English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2016 (515)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 12/2016 (515)

Ra hàng tháng. Năm thứ 55

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Khai mạc triển lãm ảnh về cuộc sống của người di cư ở Việt Nam

Giải cầu lông truyền thống ngành Thống kê các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc lần thứ X

Khai thác số liệu thống kê thông qua sử dụng dữ liệu hành chính

Tổng kết điều tra thí điểm Tổng điều tra kinh tế 2017

KINH TẾ - XÃ HỘI

Kết quả tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2011 – 2015

¨ MINH HẢI

Giải pháp phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam

¨ THU HÒA

Triển vọng ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

¨ BÍCH NGỌC

Chính sách phát triển DNNVV Việt Nam: Những vấn đề đặt ra

¨ TS. NGUYỄN HOÀNG QUY

Phát triển thương mại điện tử - nhận diện những thuận lợi và thách thức

¨ ThS. NGUYỄN THỊ ANH PHƯƠNG

Thực trạng thị trường thanh toán thẻ Việt Nam

¨ VIỆT HÙNG

Tín dụng cho nông nghiệp, nông dân và một số vấn đề đặt ra

¨ NHÀN THƯ

Giáo dục trực tuyến: Xu thế toàn cầu và tiềm năng tại Việt Nam

¨ NGỌC LINH

Nông nghiệp hữu cơ: Hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp

¨ THU HƯỜNG

Phát triển hợp tác xã nông nghiệp theo tư duy mới

¨ NGỌC NGÂN

Bảo hiểm y tế đối với người nhiễm HIV/AIDS

¨ CN. PHAN THỊ HÒA

Thanh Hóa – Động lực thúc đẩy chăn nuôi phát triển

¨ VŨ HỒNG HÀ

 

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Sử dụng thuật ngữ trong xây dựng thang đo khái niệm trừu tượng

¨ PGS.TS. TRẦN THỊ BÍCH – ThS. NGUYỄN THỊ XUÂN MAI

Nghiên cứu và thực hiện Chỉ số giá bất động sản tại Việt Nam

¨ ThS. VŨ THỊ THU THỦY

 

QUỐC TẾ

Chính sách phát triển nông nghiệp của Nhật Bản

¨ GIA LINH

VUI VUI THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 12/2016

 

KHAI MẠC TRIỂN LÃM ẢNH VỀ CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DI CƯ Ở VIỆT NAM

 

Nằm trong hoạt động công bố kết quả điều tra di cư năm 2015, sáng ngày 13 tháng 12 năm 2016, tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê phối hợp với Quỹ dân số Liên Hợp quốc (UNFPA) tổ chức Lễ khai mạc triển lãm ảnh “Nơi tôi gọi là nhà”.

Tham dự Lễ khai mạc có ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK, bà Astrid Bant, Trưởng đại diện UNFPA, đại diện các lãnh đạo và nhân viên UNFPA, Tổng cục Thống kê, các cơ quan truyền thông, báo chí.

Triển lãm ảnh đã giới thiệu tới người xem 13 bộ ảnh do tác giả Nguyễn Minh Đức thực hiện, với những câu chuyện đầy cảm động về cuộc sống của người di cư và gia đình của họ tại 9 tỉnh, thành trên khắp đất nước. Họ đã di cư vì mưu sinh, theo đuổi học vấn, cơ hội phát triển nghề nghiệp và tương lai, học hành của con cái, họ đã gặp nhiều khó khăn, đối diện với cuộc sống không mấy dễ dàng ở nơi đến và điều quan trọng hơn là họ đã vượt lên số phận, luôn có cái nhìn lạc quan về cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây cũng là một hình thức chuyển tải những thông điệp truyền thông rất hiệu quả. Những thông tin về người di cư không chỉ thu được qua các nghiên cứu từ các cuộc điều tra mà còn được lột tả chân thực qua hình thức tranh/ ảnh, với những câu chuyện đằng sau các con số từ các cuộc điều tra di cư. (…)

Đồng cảm với hoàn cảnh và nghị lực của những người di cư, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK đã phát biểu “Triển lãm ảnh lần này sẽ giúp cho mỗi người chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống hiện tại, đặc biệt là cuộc sống của một số không nhỏ những người di cư, từ đó có những việc làm thiết thực, tạo cho cuộc sống mọi người xung quanh trở nên chân thành và hạnh phúc hơn”.

