English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2016 (513)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 10/2016 (513)

Ra hàng tháng. Năm thứ 55

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Hội nghị triển khai Đề án “Đổi mới quy trình biên soạn số liệu GRDP”

Đoàn khảo sát của cơ quan Thống kê Mi-an-ma đến thăm và làm việc với Tổng cục Thống kê Việt Nam

 

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 10 tháng năm 2016

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EAEU có hiệu lực: Cuộc chơi mới

¨ ThS. LƯU THỊ DUYÊN

Logistic Việt Nam – cơ hội và thách thức trước thềm TPP

¨ THU HÒA

Đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang EU

¨ TS. PHẠM HÙNG CƯỜNG – NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG

Mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị: Hướng phát triển nông nghiệp bền vững

¨ THU HƯỜNG

Xây dựng thương hiệu trái cây Việt Nam thời kỳ hội nhập – Một số vấn đề đặt ra và giải pháp

¨ MINH TRANG

Sở hữu trí tuệ Việt Nam trước sức ép hội nhập

¨ BÍCH NGỌC

Kết quả chủ yếu Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015

Giáo dục Việt Nam với mô hình trường học mới

¨ ThS. LƯƠNG THANH HÀ

 Thích ứng với già hóa dân số Việt Nam

¨ MINH HẢI

Để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn hiện nay

¨ ThS. NGUYỄN MINH SANG

Cải thiện một số yếu tố môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI ở tỉnh Quảng Ninh

¨ ThS. LÊ QUANG TÙNG – PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THÁI

 

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Năng suất lao động Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2015: thực trạng và gợi ý chính sách

¨ TS. PHẠM THỊ VÂN ANH

 

QUỐC TẾ

Những kinh nghiệm phát triển khởi nghiệp từ Singapore

¨ GIA LINH

 

HƯNG YÊN – HƯỚNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ AN TOÀN, HẤP DẪN, TẠO ĐỘNG LỰC

ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Hưng Yên – Khởi sắc trong hoạt động thu hút đầu tư

¨ TRẦN QUỐC VĂN

Hưng Yên – Đẩy mạnh phát triển đồng bộ mạng lưới giao thông

¨ NGUYỄN NGỌC SƠN

Hưng Yên – Tăng cường thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp theo hướng bền vững

¨ VŨ ĐỨC SƠN

Huyện Mỹ Hào – Phấn đấu trở thành thị xã phát triển công nghiệp và dịch vụ

¨ ĐỖ MINH TUÂN

Huyện Yên Mỹ - Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững

¨ PHẠM TRẦN HOẠT

Xã Thanh Long – Tăng tốc phát triển kinh tế tạo tiền đề cho giao đoạn mới

¨ HOÀNG VĂN THÀNH

Xã Đồng Than – thực hiện tốt công tác chỉ đạo điều hành trong phát triển kinh tế - xã hội

¨ TRẦN VĂN TÔN

 

VUI VUI THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 10/2016

 

Hội nghị triển khai Đề án “Đổi mới quy trình biên soạn số liệu GRDP”

Thực hiện Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 về phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu GRDP trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, với mục tiêu là xây dựng và đưa vào áp dụng quy trình biên soạn số liệu GRDP theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trong 2 ngày 11-12/10/2016, tại TP. Cần Thơ, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tổ chức Hội nghị triển khai Đề án “Đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương”. Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có ông Lê Văn Tâm, Thường vụ Thành ủy, Phó chủ tịch thường trực UBND TP. Cần Thơ; đại diện Lãnh đạo, chuyên viên các đơn vị thuộc cơ quan TCTK; Cục trưởng, Trưởng phòng và chuyên viên thuộc các phòng nghiệp vụ của 63 Cục thống kê tỉnh, thành phố trong cả nước.

Hội nghị tập trung vào các vấn đề: (1) Báo cáo tình hình thực hiện rà soát số liệu GRDP giai đoạn 2011-2015 và tính thử 6 tháng đầu năm 2016, kế hoạch tính thử nghiệm năm 2016 và phân công trách nhiệm từ năm 2017; (2) Kết quả tính thử nghiệm GRDP 6 tháng đầu năm 2016; (3) Kết quả rà soát số liệu giá trị sản xuất giai đoạn 2011-2015 và tính thử 6 tháng đầu năm 2016 các ngành kinh tế và kế hoạch trong thời gian tới; (4) Một số nội dung nâng cao chất lượng báo cáo phân tích kinh tế - xã hội tháng, quý, năm.

