English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2016 (512)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 9/2016 (512)

Ra hàng tháng. Năm thứ 55

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động thống kê

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản tỉnh Thái Bình năm 2016

¨ NGUYỄN BÌNH

Khoa Thống kê – Chặng đường 60 năm đào tạo cán bộ Thống kê

¨ PGS.TS. TRẦN THỊ KIM THU

 

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 9 tháng năm 2016

Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế tư nhân

¨ TS. TRẦN ĐÌNH LỢI

Mức độ sẵn sang tham gia hội nhập quốc tế của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Vài nét về thực trạng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc

¨ ThS. KHỔNG VĂN THẮNG

Nhìn lại 3 năm tái cơ cấu nông nghiệp – Những kết quả đạt được

¨ NHÀN THƯ

Nâng cao vị thế hàng Việt ở thị trường nông thôn

¨ ThS. ĐẶNG ANH THƯ

Phòng vệ thương mại – kinh nghiệm thế giới và thực tế tại Việt Nam

¨ TS. PHẠM THỊ QUỲNH VÂN

Đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian tới

¨ TS. PHẠM HÙNG CƯỜNG – NGUYỄN THỊ THANH TÂM

Kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển nhà ở xã hội – Liên hệ với Việt Nam

¨ TS. NGUYỄN VĂN HÙNG

Bài toán phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

¨ MINH HẢI

Tuyên Quang: Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 -2015

¨ NGUYỄN VĂN CHUYỂN

 

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Đề xuất quy trình theo dõi, đánh giá và báo cáo chất lượng thống kê Việt Nam

ThS. HÀ MẠNH HÙNG

 

VUI VUI THỐNG KÊ

QUỐC TẾ

Hội nghị Thượng đỉnh G20: Thách thức và kỳ vọng phục hồi kinh tế toàn cầu

¨ TRÚC LINH

NGHỆ AN – HƯỚNG TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ AN TOÀN, HẤP DẪN,

TẠO ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Nghệ An: Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững

¨ HOÀNG VĂN TÁM

Nghệ An khuyến khích đầu tư cho nông nghiệp

¨ THÀNH NAM

Thanh Chương: Vùng đất “tứ tắc” đang chuyển mình mạnh mẽ

¨ TIẾN LONG

Huyện Con Cuông - Nghệ An: phấn đấu trở thành thị xã theo hướng đô thị sinh thái

¨ VI VĂN SƠN

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 9/2016

 

NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG THỐNG KÊ

 

Sau 3 tháng kể từ khi chính thức có hiệu lực, nhiều nội dung quan trọng của Luật Thống kê 2015 đã dần đi vào cuộc sống, tạo ra những thay đổi quan trọng trong công tác thống kê của cả nước. Phóng viên Tạp chí Con số và Sự kiện đã có buổi trao đổi với Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Bích Lâm về vấn đề này.

PV: Ông đánh giá như thế nào về những tác động của Luật Thống kê 2015 đối với công tác thống kê sau 3 tháng kể từ khi Luật Thống kê 2015 chính thức có hiệu lực (1/7/2016)?

Ông Nguyễn Bích Lâm: Luật Thống kê 2015 đổi mới căn bản và toàn diện so với Luật 2003. Nội dung Luật Thống kê 2015 tập trung giải quyết những bất cập của Luật Thống kê 2003, đặc biệt hướng tới nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động thống kê.

Cụ thể, thứ nhất, tăng trách nhiệm của người làm công tác thống kê, tăng tính giải trình và minh bạch của số liệu. Thứ hai, khẳng định cam kết của cơ quan thống kê trong việc cung cấp kịp thời các thông tin thống kê. Thứ ba, tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác thống kê trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ tư, nâng cao chất lượng thông tin thống kê bằng việc sửa đổi, bổ sung những quy định về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê. Thứ năm, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người thực hiện thu thập, tổng hợp thông tin thống kê. Thứ sáu, ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước trong hoạt động thống kê Nhà nước.

Với những đổi mới về luật định trong Luật Thống kê 2015, những hạn chế và bất cập trước đây đã được khắc phục, đồng thời tạo tiền đề nâng cao tính chuyên nghiệp của thống kê Việt Nam. Đây sẽ là nền tảng cơ sở vững chắc để góp phần giúp Thống kê Việt Nam phát triển vững chắc trong tương lai.

