English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2016 (514)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 11/2016 (514)

Ra hàng tháng. Năm thứ 55

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Tổng cục Thống kê và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ký kết quy chế phối hợp về công tác thống kê và chia sẻ thông tin thống kê

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Phổ biến thông tin thống kê Nhà nước

Phương án điều tra người khuyết tật năm 2016

Triển khai Đề án “Đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”

Thành phố Đà Nẵng quyết tâm triển khai hiệu quả Luật Thống kê năm 2015

¨ TRẦN THỊ LỆ TRINH

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 11 tháng năm 2016

Kết nối MeKong – triển vọng phát triển kinh tế khu vực

¨ ThS. NGUYỄN VIỆT BÌNH

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: Những cú huých và thách thức

¨ ThS. PHÙNG THỊ KIM PHƯỢNG – ThS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

Giải pháp tăng vốn cho các Ngân hàng thương mại Nhà nước

¨ TS. ĐỖ THU HẰNG

Chính sách cạnh tranh bình đẳng trong doanh nghiệp: nhìn từ kinh nghiệm của Australia

¨ ThS. TRẦN XUÂN TÙNG

Năng suất lao động trong ngành dệt may – thực trạng và một số vấn đề đặt ra

¨ MINH THƯ

Đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam sang thị trường các nước thuộc khu cực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)

¨ ThS. TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO – ThS. NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC – ThS. TRIỆU VĂN HUẤN

Giải cơn khát thực phẩm sạch – Cần sự chung tay của toàn xã hội

¨ NGỌC LINH

Phát triển giao thông nông thôn tạo sự đột phá hướng tới phát triển bền vững

¨ MINH HẢI

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống: vấn nạn và giải pháp

¨ TRÚC LINH

Quản lý cho thuê và chuyển nhượng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước ở TP Hà Nội

¨ NCS. VƯƠNG MINH PHƯƠNG – NCS. TRẦN THỊ THANH HÀ

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bắc Ninh

¨ ThS. KHỔNG VĂN THẮNG

Quản lý nguồn nhân lực y tế tỉnh Gia Lai: Những vấn đề đặt ra

¨ ThS. PHẠM THỊ NGỌC MAI

 

QUỐC TẾ

Gian nan cuộc chiến chống biến đổi khí hậu

¨ TIẾN LONG

VUI VUI THỐNG KÊ

BẮC KẠN – THU HÚT ĐẦU TƯ

Bắc Kạn  - hướng tới xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn

Hiệu quả tích cực từ việc triển khai Nghị quyết 30a và chương trình 135 tại huyện Ba Bể

Thành phố Bắc Kạn: tăng cường phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 11/2016

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ VÀ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN KÝ KẾT

QUY CHẾ PHỐI HỢP VỀ CÔNG TÁC THÔNG KÊ VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN THỐNG KÊ

 

Ngày 11/11/2016  tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê (TCTK), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN và PTNT) đã tiến hành Lễ ký kết Quy chế phối hợp về công tác thống kê và chia sẻ thông tin thống kê. Ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT; ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK đồng chủ trì buổi lễ. Tham dự Lễ có đại diện lãnh đạo và chuyên viên Bộ NN và PTNT và TCTK, đại diện một số cơ quan thông tấn báo chí trên địa bàn Hà Nội.

Phát biểu tại buổi Lễ, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK cho biết: Để nâng cao hiệu quả và giá trị của thông tin thống kê, trong những năm vừa qua, Tổng cục Thống kê và các Bộ, ngành đã tích cực đổi mới phương pháp và hoạt động thống kê trên các tiêu thức: Tính phù hợp, tính kịp thời, tính chính xác; khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ. TCTK đã không ngừng đổi mới phương pháp luận theo thông lệ quốc tế, phát triển và ứng dụng CNTT trong công tác thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích và sử dụng thông tin thống kê; Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc khai thác và chia sẻ dữ liệu thông tin thống kê cho các Bộ, ngành. Đến nay Tổng cục Thống kê đã ký biên bản ghi nhớ về việc chia sẻ thông tin với 13 Bộ, ngành. Trên cơ sở biên bản ghi nhớ, Tổng cục Thống kê đã ký thỏa thuận hợp tác trong công tác thống kê và chia sẻ thông tin với Bộ Công Thương; Ban Kinh tế Trung ương và Ủy ban dân tộc; ký Quy chế phối hợp quy định việc phối hợp công tác và trao đổi thông tin với Tổng cục Thuế. (…)

Trong không khí trang trọng, ấm cúng, với tinh thần hợp tác tích cực, đại diện lãnh đạo 2 cơ quan đã ký Qui chế phối hợp về công tác thống kê và chia sẻ thông tin thống kê trước sự chứng kiến của đại diện các đơn vị thuộc TCTK, Bộ NN và PTNN và các phóng viên báo chí.