Tại Lễ khai mạc, người xem cũng được trò chuyện với tác giả của bộ ảnh và những người di cư là những nhân vật trong bộ ảnh triển lãm.

Triển lãm sẽ diễn ra trong 6 ngày từ ngày 13-18/12/2016 tại Nhà triển lãm 45 Tràng Tiền, Hà Nội.

Sau hoạt động triển lãm ảnh này, TCTK và UNFPA sẽ tổ chức sự kiện công bố kết quả chủ yếu Điều tra di cư nội địa ở Việt Nam: Các cơ hội và thách thức.

 

KHAI THÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ THÔNG QUA SỬ DỤNG

DỮ LIỆU HÀNH CHÍNH

 

Ở các nước phát triển như: Anh, khối các nước Bắc Âu… việc khai thác, sử dụng dữ liệu hành chính phục vụ cho mục đích thống kê đã được thực hiện từ lâu và rất thành công. Ở nước ta, hiện nay mới chủ yếu sử dụng hai hình thức thu thập số liệu thống kê là báo cáo thống kê và điều tra thống kê.

Dữ liệu hành chính, đặc biệt là dữ liệu đăng ký hành chính là nguồn dữ liệu để hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành, cơ sở dữ liệu địa phương. Đây chính là nguồn thông tin quan trọng cho hoạt động thống kê Nhà nước. Việc tận dụng nguồn thông tin này đem lại rất nhiều lợi thế. Hệ thống thống kê Nhà nước có thể khai thác cơ sở dữ liệu hành chính phục vụ cho hoạt động thống kê nhà nước từ nguồn tài nguyên sẵn có, đầy đủ về phạm vi, đáp ứng tính kịp thời và thường xuyên được cập nhật, tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời giảm bớt phiền hà, gánh nặng cho cả người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin. (…)

Năm 2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII các đại biểu Quốc hội đã bấm nút thông qua Luật thống kê 2015, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016, trong đó có nhiều nội dung đổi mới so với Luật thống kê 2003. Với những ưu điểm của khai thác số liệu thống kê thông qua sử dụng dữ liệu hành chính, việc khai thác dữ liệu từ hồ sơ hành chính cho mục đích thống kê đã được cụ thể hóa trong Luật thống kê mới. (…)

Vì vậy, để thực hiện được việc khai thác cơ sở dữ liệu hành chính phục vụ công tác thống kê hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan. Cần tiến hành khảo sát, đánh giá khả năng sử dụng và tính phù hợp của dữ liệu từ cơ sở dữ liệu hành chính cho mục đích hoạt động thống kê nhà nước; điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin để cung cấp, tiếp nhận dữ liệu từ cơ sở dữ liệu hành chính. Lập văn bản quy định việc sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê nhà nước giữa cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu và cơ quan thống kê trung ương. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết về nhân lực, vật lực cho việc cung cấp, tiếp nhận, quản lý, sử dụng, lưu trữ, bảo mật dữ liệu từ cơ sở dữ liệu hành chính...

Như vậy, việc khai thác cơ sở dữ liệu từ hồ sơ hành chính không chỉ rất thuận lợi cho việc sản xuất số liệu thống kê, mà nó còn thực sự có ích đối với công tác quản lý của Bộ, ngành, và đây cũng là kỳ vọng hướng tới một chính phủ điện tử minh bạch, hiệu quả./.

 

KẾT QUẢ TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

Minh Hải

 

Trong giai đoạn 2011-2015, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng và Chính phủ tích cực triển khai thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, các lĩnh vực trên phạm vi cả nước đó là thực  hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Trong đó, ba lĩnh vực quan trọng nhất được tập trung đó là: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước. Đến nay, hoạt động này đã đạt được những kết quả khá tích cực: Nền kinh tế vĩ mô, tiền tệ được giữ vững; chỉ số an toàn quốc gia được nâng cao; môi trường kinh doanh có sự cải thiện; tăng trưởng kinh tế phục hồi và hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng hợp đã được cải thiện đáng kể; cải thiện tính minh bạch trong đầu tư công và tiến độ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng đã được đẩy nhanh...