PV: Một nội dung quan trọng được Luật Thống kê 2015 hướng tới là nâng cao chất lượng thông tin thống kê. Cụ thể, Luật Thống kê 2015 giải quyết vấn đề này như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Bích Lâm: Để nâng cao chất lượng số liệu thống kê, nhiều nội dung trong Luật Thống kê 2003 đã được sửa đổi, bổ sung như phân tách những nội dung quan trọng của hoạt động thống kê thành cấp quốc gia và cấp Bộ, ngành để từ đó phân định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện.

Thứ hai, bổ sung, sửa đổi một số điều khoản nhằm tăng cường vai trò của người thực hiện thu thập, tổng hợp và biên soạn thông tin thống kê. Cụ thể: Bổ sung hành vi nghiêm cấm trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê (Điều 10); Khai man hoặc ép buộc người khác khai man dữ liệu, thông tin thống kê; Mọi hành vi can thiệp làm sai lệch dữ liệu, thông tin thống kê và sử dụng thông tin thống kê... Đặc biệt, bổ sung một số điều, khoản nhằm tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Cơ quan Thống kê Trung ương trong lĩnh vực thống kê Nhà nước, như tham gia chỉ đạo tổ chức, giám sát và kiểm tra các cuộc điều tra thống kê trong Chương trình điều tra thống kê quốc gia do Bộ, ngành thực hiện.

Thứ ba, kết cấu lại một số điều khoản để làm rõ chức năng của Cơ quan Thống kê Trung ương trong thẩm định các nội dung quan trọng trong hoạt động thống kê của Bộ, ngành, như: Thẩm định hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ, ngành; phân loại thống kê ngành, lĩnh vực; phương án điều tra thống kê (cả trong và ngoài Chương trình điều tra thống kê quốc gia) do Bộ, ngành quyết định; chế độ báo cáo thống kê cấp Bộ, ngành và thẩm định số liệu thống kê của Bộ, ngành trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.

Thứ tư, bổ sung nội dung “Sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê Nhà nước” nhằm tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, tăng tính chính xác, kịp thời của thông tin thống kê, tiết kiệm chi phí và giảm phiền hà, gánh nặng cho người cung cấp thông tin và người thu thập thông tin thống kê.

PV: Ông nói nhiều đến các nội dung liên quan đến chủ thể sản xuất thông tin. Vậy với đối tượng cung cấp thông tin thì sao, bởi đây cũng là đối tượng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng thông tin thống kê?

Ông Nguyễn Bích Lâm: Luật Thống kê 2015 cũng nhấn mạnh, tổ chức, cá nhân được điều tra thống kê có quyền: Được thông báo về quyết định điều tra thống kê; được đảm bảo bí mật thông tin đã cung cấp. Đồng thời, các tổ chức, cá nhân được điều tra thống kê cũng phải thực hiện nghĩa vụ: Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của người thực hiện điều tra thống kê; không được từ chối hoặc cản trở việc cung cấp thông tin điều tra thống kê. Tuy nhiên, trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Hiện nay, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác thống kê đang được Tổng cục Thống kê tập trung thực hiện. Tuy nhiên, để có được thông tin thống kê khách quan, đầy đủ thì ý thức cộng tác nhiệt tình, đầy đủ cung cấp thông tin của các tổ chức, cá nhân phải được đặt lên hàng đầu.

PV: Trân trọng cảm ơn Ông!

 

KHOA THỐNG KÊ CHẶNG ĐƯỜNG 60 NĂM ĐÀO TẠO CÁN BỘ THỐNG KÊ
PGS.TS. Trần Thị Kim Thu
Nguyên Trưởng khoa Thống kê - ĐH Kinh tế quốc dân

 