Phát biểu khai mạc chỉ đạo Hội nghị, Tổng cục trưởng TCTK Nguyễn Bích Lâm nêu lên các nguyên nhân dẫn đến tình trạng chênh lệch số liệu GDP giữa Trung ương và địa phương, đồng thời yêu cầu các đơn vị, Cục Thống kê tập trung thảo luận nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu để giảm tải sự chênh lệch này đi đến sự thống nhất trong công cụ tính toán, nguồn thông tin và trong điều hành quản lý.

Hội nghị cũng đã dành thời gian nghe báo cáo tham luận của một số Cục Thống kê về các vấn đề liên quan tới việc triển khai Đề án tại các địa phương, những khó khăn vướng mắc và bất cập khi triển khai.

Kết luận tại Hội nghị, Tổng cục trưởng Nguyễn Bích Lâm yêu cầu các đơn vị liên quan sớm hoàn thành những nội dung cần thiết nhằm đi tới thống nhất trong quá trình tính toán, tìm hướng khắc phục sự chênh lệch, xác định nhiệm vụ của đơn vị để triển khai Đề án theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ./.

T.H

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – EAEU CÓ HIỆU LỰC: CUỘC CHƠI MỚI

ThS. Lưu Thị Duyên

Trường Đại học Thương mại

Tháng 10/2016, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam với Liên minh kinh tế Á – Âu (Hiệp định FTA Việt Nam - EAEU) chính thức có hiệu lực. Theo đánh giá bước đầu của EAEU, sau khi Hiệp định có hiệu lực, kim ngạch xuất nhập khẩu hai bên sẽ đạt từ 10 đến 12 tỷ USD vào năm 2020. Còn theo ước tính của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh EAEU hàng năm sẽ tăng khoảng từ 18% đến 20%.

Cuộc chơi mới, triển vọng mới

Sau hơn ba năm đàm phán, tháng 10/2016, Hiệp định FTA Việt Nam - EAEU đã chính thức có hiệu lực, mở ra những triển vọng mới trong phát triển thương mại, góp phần tạo thêm động lực để tăng trưởng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và 5 quốc gia EAEU gồm Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Đây là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, bao trùm tất cả các lĩnh vực hợp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và EAEU, với mục tiêu gia tăng khối lượng thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, công nghệ, sử dụng nguồn nhân lực có chuyên môn. (…)

Theo tính toán của Ủy ban kinh tế Á-Âu, việc thành lập khu vực thương mại tự do giữa EAEU với Việt Nam có thể làm tăng kim ngạch song phương từ 4 tỷ USD năm 2015 lên từ 10-12 tỷ USD vào năm 2020. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ nhất trong danh sách các đối tác thương mại lớn nhất của Nga trong các nước ASEAN. Theo số liệu của cơ quan Hải quan Nga, năm 2015, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Nga đạt 3,9 tỷ USD, tăng 4% và tiếp tục được củng cố trong 7 tháng đầu năm 2016, đạt 2 tỷ USD, vượt 11% so với năm trước. Ngoài ra, trong năm đầu tiên Hiệp định có hiệu lực, các nhà xuất khẩu trong khu vực sẽ tiết kiệm được khoảng 40 triệu USD tiền thuế.  (…)

Đón đầu thách thức

Rõ ràng, Hiệp định FTA Việt Nam - EAEU đã mở ra những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng cũng sẽ có không ít thách thức kèm theo. Trước hết, đó là những trở ngại về giao thông, vận chuyển và thanh toán… đang khiến cho nhiều doanh nghiệp phải lo lắng. Theo các chuyên gia, trở ngại đầu tiên chính là vấn đề giao thông khi vận chuyển hàng hóa đến các nước trong EAEU khá xa xôi, khiến cho chi phí hàng hóa tăng lên. Hiện nay, hàng hóa Việt Nam đi Nga mất 80 ngày, gây khó khăn cho hàng nhập khẩu vào các nước thuộc EAEU, đặc biệt là hàng nông sản. Để khắc phục vấn đề này, hai bên có thể thông qua con đường tơ lụa của Trung Quốc để vận chuyển hàng hóa. Sự kết hợp này nếu thành công sẽ tạo thuận lợi lớn về giao thông vận tải để mở đường cho hàng hóa của Việt Nam sang EAEU, tạo “cú hích” để hàng hóa hai chiều tăng đột biến. (…)