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2011-2015, kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lạm phát, tỷ giá được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế từng bước được phục hồi, chất lượng tăng trưởng được cải thiện; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được đảm bảo. Năng suất lao động tăng bình quân 4,2%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 29%. (…)

Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do việc chậm đổi mới thể chế huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển do vậy chưa có đột phá về thể chế, nhất là thể chế đối với thị trường các yếu tố sản xuất; Tổ chức thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế còn thiếu hiệu lực và đồng bộ; Tái cơ cấu nền kinh tế chưa gắn kết với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; Năng lực bộ máy hành chính quản lý nhà nước về kinh tế còn hạn chế, không phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập; Một số địa phương chưa chú trọng đến triển khai thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế dẫn đến việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách về cơ cấu nền kinh tế còn thụ động, chậm trễ, thiếu hiệu quả, thiếu sự phối hợp giữa các cấp, ngành và địa phương; Vai trò giám sát các tổ chức chính trị - xã hội và người dân đối với tái cơ cấu nền kinh tế còn chưa được phát huy đầy đủ. (…)

Để hoàn thành các mục tiêu này, Quốc hội cũng đã đề xuất các giải pháp quan trọng cần thực hiện trong giai đoạn mới đó là:

Tập trung hoàn thành cơ cấu lại ba trọng tâm gồm cơ cấu lại đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng.

Cơ cấu lại ngân sách nhà nước, khu vực công.

Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước và thu hút hợp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Hiện đại hóa công tác quy hoạch, cơ cấu ngành và vùng kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, gắn với đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Hình thành đồng bộ và phát triển các loại thị trường, gồm thị trường tài chính, thị trường quyền sử dụng đất, thị trường lao động và thị trường khoa học công nghệ./.

 

PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP THEO TƯ DUY MỚI

 

Ngọc Ngân

Là mô hình ra đời sớm nhất của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã (HTX) nông nghiệp từng đóng vai trò nòng cốt trong phát triển nông nghiệp củaViệt Nam ta. Trải qua nhiều biến động trong của công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế đất nước, đặc biệt là định hướng phát triển kinh tế thị trường, do chậm thích nghi nên các HTX nông nghiệp đang gặp phải rất nhiều khó khăn để duy trì hoạt động sản xuất. Đổi mới phương thức tổ chức sản xuất cho các HTX nông nghiệp, tạo động lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân đang là một trong những vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay.

 

Năng lực yếu, hoạt động kém hiệu quả

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến hết năm 2015 cả nước có 19 liên hiệp HTX trong lĩnh vực nông nghiệp (03 liên hiệp HTX trồng trọt, 01 liên hiệp HTX xã chăn nuôi, 01 liên hiệp HTX thủy lợi và nước sinh hoạt, 03 liên hiệp HTX nuôi và khai thác thuỷ sản, 11 liên hiệp HTX dịch vụ tổng hợp); có 10.902 HTX nông nghiệp, chiếm 55,5% tổng số HTX trong cả nước, tập trung nhiều nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng (33,5%), tiếp đến là Bắc Trung bộ (19,7%) Đông Bắc bộ (16,9%), thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu Long (11,2%). Đa số các HTX nông nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh tổng hợp (khoảng 8.036 hợp tác xã, chiếm 73,7%). Số lượng các hợp tác xã chuyên ngành không nhiều (khoảng 2.866 hợp tác xã, chiếm 26,3%), trong đó: 1.242 HTX trồng trọt, 362 HTX chăn nuôi, 457 HTX thủy lợi và nước sinh hoạt, 151 HTX lâm nghiệp, 601 HTX thuỷ sản, 53 HTX diêm nghiệp. Tuy số lượng HTX nông nghiệp thành lập mới hiện nay trên phạm vi cả nước mỗi năm khá cao, khoảng 800 hợp tác xã/năm, song do số lượng HTX nông nghiệp giải thể vì hoạt động kém hiệu quả cũng rất lớn khoảng 550 hợp tác xã/năm nên về tổng số HTX nông nghiệp tăng trung bình chỉ khoảng 250 HTX/năm. (…)

Phát triển theo tư duy mới… hệ quả tất yếu!

Để HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ hiện nay, mục tiêu được đặt ra là từ nay đến năm 2020 đạt được sự chuyển biến rõ nét cả về số lượng và chất lượng của các HTX nông nghiệp. Cụ thể: Phấn đấu 50% HTX nông nghiệp đạt loại khá trở lên; mỗi năm cả nước có từ 200 đến 300 HTX nông nghiệp được thành lập mới, chú trọng phát triển đều khắp trên các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, diêm nghiệp và thủy sản; mỗi tỉnh xây dựng ít nhất 5- 10 mô hình HTX hoạt động hiệu quả gắn với liên kết theo chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực của địa phương.