Cách đây 60 năm (năm 1956), Trường Kinh tế Tài chính Trung ương - Tiền thân của trường Đại học Kinh tế Quốc dân ngày nay được thành lập. Ngay từ ngày đó đã có tổ giáo viên Thống kê thuộc khoa Thống - Kế - Tài, gồm 11 người hầu hết là cán bộ hành chính, quân đội chuyển về vừa học, vừa giảng dạy góp phần hình thành các bài giảng đầu tiên về Thống kê. Tháng 1 năm 1958, lớp Đại học chuyên tu Thống kê khoá 1 được mở, lớp có 76 sinh viên, phần lớn là lãnh đạo các Vụ của Cục Thống kê Trung ương, lãnh đạo các Chi cục Thống kê các tỉnh và thành phố, các Bộ và các ngành Trung ương. Ở khoá dài hạn chính quy đầu tiên, cùng với một số lớp ngành Kế hoạch, Tài chính đã có ba lớp Thống kê: Thống kê Công nghiệp, Thống kê Nông nghiệp và Thống kê Thương nghiệp với hơn 100 sinh viên. (…)

Trong những năm gần đây, Khoa đã tham gia biên soạn tài liệu và giảng dạy nhiều khóa đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ ngành Thống kê về các nội dung: Thiết kế điều tra, tin học thống kê, phân tích dữ liệu thống kê, phân tích thống kê đa biến, chuỗi thời gian. Một số giảng viên của Khoa còn tham gia tư vấn các hoạt động thống kê tại các Bộ, ngành và doanh nghiệp.

Hiện nay, khoa Thống kê đang được giao đào tạo cử nhân thống kê ở 2 chuyên ngành Thống kê kinh tế xã hội và Thống kê kinh doanh; đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ chuyên ngành thống kê. Hiện nay, Khoa đang trực tiếp quản lý và đào tạo 462 sinh viên dài hạn chính quy; 24 học viên cao học đang về khoa học tập và viết luận văn; 19 nghiên cứu sinh đang được đào tạo và hướng dẫn làm luận án tiến sỹ. (…).

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang trong 60 năm qua, hướng tới mục tiêu xây dựng Trường thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu có tầm cỡ ở khu vực, thiết thực góp phần vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, tập thể giáo viên Khoa Thống kê đang tập trung làm tốt một số nội dung sau:

* Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá và ổn định mục tiêu đào tạo, cơ cấu kiến thức trong chương trình học tập của từng cấp đào tạo, từng chuyên ngành và nội dung các môn học. Đào tạo thống kê theo hướng kiêm tư vấn, tăng cường nội dung về tổ chức điều tra và phân tích thống kê.

* Về định hướng đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ thống kê trong những năm tới, tăng cường hướng dẫn nghiên cứu những vấn đề mang tính ứng dụng thực tiễn.

* Tiếp tục hoàn thiện tài liệu phục vụ cho việc học tập của học viên các hệ, các bậc đối với đào tạo đại học và trên đại học. Một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo là tài liệu học tập. Tài liệu cần dần được đồng bộ theo các loại tài liệu cho giáo viên, tài liệu cho học viên các đối tượng, chương trình, giáo trình, bài tập, tài liệu tham khảo, hướng dẫn ôn tập, đề thi, đáp án. Chuẩn bị hệ thống giáo trình mới phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ và tự học.

* Tiếp tục ổn định và tăng cường chất lượng đội ngũ giảng viên, bao gồm cả giảng viên cơ hữu và đội ngũ kiêm giảng theo đúng tiêu chuẩn quy định của Nhà nước.

* Xúc tiến nghiên cứu và hình thành Hội giáo viên thống kê các trường đại học để tăng cường trao đổi và hợp tác./.

 

MỨC ĐỘ SẴN SÀNG THAM GIA HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO

 

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều Hiệp định thương mại với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới như: Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam - Nhật Bản, Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Liên minh Á Âu, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và gần đây nhất là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cũng như Việt Nam đã tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các hiệp định này, năm 2015, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tiến hành điều tra chuyên đề nhằm thu thập thông tin đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia hội nhập quốc tế của các doanh nghiệp (DN) hoạt động trong ngành chế biến, chế tạo - ngành có nhiều DN qui mô lớn, chịu tác động và ảnh hưởng nhiều từ hội nhập quốc tế. TCTK chọn mẫu 3500 DN công nghiệp chế biến, chế tạo bao gồm: 200 DN nhà nước, 100 DN có vốn đầu tư nước ngoài và 2200 DN ngoài nhà nước để tiến hành điều tra. Các ngành thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo có qui mô lớn, có nhiều DN được chọn mẫu điều tra gồm: Sản xuất, chế biến thực phẩm (601 DN), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (476 DN), sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (329 DN), sản xuất trang phục (254 DN)… Dưới đây là một số đánh giá tổng quan về mức độ sẵn sàng của DN ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tham gia hội nhập quốc tế qua kết quả điều tra.