Hiệp định FTA Việt Nam - EAEU có hiệu lực đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam với các nước lớn trên thế giới. Để tận dụng hiệu quả lợi ích mà Hiệp định mang lại, các doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải nỗ lực vươn lên, định hình cho mình những chiến lược, giải pháp mới trong việc tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, đủ sức cạnh tranh với các đối tác nước ngoài và trụ vững trên thị trường trong nước./.

 

ĐỂ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HIỆN NAY

 

ThS. Nguyễn Minh Sang

Trường Chính trị tỉnh Sóc Trăng

 

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2010-2015, có gần 2,4 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp cũng như thiếu việc làm ở khu vực này vẫn cao và chủ yếu việc làm là phi chính thức. Đây thực sự vẫn là “bài toán” khó đối với các cơ quan quản lý Nhà nước.

Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn còn khó khăn

Trong những năm qua, Nhà nước luôn có những chính sách quan tâm tới việc làm cho lao động nông thôn, cũng như đào tạo nghề cho khối lao động này. Điển hình như: Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (Đề án 1956); Quyết định số 1201/QĐ-TTg, ngày 31/08/2012 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015; Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg, ngày 24/12/2014, quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp là 6 triệu đồng/khóa; Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg, ngày 10/12/2015 về chính sách hỗ trợ đào tào nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, có hiệu lực từ ngày 01/02/2016. (…)

Nguyên nhân vì sao?

Theo nghiên cứu của chúng tôi, nguyên nhân của tình trạng trên là do:

Thứ nhất, một bộ phận người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất nên đã rơi vào tình trạng thất nghiệp. Những năm gần đây, do tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao, dẫn đến quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Theo Bộ Xây dựng, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đạt khoảng 3,5%/năm, đa số diễn ra ở những đô thị lớn. Xu hướng trên dẫn đến quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp trong tổng quỹ đất tự nhiên của các huyện ngoại thành. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mỗi hecta đất nông nghiệp bị chuyển đổi, sẽ có 20 lao động bị mất việc làm.

Thứ hai, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo, không có bằng cấp ở nông thôn còn khá cao, gây ra nhiều khó khăn trong việc áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tăng thu nhập cho người dân cũng như giải quyết việc làm.

Thứ ba, đào tạo nghề cho lao động vẫn chưa đạt hiệu quả cao, dẫn tới tình trạng người lao động vẫn thiếu hụt việc làm hoặc chỉ có việc làm phi chính thức. Theo kết quả Đề án 1956 (Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020), sau 5 năm thực hiện (2010 -2014), đã có hơn 2,1 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án, đạt 90,4% kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, việc đào tạo còn chưa sát với thực tế dẫn tới hiệu quả chưa cao, khó vận dụng được vào thực tế hoặc vận dụng nhưng không tạo được thay đổi.

Cơ cấu đào tạo nghề còn bất cập, chủ yếu đào tạo các nghề nông nghiệp. Các nghề phi nông nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp - xây dựng - dịch vụ, những nghề phục vụ các khu công nghiệp và xuất khẩu lao động vẫn còn khó khăn.