Kết thúc buổi Lễ, ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT đề cao sự phối hợp, hợp tác của TCTK với Bộ NNP và PTNT trong thời gian qua và khẳng định Bộ NNPTNT sẽ nghiêm túc thực hiện Qui chế này nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của 2 cơ quan, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước./.

 

PHỔ BIẾN THÔNG TIN THỐNG KÊ NHÀ NƯỚC

 

Luật thống kê đã được Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 23 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2016. Luật đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 17/2015/L-CTN ngày 04 tháng 12 năm 2015. Luật thống kê năm 2015 thay thế Luật thống kê năm 2003 tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thống kê và khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò ngày càng quan trọng  của công tác thống kê.

Phổ biến thông tin thống kê là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động thống kê nhà nước, giúp người sử dụng thông tin thống kê tiếp cận với thông tin thống kê do cơ quan thống kê thuộc hệ thống thống kê nhà nước thực hiện thu thập, tổng hợp, công bố. (…)

Tại Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê đã quy định rõ đối tượng áp dụng, nội dung phổ biến thông tin thống kê nhà nước, cũng như lịch phổ biến thông tin (Điều 4), trách nhiệm của cơ quan thống kê trung ương (Điều 5), trách nhiệm của cơ quan thống kê cấp tỉnh (Điều 6), trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (Điều 7), trách nhiệm của Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Điều 8) và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có chức năng phổ biến thông tin thống kê (Điều 9) trong việc phổ biến thông tin thống kê nhà nước. Theo đó, lịch phổ biến một số thông tin thống kê quan trọng của cơ quan thống kê trung ương được công bố công khai: Số liệu chính thức Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng tháng được công bố vào ngày 29 hàng tháng (riêng tháng Hai vào ngày cuối tháng); Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước số liệu ước tính vào ngày 29 của tháng cuối quý, với số liệu sơ bộ được công bố vào ngày 29 tháng cuối của quý tiếp theo; Số người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp, số người thiếu việc làm và tỷ lệ thiếu việc làm hàng quý, với số liệu ước tính được công bố vào này 29 của tháng cuối quý, số liệu sơ bộ công bố vào ngày 29 tháng cuối của quý tiếp theo; Báo cáo kinh tế - xã hội tháng, quý I, 6 tháng, 9 tháng và năm công bố vào ngày 29 của tháng báo cáo (riêng tháng hai vào ngày cuối tháng). Nếu các mốc thời gian phổ biến nêu trên trùng vào các ngày nghỉ theo quy định của Nhà nước, thời hạn phổ biến sẽ chuyển sang ngày làm việc tiếp theo./.

KẾT NỐI MEKONG – TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ KHU VỰC

 

Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về khu vực MeKong 2016 (WEF – MeKong 2016) diễn ra vào cuối tháng 10 vừa qua tại Hà Nội, Việt Nam đã đánh dấu bước phát triển mới về tầm quan trọng của MeKong đối với sự phát triển kinh tế của các nước khu vực này. Với chủ đề “Phát triển khu vực MeKong: Đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và kết nối”, Hội nghị đã đi đến những thống nhất trong lựa chọn phương thức hợp tác cùng phát triển và giải pháp khắc phục khó khăn thách thức trong quá trình công nghiệp hóa… nhằm đưa khu vực MeKong phát triển bền vững.

 

MeKong – tiềm năng song hành cùng thách thức

Trên thế giới, sông MeKong được xếp hạng thứ 12 (thứ 7 của châu Á) về độ dài và hạng thứ 10 về lưu lượng nước (lưu lượng hàng năm khoảng 475 triệu m³, lưu lượng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000 m³/s). Lưu vực của Mekong rộng khoảng 800.000 km². Sông MeKong xuất phát từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải, băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), xuyên sang các nước Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam. Sông MeKong có tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện, giúp mở rộng hệ thống tưới tiêu, kiểm soát lũ, là nguồn nước dự trữ cho mùa khô, phát triển nông nghiệp, đánh bắt cá, nông nghiệp, giao thông đường thủy và du lịch. Đặc biệt sông MeKong có ý nghĩa quan trọng và gắn liền với sinh kế của hơn 60 triệu người sinh sống dọc hai bên bờ sông.