Kênh thông tin doanh nghiệp tiếp cận hiệp định thương mại

Trong số các DN được hỏi, có tới 94,5% DN cho biết họ biết đến một hoặc nhiều hiệp định thương mại Việt Nam đã tham gia. Chỉ có 5,5% DN không biết đến bất kỳ hiệp định nào. (…)

Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ các DN được hỏi biết đến Cộng đồng kinh tế ASEAN đạt cao nhất với 83,8% (16,2% không biết); tiếp đến là Hiệp định TPP 82,2% (16,8% không biết); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Nhật Bản 66,8% (33,2% không biết); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu 64,1% (35,9% không biết); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc 62,7% (37,3% không biết).

2. Quan điểm của doanh nghiệp về việc Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại

Khi được hỏi về sự ủng hộ của DN đối với việc Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại, thì có 83,9% DN ủng hộ (trong đó 53,3% DN rất ủng hộ; có 30,6% DN ủng hộ nhưng vẫn lo lắng), có 2,9% DN cho rằng ký cũng được mà không ký cũng được, có 12,6% DN không có ý kiến, chỉ có 0,6% DN hoàn toàn phản đối. (…)

3. Đánh giá của doanh nghiệp về tình hình SXKD khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại

Khi được hỏi trong số các hiệp định thương mại, Hiệp định nào có tác động nhiều đến tình hình SXKD của DN Việt Nam, kết quả điều tra cho biết, có tới 81,1% DN cho rằng Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ có ảnh hưởng đến SXKD của DN, tiếp đến là Hiệp định TPP với 77,1%, Hiệp định thương mại tự do FTA giữa Việt Nam - Nhật Bản 69,1%, Hiệp định thương mại tự do FTA giữa Việt Nam - Hàn Quốc 62,4%, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên Minh châu Âu 61%, Việt Nam- Liên minh kinh tế Á Âu 57,6%, các hiệp định khác 5,6%. (…)

4. Tham gia các hiệp định thương mại có ảnh hưởng tới cơ hội kinh doanh của DN với các đối tác nước ngoài

Trong số các DN điều tra, có 63,4% DN trong hoạt động SXKD có đối tác nước ngoài và 36,6% DN không có đối tác nước ngoài; trong đó tỷ lệ này của khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt cao nhất với 88,5%, tiếp đến là khu vực DN nhà nước với 59,8%, thấp nhất là khu vực DN ngoài nhà nước, nhưng cũng có tới 52,4%. Các ngành có tỷ lệ DN có đối tác nước ngoài cao nhất là: SX xe có động cơ 93%, SX thuốc, hóa dược và dược liệu 85,3%, SX sản phẩm điện tử, máy tính 82,8%, SX trang phục 81,1%, SX da và sản phẩm có liên quan 78,6%, SX thiết bị điện 77,4%, SX hóa chất và sản phẩm hóa chất 75,8%, dệt 70,8%, SX, chế biến thực phẩm 68,7% … (…)

5. Nội dung của hiệp định thương mại tác động đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Khi được hỏi về nội dung của các hiệp định thương mại tác động đến hoạt động SXKD của DN: Kết quả điều tra cho biết thương mại hàng hóa là nội dung tác động tích cực nhất với tỷ lệ DN trả lời là 38,8%, có 36,8% DN cho rằng đầu tư là nội dung tiếp theo tác động tích cực, thương mại điện tử là 35,1%, lao động 31,2%, thấp nhất là nội dung về chính sách cạnh tranh với 24,6% DN cho rằng tác động tích cực đến hoạt động SXKD của DN. Có 7% DN cho rằng chính sách cạnh tranh tác động tiêu cực đến hoạt động SXKD, 30,9% DN cho rằng vừa tích cực, vừa tiêu cực. (…)

6. Mong muốn của doanh nghiệp

Mong muốn  của  DN từ  Chính  phủ/các cơ  quan  Nhà nước  nhằm  hỗ trợ  các  DN khi Việt  Nam  thực  hiện các hiệp định thương mại, có tới 84,6% DN mong muốn đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiếp đến 69,4% DN mong muốn được hỗ trợ cung cấp và hướng dẫn chi tiết thông tin về hiệp định, có 55,3% DN mong muốn có được thông tin về thị trường nước ngoài từ Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước, 48,9% DN mong muốn có thông tin về thị trường trong nước.