Một số giải pháp

Vì vậy, để giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn trong điều kiện thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, theo chúng tôi, cần quan tâm tới một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đẩy nhanh phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, tập trung tăng giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. (…)

Thứ hai, khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống đi đôi với xây dựng làng nghề mới. Trên thực tế, các làng nghề truyền thống thu hút một số lượng lớn lao động nông thôn. Vì vậy, cần phải khôi phục, lựa chọn phát triển mạnh các ngành nghề truyền thống đã có và đang được phát huy có hiệu quả, như: Nghề sản xuất cói, thêu ren, mây tre đan, mộc mỹ nghệ cao cấp, chế tác đá, dệt, may, chế biến nông, thuỷ sản… (…)

Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân và loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tạo ra nhiều việc làm cho người lao động ở nông thôn, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững. Đồng thời, cần củng cố, đẩy mạnh phát triển các loại hình tổ hợp tác, hợp tác xã làm dịch vụ sản xuất cho kinh tế hộ, như: Dịch vụ kỹ thuật, bảo vệ thực vật, nhân giống và cung cấp giống; dịch vụ điện nước, tài chính, thương mại, tiêu thụ sản phẩm... (…)

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển dịch vụ, du lịch, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống, phát huy các mô hình phát triển dịch vụ hiện có, nhanh chóng đưa dịch vụ trở thành mũi nhọn. Phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, như: Bưu chính viễn thông, tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, dịch vụ kỹ thuật cây trồng, vật nuôi, dịch vụ cơ khí nông thôn… (…)

Thứ năm, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp, chú trọng phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ để tạo cầu vững chắc cho việc làm ở nông thôn. Trước hết, phải hết sức coi trọng khai thác thị trường trong nước, khu vực đi đôi với việc khai thác mở rộng thị trường ở nước ngoài. (…)

Thứ sáu, đổi mới phương pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Phương hướng chung là không đào tạo tràn lan, mà phải phù hợp với nhu cầu của từng địa phương (huyện, tỉnh), có kết nối với chương trình việc làm quốc gia. (…)./.

 

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015

THỰC TRẠNG VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

TS. Phạm Thị Vân Anh   

Khoa Kinh tế & QTKD - Trường Cao đẳng Thống kê

Là cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô, với nhiều thuận lợi về vị trí địa kinh tế, chính trị, văn hóa và sự nỗ lực mạnh mẽ trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… nên trong giai đoạn 2010 – 2015, Bắc Ninh đã có những thành tích ngoạn mục trong việc nâng cao năng suất lao động (NSLĐ), làm thay đổi căn bản bức tranh kinh tế - xã hội của tỉnh. Năm 2015, NSLĐ theo giá hiện hành đạt 182,6 triệu đồng/lao động[1], bằng 235% năm 2010. Bình quân giai đoạn 2010 – 2015,  NSLĐ của Bắc Ninh  tăng khoảng 21 triệu đồng/người/năm, gấp 1,3 lần Hà Nội;1,7 lần Hải Phòng;3,6 lần Hải Dương và gấp 3,8 lần Bắc Giang.

Thực trạng năng suất lao động của Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2015

NSLĐ chung của tỉnh

Với mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành Trung tâm công nghệ thông tin phía Bắc của Thủ đô Hà Nội và trở thành Trung tâm công nghệ cao của cả nước, những năm qua, kinh tế - xã hội Bắc Ninh có rất nhiều đột phá. NSLĐ theo giá hiện hành năm 2015 của tỉnh đạt 182,6 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 8.415USD/lao động), cao gấp 2,3 lần NSLĐ chung của nền kinh tế Việt Nam (năm 2015, NSLĐ của toàn nền kinh tế Việt Nam theo giá hiện hành đạt 79,3 triệu đồng/lao động, tương đương khoảng 3.657 USD/lao động). Tốc độ tăng NSLĐ của Bắc Ninh tăng rất nhanh. Tính chung giai đoạn 2010 – 2015, đạt bình quân 14,8%/năm (theo giá so sánh 2010) và 18,6%/năm (theo giá hiện hành)(…)

NSLĐ của Bắc Ninh chia theo ngành kinh tế.