Nhằm hoàn thành hiệu quả các mục tiêu này, giải pháp hữu hiệu được đặt ra là cần đổi mới toàn diện cả về nội dung và hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất nông nghiệp, phát triển đa dạng các hình thức tổ chức hợp tác của nông dân, phù hợp từng vùng, từng lĩnh vực gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Cụ thể là:

Cần đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HTX nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bằng hình thức đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến các mô hình hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả để tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cán bộ, người dân về vai trò, vị trí, tổ chức hoạt động của HTX; phân biệt rõ sự khác nhau giữa HTX với các loại hình sản xuất, kinh doanh khác. (…)

Xây dựng chương trình, kế hoạch đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp thông qua việc củng cố nâng cao hiệu quả hoạt động một cách rõ nét đối với các HTX nông nghiệp hiện có. (…)

Phấn đấu cơ bản hoàn thành xong việc đăng ký lại hoạt động của HTX nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã mới năm 2012, trong đó trên 50% các HTX nông nghiệp được tổ chức hoạt động hiệu quả. Từng bước thực hiện việc giải thể những hợp tác xã hoạt động yếu kém hoặc ngừng hoạt động để làm lành mạnh hóa môi trường hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp. (…)

Gắn việc chỉ đạo xây dựng HTX với chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, đồng thời gắn động lực phát triển kinh tế hộ vào các mô hình nhằm thể hiện rõ vai trò của các HTX nông nghiệp trong việc thúc đẩy, tương trợ kinh tế hộ. Ngoài ra, cần thay đổi các hình thức quản lý, cách thức ứng xử với các mô hình HTX nông nghiệp từ mệnh lệnh hành chính, cơ chế xin - cho sang các quan hệ hợp tác, đối tác./.

 

SỬ DỤNG THUẬT NGỮ TRONG XÂY DỰNG THANG DO KHÁI NIỆM TRỪU TƯỢNG

 

PGS.TS. Trần Thị Bích

ThS. Nguyễn Thị Xuân Mai

Khoa Thống kê – Đại học Kinh tế quốc dân

 

Nhu cầu đo lường khái niệm trừu tượng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, và kinh doanh đã dẫn đến sự phát triển của các kỹ thuật thống kê cho phép lượng hoá được các khái niệm trừu tượng cần nghiên cứu. Việc lượng hoá hay đo lường các khái niệm trừu tượng thường phức tạpvà cần được thực hiện theo một quá trình gọi là xây dựng thang đo. Trong quá trình này, nhiều thuật ngữ đã xuất hiện và không được sử dụng thống nhất, gây ra một số khó khăn cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là cácnhà nghiên cứu trẻ. Bài viết này là một rà soát, đánh giá các thuật ngữ đang sử dụng trong đo lường từ cả tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh nhằm giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn đa chiều hơn về các thuật ngữ này.

1. Xây dựng thang đo khái niệm trừu tượng

S.S.Stevens lần đầu tiên đã làm rõ khái niệm về đo lường và thang đo trong lĩnh vực khoa học xã hội. Định nghĩa của ông đã được dịch trong giáo trình Điều tra xã hội họccủa Trường Đại học Kinh tế quốc dân như sau: "Đo lường là việc ấn định các con số cho các đối tượng và các sự kiện theo những quy tắc nhất định"(Trần Thị Kim Thu, 2011: trang 39). Việc gán các con số chính là gán thang đo cho các đối tượng và sự kiện (Stevens, 1946).