7. Dự định chiến lược của doanh nghiệp để nắm bắt hội nhập

Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam dự kiến chiến lược nắm bắt cơ hội từ hội nhập tập trung vào ba lĩnh vực chính: Nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng SXKD và tìm kiếm thị trường mới.

Sự quan tâm hàng đầu của các DN Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế là chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm: Các DN đều cho rằng, đây là yếu tố cốt yếu quyết định đến hiệu quả cạnh tranh và phát triển bền vững, có tới 75,1% số DN cho rằng nâng cao chất lượng sản phẩm là chiến lược được ưu tiên hàng đầu trong quá trình tham gia hội nhập quốc tế. (…)

Đánh giá chung:

(1) Có tới 94,5% DN Việt Nam biết đến ít nhất một trong các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đã ký kết trong thời gian vừa qua. Truyền thông là kênh chủ yếu giúp DN Việt Nam biết đến các hiệp định thương mại. Điều này cho thấy, công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng về hội nhập quốc tế đang được thực hiện khá tốt ở Việt Nam.

(2) Các hiệp định thương mại quốc tế Việt Nam đã ký kết được cộng đồng DN Việt Nam quan tâm, biết đến, với tỷ lệ lần lượt là: Cộng đồng kinh tế ASEAN đạt cao nhất với 83,8% (16.2% không biết); tiếp đến là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 82,2% (16,8% không biết); Hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam - Nhật Bản 66,8% (33,2% không biết); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (AEC) 64,1% (35,9% không biết); Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam - Hàn Quốc 62,7% (37,3% không biết).

Có tới 83,9% DN ủng hộ Việt Nam tham gia, ký kết các hiệp định thương mại quốc tế (trong đó 53,3% DN rất ủng hộ; 30,6% DN ủng hộ nhưng vẫn lo lắng); chỉ có 0,6% DN hoàn toàn phản đối Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại quốc tế.

(3) Chỉ có 31,8% DN tự tin cho rằng DN hiện đang mạnh và rất mạnh về chất lượng sản phẩm/dịch vụ  (27,5% DN đánh giá tương đối mạnh, 4,3% đánh giá rất mạnh). Về khả năng quản lý của DN, cũng chỉ có 26,4% DN đánh giá mạnh và rất mạnh (22,8% đánh giá mạnh, 3,6% đánh giá rất mạnh). (…)

Về mong muốn của cộng đồng DN khi tham gia hội nhập quốc tế: có 84,6% DN mong muốn đơn giản hóa thủ tục hành chính; có 69,4% DN mong muốn được hỗ trợ, cung cấp và hướng dẫn chi tiết thông tin về các hiệp định thương mại quốc tế; có 55,3% DN mong muốn có thông tin về thị trường nước ngoài từ Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước; có 48,9% DN mong muốn có thông tin về thị trường trong nước.

Các DN Việt Nam dự kiến chiến lược nắm bắt cơ hội từ hội nhập tập trung vào ba lĩnh vực chính: Nâng cao chất lượng sản phẩm; mở rộng SXKD và tìm kiếm thị trường mới. (…)

(4) Tham gia các hiệp định thương mại quốc tế mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển kinh tế nhưng cũng tạo ra không ít thách thức về nhiều mặt. (…)

Để khu vực doanh nghiệp Việt Nam thành công trong xu thế hội nhập, thực hiện các Hiệp định thương mại quốc tế, ngoài nỗ lực của chính cộng đồng doanh nghiệp, sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước trong việc khai thác tốt nhất những cơ hội và hạn chế tối đa bất lợi từ những thách thức cũng là yếu tố quan trọng, cần được khẩn trương nghiên cứu và thực hiện trong thời gian tới./.