Nếu như trong số 20 ngành kinh tế cấp I của nền kinh tế Việt Nam, ngành khai khoáng có NSLĐ cao nhất thì tại Bắc Ninh, giai đoạn 2010 – 2015, trong các ngành kinh tế cấp I, NSLĐ của hoạt động ngân hàng, bảo hiểm luôn đứng ở vị trí số 1 (năm 2015, NSLĐ theo giá hiện hành của hoạt động này đạt mức 597,1 triệu đồng/người). Vị trí thấp nhất có sự thay đổi từ ngành Nông – lâm nghiệp và thủy sản (năm 2010) sang hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (năm 2015)(…)

NSLĐ của Bắc Ninh theo loại hình kinh tế

Theo loại hình kinh tế, NSLĐ của khu vực FDI tại Bắc Ninh luôn cao hơn so với các khu vực còn lại, điều này phù hợp với sự chuyển dịch trong cơ cấu vốn đầu tư vào kinh tế Bắc Ninh. Từ năm 2010 đến năm 2015, NSLĐ của khu vực FDI (giá hiện hành) tăng  từ 267,4 triệu đồng/người/năm lên 441,3 triệu đồng/người/năm; trong khi khu vực Nhà nước lại giảm từ 272,8 triệu đồng/người/năm xuống 168,8 triệu đồng/người/năm và khu vực ngoài Nhà nước tăng rất chậm từ 17,1 triệu đồng/người/năm lên 73,4 triệu đồng/người/năm. Tính riêng năm 2015, NSLĐ (theo giá hiện hành) của khu vực FDI cao gấp 2,61 lần NSLĐ của khu vực Nhà nước và cao gấp hơn 6 lần NSLĐ của khu vực ngoài Nhà nước. (…)

NSLĐ của Bắc Ninh theo khu vực kinh tế

Tại Bắc Ninh, khu vực công nghiệp và dịch vụ có NSLĐ cao nhất và cao hơn nhiều so với hai khu vực còn lại. Điều này phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh trong những năm gần đây, từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp. Bảng 2 cho thấy NSLĐ năm 2010 của khu vực công nghiệp Bắc Ninh gấp tới 8,6 lần khu vực nông nghiệp; NSLĐ khu vực dịch vụ gấp 6,4 lần khu vực nông nghiệp. Năm 2014, khoảng cách NSLĐ (theo giá hiện hành) giữa khu vực công nghiệp và khu vực nông nghiệp giảm xuống còn 7,9 lần, giữa khu vực dịch vụ và khu vực nông nghiệp giảm xuống còn 4,3 lần. Sang năm 2015, NSLĐ của khu vực công nghiệp gấp gần 7 lần NSLĐ của khu vực nông nghiệp, khoảng cách giữa khu vực dịch vụ và khu vực nông nghiệp giảm xuống còn 2,4 lần. Điều đó phản ánh tính đúng đắn và hiệu quả của các chính sách xây dựng, phát triển nông thôn mới của Bắc Ninh trong giai đoạn vừa qua. (…)

Một số gợi ý chính sách

Có hai con đường để tăng NSLĐ cho các quốc gia ASEAN. Một là tăng hiệu quả của các ngành công nghiệp chính bằng cách áp dụng công nghệ mới, nâng cấp máy móc và đầu tư vào đào tạo kỹ năng và đào tạo nghề. Tuy nhiên, NSLĐ có thể tăng nhiều nhất thông qua con đường thứ hai – chuyển dịch sang các hoạt động có giá trị gia tăng lớn hơn. Bởi vậy, mỗi địa phương nếu muốn tăng NSLĐ cần chuyển dịch từ nông nghiệp và các ngành dịch vụ cấp thấp sang các ngành chế tạo và các ngành dịch vụ cao cấp. Do đó, để tăng NSLĐ, các địa phương nói chung và Bắc Ninh nói riêng cần tập trung theo các hướng sau:

Thứ nhất, tiếp tục thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn FDI (…)

Thứ hai, chuyển dịch từ các ngành công nghiệp gia công, lắp ráp, có giá trị gia tăng thấp sang công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn. (…)

Thứ ba, phát triển cân đối giữa khu vực FDI và khu vực trong nước nhằm tạo ra sự phát triển bền vững cho nền kinh tế(…)

Thứ tư, tiếp tục xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đồng thời xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các KCN trên địa bàn tỉnh. (…)

Thứ năm, thay đổi tư duy về mô hình kinh tế. (…)./.