Thời gian qua, nhờ đẩy mạnh cải cách và hội nhập, Khu vực MeKong đã trở thành một trung tâm phát triển năng động tại châu Á với nhiều nền kinh tế phát triển nhanh. Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), khu vực MeKong có 4/25 nền kinh tế tăng trưởng nhanh hàng đầu thế giới trong năm 2015 là Campuchia, Lào, Myanmar với trên 7%, Việt Nam là 6,7% và nền kinh tế của Thái Lan cũng đang trên đà phục hồi tích cực. Khu vực này là điểm kết nối quan trọng ở châu Á và là một thị trường giàu tiềm năng với dân số 240 triệu người và quy mô GDP trên 660 tỷ USD. (…)

 

Thông điệp định hình xu hướng phát triển kinh tế khu vực

 

Có thể thấy, các nước khu vực MeKong thời gian qua, vừa có sự hợp tác, bổ sung cho nhau, vừa có sự cạnh tranh lành mạnh để cùng phát triển. Cụ thể như, các nước MeKong đều có lợi thế sản xuất, xuất khẩu gạo, dệt may, da giày, thủy sản, nông, lâm sản… Những điểm chung này là cơ sở để hợp tác nâng cao chất lượng, giá trị. Đặc biệt, các nước này có tính liên kết vùng cao nên việc xây dựng và khai thác hiệu quả các cơ sở hạ tầng của hành lang kinh tế tiểu vùng như hành lang kinh tế Đông – Tây giúp cho chi phí vận chuyển, hậu cần, logistic giảm, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, các nước thành viên cần có thêm nhiều hợp tác, thống nhất bền chặt và thiết thực hơn nữa. (…)

Việt Nam luôn ủng hộ và đề cao tinh thần hợp tác, kết nối phát triển kinh tế khu vực MeKong. Thủ tướng khẳng định việc hướng tới xây dựng một khu vực MeKong hoà bình, ổn định về an ninh - chính trị, năng động và kết nối về kinh tế, bền vững về môi trường và hài hòa về xã hội là lợi ích chung của các nước MeKong và khu vực, đóng góp thiết thực vào thực hiện các mục tiêu của Cộng đồng ASEAN và góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực.

Có thể thấy, các nước MeKong cùng các nước ASEAN đang nỗ lực thực hiện mục tiêu xây dựng một thị trường thống nhất vào năm 2025. Theo đó, cùng hợp tác tạo thuận lợi cho lưu chuyển thương mại, đầu tư và du lịch qua biên giới; đơn giản hóa và hài hòa quy trình, thủ tục trên các tuyến hành lang kinh tế. Bên cạnh đó cũng có những đổi mới, sáng tạo, nâng cao sức cạnh tranh; phát triển bền vững và bao trùm. Mỗi quốc gia MeKong đều có di sản văn hóa phong phú, do đó, giao lưu văn hóa sẽ giúp tăng cường tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực… đó chính là những thông điệp trong hợp tác phát triển kinh tế khu vực MeKong giai đoạn tới./.

 

TẢO HÔN VÀ HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG: VẤN NẠN VÀ GIẢI PHÁP

Theo các chuyên gia dân số, trong 30 năm qua chất lượng dân số tại Việt Nam đã có nhiều cải thiện và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, một số dân tộc ở vùng nông thôn, miền núi, nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống đang có chiều hướng gia tăng. Thực trạng này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam đang tham gia như: Giảm nghèo đói, thúc đẩy bình đẳng giới và quyền con người, phổ cập giáo dục, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em…

Nhức nhối vấn nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống

Tảo hôn là vi phạm quyền con người. Mặc dù các quốc gia đã có hệ thống pháp luật giúp giải quyết vấn đề này nhưng thực tế tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi. Trên toàn thế giới hiện có hơn 700 triệu phụ nữ kết hôn ở độ tuổi trẻ em. Cứ 3 phụ nữ thì có 1 người kết hôn trước tuổi 15 (khoảng 250 triệu người). Kết quả điều tra năm 2015 của Ủy ban Dân tộc (UBDT) về vấn đề tảo hôn tại Việt Nam cho thấy, tình trạng tảo hôn xảy ra ở 63 tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn chiếm tỉ lệ tảo hôn cao nhất. Điều này làm giảm chất lượng dân số tương lai, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của các em gái và trẻ sơ sinh. (…)

Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Nguyên nhân của thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, trước hết là do bị ảnh hưởng bởi sức ép về phong tục tập quán - tập tục. Bên cạnh đó, một số dân tộc thiểu số quan niệm rằng: Lấy trong họ tộc để của cải không bị mang đi đến họ tộc khác, vợ chồng cũng không bỏ được nhau. Từ bao đời nay suy nghĩ này đã thấm sâu trong đời sống từ bao đời nay trong cộng đồng nhiều dân tộc thiểu số sinh sống trên những vùng núi cao, vùng sâu. Cùng với đó là do trình độ dân trí thấp, nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế, địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa nên phần lớn người dân ít có điều kiện tiếp cận thông tin, chưa hiểu rõ những hệ lụy từ tảo hôn. (…)

Bên cạnh đó, cần tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sinh kế cho các gia đình nhằm phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó dành ưu tiên cho các địa bàn trọng điểm và một số dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn cao. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và người dân, trong đó có các tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội, các nhà khoa học và các cộng đồng dân tộc thiểu số… trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật nhằm hình thành các chuẩn mực xã hội mới tiến bộ hơn, thúc đẩy bình đẳng giới để trẻ em gái có cơ hội được đi học, được đào tạo nghề, có việc làm, có được cuộc sống hạnh phúc thật sự cùng với việc tăng cường các biện pháp mang tính chất phòng ngừa như: truyền thông, tư vấn, vận động thay đổi nhận thức, nâng cao dân trí cho người dân ở vùng dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, cần phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn ở tất cả các cấp, các tổ chức xã hội dân sự, cộng đồng quốc tế và Liên hợp quốc cùng hành động để chấm dứt tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống./.

GIAN NAN CUỘC CHIẾN CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

Tiến Long

Biến đổi khí hậu hiện đang là một trong những vấn đề nổi cộm nhất mà cả thế giới phải đối mặt. Theo báo cáo nghiên cứu của Cơ quan Khí tượng Anh, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 1,02 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900) và các hoạt động của con người là nhân tố chính làm biến đổi khí hậu. Các hiện tượng băng tan, mực nước biển dâng cao, sa mạc hóa gia tăng, bão mạnh lên… với những hệ lụy vô cùng nguy hiểm đều liên quan đến biến đổi khí hậu. 

Chặng đường nhiều chông gai

Gần 30 năm trước, giới khoa học đã cảnh báo nguy cơ trái đất ấm dần lên. Năm 1988, Liên hợp quốc thành lập một Ủy ban quốc tế bao gồm các chuyên gia uy tín điều tra hiện tượng này. Hai năm sau, Ủy ban báo cáo tình trạng khí thải nhà kính từ các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch đang tăng nhanh, khiến bề mặt trái đất nóng lên, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống khí hậu của hành tinh. (…)

Cho tới Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc 2015 (COP21) được tổ chức tại Paris, các nước đã cố gắng đạt tới đồng thuận cuối cùng bằng một thỏa thuận. Theo đó, không chỉ các nước phát triển, cả các nước đang phát triển cũng phải cắt giảm khí thải. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đó cũng mới chỉ là một bước đi cần thiết của nhân loại trong hành trình chống biến đổi khí hậu. Vẫn còn rất nhiều thử thách ở trước mắt và khó khăn chưa thể giải quyết.

Những thách thức và hy vọng

Theo Trung tâm dự báo khí hậu Mỹ (NOAA), hiện tượng El Nino là thách thức đáng lo ngại nhất của thế giới, và đang có xu hướng mạnh dần lên. Theo đó, năm 2016, thế giới sẽ tiếp tục phải đón nhận một năm nóng kỷ lục nữa do hiệu ứng của El Nino và biến đổi khí hậu gây ra. Nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên khoảng 1,14ºC trong năm 2016 và sẽ là đợt El Nino mạnh nhất kể từ thập niên 50. NOAA cho rằng, hiệu ứng của El Nino sẽ còn lớn hơn những gì giới khoa học cảnh báo, có thể sẽ kéo dài đến hết năm sau, gây nên những diễn biến thiên tai bất thường và nguy hiểm. (…)

Thế giới đang phải nỗ lực từng ngày để ngăn chặn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, mà những hệ quả trước mắt là nước biển dâng cao và nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên. Vì vậy, Thỏa thuận Paris được coi là một thông điệp mạnh mẽ gửi tới hàng nghìn thành phố, khu vực cùng các doanh nghiệp và người dân trên khắp thế giới đã cam kết hành động chống biến đổi khí hậu rằng, tầm nhìn của họ về một tương lai có ít nguy cơ và khí thải thấp giờ đã trở thành sự nghiệp chung đối với nhân loại trong thế kỷ này.