Thang đo (tiếng Anh là ‘scale’ hoặc ‘measure’) là một tập hợp các số dùng để đo lường hoặc so sánh mức độ của một hiện tượng (a set of numbers, amounts, etc., used to measure orcompare the level of something) (Cambridge Dictionary Online). Stevens đã phát triển bốn loại thang đo (level of measurement/ scale of measure) gồm: thang đo định danh (nominal scale), thang đo thứ bậc (ordinal scale), thang đo khoảng (interval scale) và thang đo tỷ lệ (ratio scale). Mục đích của phân loại thang đo là để phân loại dữ liệu phục vụ cho việc sử dụng các công cụ phân tích thống kê. (…)

2. Thang điểm Likert và thang đo Likert

Một trong những thang đo tổng hợp được sử dụng rộng rãi nhằm đo lường các khái niệm trừu tượng về thái độ và cảm nhận là thang đo Likert. Thang đo này do nhà tâm lý học người Mỹ Rensis Likert phát triển năm 1932. Trong phần lớn các nghiên cứu liên quan đến thang đo được đăng tải trên nhiều tạp chí uy tín ở trong nước như tạp chí Kinh tế Phát triển, tạp chí Phát triển kinh tế, tạp chí Xã hội học… các tác giả thường sử dụng thuật ngữ ‘thang đo Likert’ vì xuất phát từ tiếng Anh là ‘Likert scale’. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong các giáo trình và bài giảng của nhiều trường đại học trong nước như giáo trình Phương pháp điều tra khảo sát: Nguyên lý và thực tiễn (Nguyễn Thị Tuyết Mai và Nguyễn Vũ Hùng, 2015) của Đại học KTQD, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) của Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh...

Tuy nhiên, cần lưu ý là thuật ngữ thang đo Likert được sử dụng để chỉ thang đo tổng hợp nhằm đo lường các khái niệm trừu tượng đa chiều. Trường hợp nó được sử dụng để đo lường khái niệm đơn chiều chỉ có một chỉ báo thì được gọi là ‘thang điểm Likert’ (Likert item) như trong giáo trình Điều tra xã hội học năm 2011 của Trường Đại học Kinh tế quốc dân (xem thêmCarifio, James &Perla,Rocco J., 2007; Uebersax, 2006; Brown, 2011). (…)

3. Chỉ báo hay tiêu chí?

Theo quá trình thao tác hoá khái niệm của giáo trình Điều tra Xã hội học (Trần Thị Kim Thu, 2011), giáo trình Phương pháp điều tra khảo sát: Nguyên lý và thực tiễn (Nguyễn Thị Tuyết Mai và Nguyễn Vũ Hùng, 2015) hay trong nghiên cứu của Trần Hồng Vân (1987), thuật ngữ tiếng Anh indicator được chuyển sang tiếng Việt là chỉ báo. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến bàn đến việc sử dụng từ tiêu chí thay cho ‘chỉ báo’ do thuật ngữ tiêu chí thông dụng hơn và được đề cập trong các từ điển tiếng Việt. Mục này sẽ bàn sâu về các thuật ngữ này. (…)

Qua phân tích ở trên các tác giả đề xuất, khi từ “tiêu chí” đã đạt đến cấp cuối cùng có thể quan sát trực tiếp được trong quá trình thao tác hoá khái niệm, nó có thể được dùng thay thế cho từ “chỉ báo”. Tuy nhiên khi nó vẫn hàm chứa khái niệm đa chiều thì không nên nhầm lẫn từ này với chỉ báo.

Kết luận

Khi đo lường khái niệm trừu tượng đa chiều, cần phải xây dựng thang đo. Các học giả trên thế giới đã phát triển nhiều thang đo khác nhau nhằm đo lường các khái niệm trừu tượng. Quá trình xây dựng thang đo là quá trình chuyển các khái niệm phức tạp thành các khái niệm đơn giản hay các khái niệm thành phần hay các thành phần hoặc các chiều. Các khái niệm thành phần này lại được cụ thể hóa cho đến tận chiều đơn. Ở cấp cuối cùng này nên phân biệt từng tình huống cụ thể để sử dụng thuật ngữ “tiêu chí” hay “chỉ báo” cho phù hợp.

Trong quá trình xây dựng thang đo, cần phân biệt rõ thang đo Likert và thang điểm Likert. Thang đo Likert là một trong những thang đo tổng hợp được sử dụng rộng rãi nhằm đo lường các khái niệm trừu tượng đa chiều còn thang điểm Likert được sử dụng để đo lường khái niệm đơn chiều chỉ có một chỉ báo./.

 

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA NHẬT BẢN

 

Trước khi trở thành một trong những nước công nghiệp hàng đầu thế giới, Nhật Bản cũng là một nước nông nghiệp với tỉ lệ nông dân trên tổng dân số tương đương Việt Nam. Từng có tới 80% dân số Nhật làm nghề nông và lúa là nông sản chính, tuy nhiên, nhờ áp dụng hiệu quả nhiều chính sách phát triển trong nông nghiệp nên nông nghiệp của Nhật Bản đã trở thành ngành kinh tế phát triển với việc cung cấp các sản phẩm có chất lượng tốt, sản lượng cao đứng hàng đầu thế giới.