 

NHỮNG KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KHỞI NGHIỆP TỪ SINGAPORE

 

Theo Báo cáo kinh doanh 2016 do Ngân hàng Thế giới công bố mới đây, Singapore là quốc gia đứng đầu nhóm các nước thân thiện nhất đối với doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up) và điều hành doanh nghiệp. Ðây cũng là năm thứ 10 liên tiếp Singapore giữ vị trí này. Có thể thấy, từ con số 0 vào khoảng 10 năm trước, Singapore đã vươn lên trở thành một trung tâm khởi nghiệp trong những năm gần đây. Những nhân tố dẫn tới sự thành công của hành trình trở thành trung tâm khởi nghiệp của Singapore được biết đến đó chính là: Những điều kiện sẵn có chín muồi cho một làn sóng khởi nghiệp (như môi trường kinh doanh thân thiện, nền tảng luật pháp và cơ chế, chính sách minh bạch) và đặc biệt là sự tham gia nghiêm túc của Chính phủ vào “cuộc chơi” khởi nghiệp.

 

Singapore là một quốc đảo với dân số 5,5 triệu người, GDP bình quân đầu người đạt 71.310 USD/năm. Đây là một trong những quốc gia có hệ thống chính trị minh bạch và có nhiều công ty liên kết với Chính phủ thành công nhất thế giới. Điển hình như: GLC, DBS (ngân hàng nội địa lớn nhất), NOL (tàu biển), SingTel (viễn thông), SMRT (giao thông công cộng), ST Engineering (dịch vụ kỹ thuật cao cấp), CapitalLand (bất động sản), Keppel (kỹ thuật đường biển – lĩnh vực mà Singapore đang chiếm 70% thị phần) và SeambCorp (kỹ thuật và hệ thống phụ trợ biển). Bên cạnh đó, Singapore cũng có hàng loạt công ty tư nhân lớn và sáng tạo như BreadTalk – một nhà sản xuất bánh hiện có mặt tại 15 quốc gia khác nhau trên thế giới. Charles & Keith – chuỗi cửa hàng giày dép hạng sang toàn cầu, đặc biệt là thương hiệu nổi tiếng Singapore Airlines – hãng hàng không 5 sao hàng đầu thế giới. (…)

Có thể nói, những nỗ lực tổng thể và nhất quán của Chính phủ Singapore đã có vai trò rất lớn trong việc tạo đà cất cánh cho các công ty khởi nghiệp ở quốc đảo này.

Do xác định được thiếu vốn là khó khăn chính đối với những người khởi nghiệp nên Chính phủ Singapore đã triển khai nhiều sáng kiến giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận vốn. Những sáng kiến này bao gồm việc cung cấp tiền mặt, tài trợ vốn, vườn ươm doanh nghiệp, cho vay nợ và ưu đãi thuế. Cụ thể như:

Đổi vốn lấy cổ phần: Nhằm tài trợ thêm vốn cho doanh nghiệp start-up, đặc biệt trong giai đoạn phát triển ban đầu: Các nhà nhà đầu tư có thể cho doanh nghiệp khởi nghiệp vay vốn để đổi lấy cổ phần trong công ty mới thành lập. Ngoài những nguồn tư nhân cấp vốn cổ phần còn có những chương trình cấp vốn cổ phần cùng đầu tư do Chính phủ Singapore triển khai, nhằm tạo chất xúc tác cho nguồn vốn từ tư nhân rót cho doanh nghiệp mới thành lập. Một số chương trình rót vốn cổ phần được Chính phủ hỗ trợ như: Chương trình Những hạt giống mùa xuân (Spring Seeds); Chương trình Những thiên thần kinh doanh (BAS); Chương trình đầu tư mạo hiểm giai đoạn đầu (EVF)…

Tài trợ tiền: Một trong những lợi thế để khởi nghiệp ở Singapore là những người khao khát kinh doanh có thể tiếp cận các khoản tài trợ được nhiều cơ quan chính phủ giải ngân để hỗ trợ start-up. Mỗi khoản tiền tài trợ như vậy đều đi kèm với những điều kiện và điều khoản, bao gồm các tiêu chí chất lượng, phương pháp giải ngân. Thông thường, các khoản tiền tài trợ chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định trong số vốn mà doanh nghiệp cần. Chủ doanh nghiệp sẽ phải tự xoay khoản vốn còn lại. Hầu hết các khoản tài trợ cho start-up được thiết kế theo cách khuyến khích đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển hoặc phục vụ xã hội.

