đình trong những ngày đầu năm mới. Đây cũng chính là những nét văn hóa đặc sắc khó lẫn của ẩm thực ngày Tết của vùng đất phương Nam ấm áp và an lành./.

Hạnh Ly

 

NGHỀ ĐIÊU KHẮC ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC

 

Được hình thành vào khoảng thế kỷ XVII, do cụ Huỳnh Bá Quát (quê gốc từ Thanh Hóa) khởi dựng, khi di cư vào đây sinh sống. Ban đầu, ở vùng này, số người biết nghề làm đá không nhiều, sản phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương như: Các loại cối giã gạo, cối xay ngũ cốc hoặc các bia mộ được khắc bằng đá. Đến khoảng đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn cho xây dựng nhiều cung điện, lăng tẩm, nghề đá ở đây có điều kiện phát triển, uy tín của làng nghề cũng nâng cao, một số thợ giỏi được triều đình phong hàm Cửu phẩm, nhiều thợ của làng được mời đi làm nghề ở khắp nơi. Theo thời gian, làng Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước dần khẳng định được tên tuổi không chỉ ở khu vực mà lan rộng khắp cả nước. Đến nay, sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, vươn ra tầm thế giới, trở thành niềm tự hào và đem lại nguồn thu đáng kể cho làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước. (…)

Sản phẩm điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước đa dạng về loại hình, phong phú về màu sắc, kích cỡ, chủng loại. Những sản phẩm có truyền thống lâu đời, gắn liền với sự phát triển của nghề chủ như: Ấm, chén, bát đĩa, bình cắm hoa, chân cột, bia mộ, tượng... Thợ điêu khắc đá Non Nước có tài làm hai loại tượng: tượng tròn và phù điêu, song sở trường vẫn là tượng tròn gồm các nhóm như: Nhóm tượng tâm linh (tượng Phật, tượng La Hán, tượng Đức Mẹ và Chúa hài đồng...); Nhóm tượng Chăm (tượng chim thần, bò thần, rắn thần, tượng thần Siva, tượng Genesa, tượng vũ nữ, tượng makara hai đầu, các lá nhĩ phù điêu vũ nữ, biểu tượng linga, yoni...); Nhóm tượng trang trí chủ yếu là tượng động vật gắn với đời sống tâm linh của người Việt (sư tử, cá chép trông trăng, rồng phun lửa, trâu, hổ...). Bên cạnh đó, còn có tượng tròn mang đề tài hiện đại được khai thác phục vụ nhu cầu của du khách như: Tượng chân dung thiếu nữ Việt Nam và phương Tây, tượng phỏng theo tượng của nước ngoài, tượng các nhà cách mạng, lãnh tụ... (…)

Để tưởng nhớ về ông Tổ nghề, hàng năm, làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước vẫn tổ chức lễ tế ra nghề vào ngày mùng sáu tháng Giêng để cúng Tổ nghề và cầu xin sự phù trợ cho một năm mới. Lễ giỗ Tổ nghề được tổ chức vào ngày mười sáu tháng Ba, cũng là lễ hội chung của dân làng./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 5/2018 (530)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 4/2018 (529)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 3/2018 (528)