 

Chính sách về phát triển khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp

Trong điều kiện đất chật người đông và điều kiện tự nhiên của đất đai không phù hợp với nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp. Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: Tăng cường sử dụng phân hoá học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất... Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh và tiếp tục phát triển, tới năm 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%. Sản xuất phát triển mạnh là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp. (…)

Chính sách về cải cách ruộng đất

Sau Thế chiến thứ 2, cuộc cải cách ruộng đất năm 1946 là một thành công trong việc tạo ra những thay đổi cơ bản và rộng khắp ở Nhật Bản. Với thực trạng hoạt động sản xuất khá manh mún, dựa vào sức lao động là chính, khó áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật… Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành cải cách ruộng đất qua đó tạo điều kiện để nông dân sản xuất giỏi có thể tích luỹ ruộng đất, phát triển quy mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá lớn. Thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học - công nghệ và nắm bắt các yêu cầu của thị trường. Việc phân phối lại đất đai một cách mạnh mẽ đã gần như chấm dứt tình trạng thuê đất vào năm 1949 và kết quả là khoảng 90% đất canh tác do chính người sở hữu tự trồng cấy.

Chính sách phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản

Kể từ sau năm 1951, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật – công nghệ làm cho sản xuất nông nghiệp thừa dẫn đến giá cả nông sản liên tục giảm và thu nhập nông dân bị giảm sút. Năm 1956, thu nhập của mỗi nông hộ giảm 10% và của mỗi nhân khẩu chỉ bằng 2/3 so với nhân khẩu công nhân thành phố. Tình hình này khiến cho nông dân lo lắng về tương lai của họ trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng. Thời kỳ này, ngành nông nghiệp Nhật Bản gặp phải nhiều khó khăn, nhiều vấn đề nông nghiệp đòi hỏi phải được giải quyết thông qua những chính sách mới về nông nghiệp như: Các hộ nông dân thu nhập thấp; cạnh tranh kém trên thị trường quốc tế; số nông dân lao động phi nông nghiệp ngày một tăng; hệ thống cơ cấu công việc đồng áng bị tổn hại... (…)

Chính sách phát triển các HTX và các tổ chức kinh tế HTX dịch vụ

Tầng lớp nông dân nhỏ ở Nhật Bản cạnh tranh thành công trên thị trường là nhờ kinh tế hợp tác rất phát triển. Gần như 100% nông dân ở Nhật Bản là hội viên nông hội và xã viên hợp tác xã. Hệ thống hợp tác xã và nông hội được tổ chức theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân chủ ra quyết định. Hội đồng quản trị từ cơ sở đến trung ương đều do xã viên bầu, giám đốc điều hành do hội đồng tuyển và hợp đồng. Các cấp quản lý có trách nhiệm thực hiện đúng nhiệm vụ được nông dân uỷ thác, bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân. (…)

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp

Nhật Bản coi an ninh lương thực là mục tiêu số một, nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao; và được khuyến khích theo kiểu tự cung tự cấp thông qua việc hạn chế nhập khẩu một cách tối đa. Với chính sách trợ giá cho lúa gạo khiến cho nền nông nghiệp của Nhật sản xuất thừa gạo. Từ năm 1970, Nhật Bản bắt đầu hạn chế mức sản xuất gạo, do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu lương thực trong nước so với 79% của năm 1960. (…)

Với việc gia nhập Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), tuy cạnh tranh giữa các nước thành viên gia tăng nhưng cơ hội đối với ngành nông nghiệp Nhật Bản cũng rất lớn, đặc biệt là khi thị trường thế giới ngày càng ưu chuộng nông sản sạch và có chất lượng cao. Trước tình hình đó, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra những chiến lược cải cách ngành Nông nghiệp, đồng thời xem xét nới lỏng các chính sách bảo hộ, với tham vọng đưa ngành nông nghiệp từ chỗ phải phụ thuộc vào trợ cấp Chính phủ trở thành lĩnh vực có thế mạnh của kinh tế Nhật Bản trong thời gian tới.

Gia Linh (tổng hợp)

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)