Phát triển vườn ươm doanh nghiệp: Ðây là nguồn đầu tư vô cùng hữu ích đối với các doanh nhân khởi nghiệp không chỉ tìm kiếm nguồn tiền mà còn mong muốn được chỉ dẫn và học hỏi bí quyết kinh doanh. Nhìn chung, các vườn ươm kinh doanh tạo ra không gian thực cho doanh nghiệp mới hoạt động và tiếp cận các dịch vụ chia sẻ nhau với chi phí tiết kiệm, được hướng dẫn hoạt động và hỗ trợ tài chính trong giai đoạn phát triển ban đầu. Mô hình này rất lý tưởng cho các start-up muốn tìm kiếm hỗ trợ thường xuyên, được tư vấn, rót vốn và kết nối với chi phí thấp. Có ít nhất 4 chương trình vườn ươm đang hoạt động ở Singapore.

Cho vay: Ðây là lựa chọn đầu tư đáng tin cậy cho những người khởi nghiệp muốn huy động vốn mà không phải chia sẻ phần lợi nhuận của họ. Ðiểm bất lợi của chương trình này là doanh nghiệp phải trả nợ đúng hạn và phải trả nợ ngay cả khi kinh doanh lỗ. Chương trình bảo đảm vay (LIS) bảo đảm các khoản vay khỏi nguy cơ doanh nghiệp phá sản. Chính phủ sẽ cùng chia sẻ phí bảo hiểm với doanh nghiệp start-up. LIS hỗ trợ cả những cơ sở thương mại, kinh doanh trong và ngoài nước và không đặt giới hạn vay tối đa. Tỷ lệ phí bảo hiểm, lãi suất và thời hạn vay được quyết định bởi đơn vị bảo hiểm dựa trên hồ sơ rủi ro của bên vay. Chính phủ hỗ trợ bảo hiểm tối đa 50%. Cấu trúc trả nợ và yêu cầu tài sản thế chấp sẽ do các tổ chức tài chính tham gia quyết định. (…)

Rõ ràng, với những điều kiện chín muồi và lợi thế sẵn có cùng sự vào cuộc của Chính phủ, Singapore đã thực sự chuyển mình trở thành trung tâm khởi nghiệp đầy hứa hẹn trên thế giới. Những thành công của quốc đảo Sư tử này để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho những quốc gia muốn phát triển các doanh nghiệp star-up sau này./.

                                                                                                            Gia Linh (TH)

 

HƯNG YÊN: TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

 

                                Vũ Đức Sơn

                                    Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Hưng Yên

 

Hưng Yên nằm trong top các tỉnh có Ngành công nghiệp phát triển nhanh và mạnh nhất của miền Bắc. Trên địa bàn Tỉnh có một số Khu công nghiệp lớn như: Phố Nối A, Phố Nối B (khu công nghiệp dệt may), Thăng Long II (Mitsutomo Nhật Bản), Như Quỳnh, Minh Đức; các khu công nghiệp nhỏ Kim Động, Quán Đỏ... Với mục tiêu phấn đấu đưa Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020, một trong ba khâu đột phá quan trọng nhất được đưa ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 là: Tập trung thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hiện đại. (…)

Với xu thế nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới, công nghiệp Hưng Yên sẽ có những lợi thế lớn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật Bản có tiềm lực tài chính, thương hiệu và uy tín vào phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả những lợi thế đó, Hưng Yên đang đẩy mạnh triển khai các mục tiêu, giải pháp như: Tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp đồng bộ thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh, đưa CN-TTCN của tỉnh tăng trưởng ở mức cao hướng tới sản xuất bền vững; xây dựng được các nhóm ngành, sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao gắn với chuỗi giá trị, chuỗi sản phẩm toàn cầu; thực hiện thành công đột phá thứ nhất theo Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đề ra đó là “Tập trung thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hiện đại” góp phần tạo nền tảng cơ bản sớm đưa Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp./.



 
 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2017 (526)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2017 (525)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2017 (524)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2017 (523)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2017 (522)