Đây là một bước ngoặt đối với thế giới, là cơ sở giúp thiết lập khuôn khổ bền vững để đối phó hiệu quả với tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, đồng thời cho thấy những cơ hội đầu tư, đổi mới và sử dụng năng lượng sạch ở quy mô chưa từng thấy. Không giống các thỏa thuận khác, Thỏa thuận Paris có khả năng thực hiện thành công, bởi nó có sự tham gia và nhất trí cao của tất cả các nước. Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia phát thải khí nhà kính nhiều nhất trong số các nước đang phát triển, đều hoan nghênh thỏa thuận lịch sử tại Paris, và đều cho rằng đây là bước tiến đến tương lai tươi sáng hơn.

Thỏa thuận Paris tại COP21 sẽ bắt đầu có hiệu lực từ năm 2020, giúp nền kinh tế thế giới hướng về một mô hình khí thải CO2 (cùng các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác) ở mức thấp. Cuộc cách mạng này được tiến hành qua việc loại bỏ dần các năng lượng hóa thạch (than đá, dầu lửa, khí đốt) hiện đang thống trị trên thế giới, để chuyển sang năng lượng tái tạo. Một cơ chế sẽ được thiết lập để xét lại mục tiêu giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính mỗi 5 năm một lần, bắt đầu từ năm 2025, trong đó các nước phát triển phải đóng góp nhiều hơn, do trách nhiệm lịch sử trong việc phát khí thải.

Tuy nhiên, theo WMO, những cam kết mà các quốc gia đưa ra sẽ khó có thể hạn chế ngay lập tức được mức tăng nhiệt độ Trái Đất không quá 2ºC, và trong dài hạn là 1,5ºC. Đến nay, những tác động của con người đã khiến nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất tăng 1,02ºC so với thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp. Để có 2/3 cơ hội đạt được mục tiêu giới hạn mức tăng nhiệt độ Trái Đất không quá 2ºC, lượng khí thải phải giảm từ 40-70% vào giữa thế kỷ này. Còn nếu muốn đạt mục tiêu 1,5ºC, các nước phải cắt giảm từ 70-95% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Trên thực tế, cam kết của 195 quốc gia về cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, ngay cả trong trường hợp được tuân thủ nghiêm túc, cũng có thể khiến nhiệt độ toàn cầu tăng thêm gần 3ºC trong thời gian tới. Ngoài ra, thời gian Thỏa thuận Paris chính thức có hiệu lực để các bên bắt đầu hành động là khá dài (5 năm kể từ ngày ký) cũng làm ảnh hưởng đến tiến trình chống biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì vậy, giới khoa học quốc tế cho rằng không thể chờ đến năm 2020 mà cần phải chủ động hành động ngay.

Như vậy, sau gần 30 năm, cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu vẫn chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu và sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức phải đối mặt./.

 

BẮC KẠN HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ HẤP DẪN

 

Trải qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, Bắc Kạn đã và đang phát triển ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng phát huy các tiềm năng thế mạnh sẵn có của Tỉnh về nông nghiệp và dịch vụ. Dòng vốn đầu tư vào Tỉnh liên tục tăng qua các năm, đặc biệt kể từ khi có Luật Đầu tư năm 2005. Tính đến năm 2015, Bắc Kạn thu hút được 89 dự án đầu tư trong nước, với số vốn đăng ký trên 11,2 nghìn tỷ đồng, 03 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký 2,3 triệu USD; số vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã ký kết được trên 2.050 tỷ đồng và giải ngân ước được 1.660 tỷ đồng bằng 80,98% so với số vốn đã ký kết. Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào lĩnh vực: Khai thác khoáng sản (quặng, chì kẽm, vàng sa khoáng, bột ôxít kẽm...) chiếm 37% số lượng dự án; lĩnh vực nông, lâm nghiệp chiếm 24% số lượng dự án; đầu tư vào lĩnh vực thương mại dịch vụ còn rất hạn chế. Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghiệp chủ yếu đầu tư trong khu công nghiệp, với 04 doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp, tổng số vốn đầu tư đạt khoảng 2.375 tỷ đồng. (...)

Với mục tiêu đưa Bắc Kạn trở thành một tỉnh phát triển khá trong khu vực, tỉnh Bắc Kạn xác định tiếp tục huy động mọi nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư vào Tỉnh theo định hướng lựa chọn lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh để ưu tiên khuyến khích đầu tư, nhằm nâng cao chất lượng của dòng vốn đầu tư, phục vụ đắc lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thành Nam

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 6/2018 (531)