(Lược trích Báo cáo của Tổng cục Thống kê, tháng 8/2016)

 

NÂNG CAO VỊ THẾ HÀNG VIỆT Ở THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN
ThS. Đặng Thị Thư

Trường Đại học Thương mại

 

 

Cùng với việc thực hiện cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt, vị thế của hàng Việt Nam đã ngày càng được khẳng định không chỉ ở thị trường các thành phố lớn mà đã lan rộng đến các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn của cả nước. Đưa hàng Việt về nông thôn chính là giải pháp tích cực nhằm tạo cầu nối để doanh nghiệp tiếp cận với người tiêu dùng vùng nông thôn, miền núi. Tuy nhiên, cơ hội để hàng Việt Nam đứng vững tại thị trường nông thôn cần có nhiều giải pháp hiệu quả hơn.
Hàng Việt về nông thôn - Khai thác tiềm năng và tận dụng khoảng trống thị trường

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được triển khai trên địa bàn cả nước đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tỷ trọng hàng Việt được tiêu thụ tăng lên rõ rệt. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến hàng hóa sản xuất trong nước và tin dùng hàng nội, tâm lý “sính ngoại” đã dần được thu hẹp.

Theo Báo cáo của Ban chỉ đạo cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, sau 6 năm thực hiện, doanh nghiệp và các Bộ, ngành liên quan đã tổ chức hơn 2.200 đợt bán hàng về nông thôn với hơn 55.000 lượt doanh nghiệp tham gia. Thống kê riêng trong năm 2015 và quý I/2016, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các địa phương tổ chức 180 đợt bán hàng về nông thôn với gần 2.400 lượt doanh nghiệp tham gia, thu hút hơn 930 nghìn lượt người tới tham quan mua sắm, mang lại doanh thu hơn 20 nghìn tỷ đồng.

Thông qua cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, người dân dễ dàng tiếp cận với các mặt hàng sản xuất trong nước có chất lượng, uy tín và giá cả hợp lý; đồng thời doanh nghiệp có điều kiện hiểu rõ hơn về nhu cầu tiêu dùng của người dân nhằm điều chỉnh sản xuất sản phẩm có chất lượng, phù hợp thị hiếu tiêu dùng. Cuộc vận động cũng hướng tới phổ biến sâu rộng về chất lượng, mẫu mã sản phẩm hàng Việt trong cộng đồng dân cư các vùng, miền,… và đặc biệt có gắn với các lễ hội, hội chợ triển lãm… Đây cũng là dịp để các doanh nghiệp khẳng định vị thế ngay trên “sân nhà”, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, quảng bá giới thiệu sản phẩm.

Có thể thấy, việc tổ chức triển khai có hiệu quả chương trình kết nối nhà sản xuất, kinh doanh hàng Việt với nhà phân phối, đã tạo điều kiện cho người dân nông thôn được tiếp cận và sử dụng hàng Việt Nam nhiều hơn. (…)

Nâng cao vị thế hàng Việt ở nông thôn

Tiềm năng là vậy, nhưng việc khai thác thị trường nông thôn là không hề dễ dàng. Lý do đầu tiên được nhắc tới khiến các doanh nghiệp còn e dè với thị trường này là bởi họ chưa có đủ nguồn lực đầu tư xây dựng mạng lưới phân phối.(…)

Để hàng Việt thực sự đứng vững ở thị trường nông thôn, trước hết các doanh nghiệp cần xây dựng mối liên kết với ban quản lý và bà con tiểu thương ở các chợ nông thôn truyền thống, cũng như hệ thống cửa hàng tạp hóa hiện có để tạo dựng kênh phân phối vững chắc cho hàng hóa của mình. Các doanh nghiệp cần có chiến lược marketing phù hợp với tâm lý người tiêu dùng tại mỗi khu vực, vùng miền. Trong đó, giá cả, chất lượng sản phẩm và tính minh bạch là yếu tố quan trọng hàng đầu. (…)

Tuy nhiên, đây cũng là bài toán cần có những giải pháp mang tính đồng bộ từ các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương và doanh nghiệp để hàng Việt đứng vững trên thị trường.

Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, đồng nghĩa với việc hàng hóa từ các nước vào Việt Nam sẽ ngày càng nhiều hơn. Nhưng với lợi thế của người trong nhà, nếu doanh nghiệp chịu đầu tư, tìm hiểu và nắm bắt tốt nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực nông thôn, khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của địa phương để phát triển bền vững nền sản xuất hàng hóa trong nước với năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh quốc tế ngày một nâng cao, chắc chắn hàng Việt sẽ tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên sân nhà./.

 

HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH G20
THÁCH THỨC VÀ KỲ VỌNG PHỤC HỒI KINH TẾ TOÀN CẦU
Trúc Linh
Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) lần thứ 11 tại Trung Quốc được xem là cơ hội tạo đà phục hồi và tái định hình nền kinh tế toàn cầu vốn đang chật vật sau khủng hoảng tài chính. Với chủ đề “Hướng tới một nền kinh tế thế giới đổi mới, năng động, liên kết và tổng thể”, Hội nghị G20 năm 2016 kỳ vọng sẽ tìm ra những biện pháp mới, tháo gỡ khó khăn, thách thức mà kinh tế thế giới đang phải đối mặt, chuyển hướng sang“tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững và đồng đều”.

 

Kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều khó khăn

Hội nghị G20 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới vẫn đang phải đối mặt với sự phục hồi không chắc chắn: Tỷ lệ thất nghiệp cao; nợ công tăng; các hoạt động thương mại, đầu tư, kỹ thuật giảm mạnh; xu hướng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đang ngày càng tăng… Theo thống kê từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đã giảm xuống chỉ còn 2,4% trong năm 2015, thấp hơn nhiều so với con số 4,8% của năm 2011. Thương mại toàn cầu đang tăng chậm lại, từ mức tăng trung bình trên 7%/năm trong giai đoạn 1990-2008 xuống dưới 3% trong giai đoạn 2009-2015. (…)

Kỳ vọng phục hồi kinh tế toàn cầu

Theo các chuyên gia kinh tế, dù “sinh sau đẻ muộn” nhưng G20 đã nhanh chóng thay thế nhóm các nước phát triển hàng đầu thế giới G7, trở thành “nhạc trưởng” của nền kinh tế toàn cầu. Với quy mô chiếm tới 85% sản lượng toàn cầu, 65% dân số thế giới, đóng góp tới hơn 80% tăng trưởng kinh tế toàn cầu và thương mại quốc tế, G20 là một cơ chế quan trọng để quản lý nền kinh tế thế giới như đối phó với các rủi ro, giữ ổn định cho sự tăng trưởng kinh tế và củng cố phục hồi kinh tế toàn cầu. (…)

Với chủ đề “Hướng tới một nền kinh tế thế giới đổi mới, năng động, liên kết và tổng thể”, bốn vấn đề lớn sẽ được các nhà lãnh đạo của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới tập trung thảo luận. Đó là: Phát triển phương thức tăng trưởng sáng tạo; quản trị tài chính kinh tế toàn cầu; thương mại và đầu tư quốc tế mạnh mẽ, năng động và kết nối có hiệu quả cao hơn. (…)

Trong bối cảnh tình hình kinh tế và chính trị các khu vực trên thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, ổn định trở thành việc ưu tiên trong việc phục hồi kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các nước lớn phải tích cực tham gia quản lý toàn cầu và cung cấp nguồn lực ổn định hiện đang khan hiếm cho G20 và thế giới. Với những lợi thế bên trong và bên ngoài, Trung Quốc hứa hẹn trở thành “cỗ máy ổn định” đáng tin cậy của nền kinh tế thế giới.

Theo các chuyên gia kinh tế, mặc dù các mục tiêu tham vọng sẽ khó có thể đạt được chỉ thông qua một Hội nghị, đặc biệt là trong bối cảnh các cuộc đàm phán đa phương về thương mại toàn cầu bị đóng băng, sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ và dân tộc, tuy nhiên Hội nghị thượng đỉnh G20 ít nhiều cũng sẽ có tác động tích cực giúp phát triển thương mại toàn cầu, tiến tới hình thành một cơ chế ổn định kinh tế toàn cầu mới./.

 

NGHỆ AN – TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP NHANH VÀ BỀN VỮNG
Hoàng Văn Tám

Giám đốc Sở Công Thương Nghệ An

Thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015: Đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp trong sản phẩm nội tỉnh, hướng hoạt động sản xuất công nghiệp vào các lĩnh vực phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn; đồng thời, phấn đấu đến năm 2020 đưa Nghệ An cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Nghệ An đã tích cực đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư vào phát triển công nghiệp, khai thác các lợi thế của địa phương; triển khai nhiều cơ chế, chính sách, tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, các ngành công nghiệp mũi nhọn có lợi thế so sánh… Nhờ đó, ngành Công nghiệp Nghệ An đã có sự chuyển biến rõ nét với mức tăng trưởng nhanh, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

 

Năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt 34,1 nghìn tỷ đồng, gấp gần 5 lần năm 2009 (7,3 nghìn tỷ đồng) đưa công nghiệp Nghệ An xếp thứ 27/63 tỉnh, thành phố cả nước. Giai đoạn 2011 - 2015, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,4% (cao hơn mức bình quân cả nước). Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 32,5% trong cơ cấu GRDP của tỉnh. Cơ cấu ngành Công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp có thế mạnh, tạo động lực phát triển như thủy điện, sản xuất đồ uống, chế biến nông lâm sản, khai thác chế biến khoáng sản, hải sản, may mặc và vật liệu xây dựng… (…)

Để thực hiện thắng lợi những mục tiêu này, Nghệ An đang tích cực triển khai các giải pháp quan trọng đó là:

Thứ nhất, Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng quy hoạch, kế hoạch của ngành Công Thương và các chuyên ngành; nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với giai đoạn 2016 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030; đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch. Bên cạnh đó, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát khắc phục tình trạng đầu tư phát triển không đúng quy hoạch.

Thứ hai, tổ chức nghiên cứu xây dựng và triển khai đề án, chương trình thực hiện kế hoạch hành động của ngành Công Thương, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII kịp thời, hiệu quả như: Đề án phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp xanh, Đề án phát triển hạ tầng cung cấp điện trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2020; Kế hoạch phát triển thủy điện và nhiệt điện, Kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng trong khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hướng đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình khuyến công và Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020... Bên cạnh đó cần rà soát, xây dựng bổ sung cơ chế, chính sách quản lý, phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ ba, tập trung tháo gỡ khó khăn và đồng hành cùng doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh thông qua việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn; hỗ trợ tín dụng, tài chính; hệ thống thông tin thị trường. Tiếp tục nâng cao chất lượng, rút ngắn thời gian cung cấp các dịch vụ công và giải quyết các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

Thứ , tích cực thu hút các dự án đầu tư lĩnh vực công nghiệp; đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư có tính đột phá trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, hóa chất, vật liệu mới, công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh, công nghiệp hỗ trợ.

Thứ năm, xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp, huy động nguồn lực và thu hút đầu tư để xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng công nghiệp: Hạ tầng cung cấp điện trọng yếu, hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp… phục vụ phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, vùng nguyên liệu và phát triển công nghiệp nông thôn. Ngoài ra, cần nghiên cứu, xây dựng bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp, chính sách hỗ trợ phát triển cụm, điểm công nghiệp, hạ tầng công nghiệp trên địa bàn.

Thứ sáu, đẩy mạnh hoạt động khuyến công, sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả để phát triển nhanh cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề; tăng hiệu quả sản xuất, bảo đảm môi trường và an ninh năng lượng.

Thứ bảy, đổi mới và nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước bằng việc đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về công nghiệp trên địa bàn tỉnh tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra tình hình khai thác khoáng sản và an toàn công nghiệp, vật liệu nổ công nghiệp; sử dụng điện an toàn, tiết kiệm…

Thứ tám, phát triển nguồn nhân lực thông qua việc tập trung phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, doanh nhân; công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề để xây dựng lực lượng lao động lành nghề có tác phong công nghiệp... đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế phát triển chung của nền kinh tế./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2017 (526)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2017 (525)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2017 (524)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2017 (523)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2017 (522)