ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
Công nghệ thông tin 
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ

Công nghệ thông tin đã xâm nhập vào nhiều lĩnh vực khoa học và cuộc sống đã "thu hẹp" được khoảng cách không gian và và rút ngắn được thời gian cho nhiều loại dịch vụ khác nhau. Công nghệ thông tin phát triển đã đem một luồng gió mới cho công tác thống kê. Từ đầu những năm 1990 trở lại đây, một loạt các hoạt động thống kê đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực: nhanh hơn, hiệu quả hơn và sát thực hơn. Trong bài này bàn tới khả năng và triển vọng ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động thống kê. 

I. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thống kê

Công tác thống kê bao gồm ba mảng công việc chính: thu thập thông tin; xử lý và tổng hợp kết quả điều tra; phân tích và dự báo các hiện tượng kinh tế, xã hội. Trong cả ba mảng công việc trên của ngành Thống kê công nghệ thông tin đều có thể thâm nhập và phát huy vai trò của mình. 

1. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thu thập thông tin thống kê

Thông tin thống kê được thu thập từ ba nguồn cơ bản sau đây:

a. Từ hệ thống báo cáo hành chính;

b. Từ báo cáo trực tiếp của các đơn vị pháp nhân;

c. Từ điều tra thống kê.

+ Báo cáo hành chính là một nguồn thông tin quan trọng của thống kê. Theo định kỳ, các bộ, các ngành báo cáo kết quả hoạt động về mọi mặt của bộ, ngành mình cho cơ quan thống kê. Trên cơ sở các kết quả báo cáo này cơ quan thống kê tổng hợp chung cho toàn quốc. Với tính chất công việc như vậy có thể ứng dụng công nghệ thông tin để "tự động hoá" hoạt động này. Phương pháp làm chỉ đơn giản là xây dựng và chuẩn hoá các biểu mẫu báo cáo điện tử để các bộ, ngành điền thông tin và gửi về cho cơ quan thống kê. Ở cơ quan thống kê có một máy chủ được cài đặt phần mềm tiếp nhận, xử lý các thống tin đó và tổng hợp thành các biểu thống kê cần thiết.

+ Tương tự như ở hệ thống báo cáo hành chính, các đơn vị pháp nhân báo cáo trực tiếp kết quả hoạt động của mình cho các cơ quan chức năng nhà nước (ví dụ như cho các cơ quan thuế,…).  Đây là cơ sở để có được các thông tin thống kê cần thiết. Đây cũng là cơ sở để áp dụng tư tưởng "máy tính hoá" công tác thu thập thông tin thống kê.  Để thực hiện được ý tưởng này cơ quan thống kê cần phối hợp với các cơ quan  chức năng khác của nhà nước thống nhất xây dựng các biểu báo thống kê điện tử áp dụng cho các đơn vị pháp nhân và theo định kỳ các đơn vị này báo cáo (qua mạng) cho các cơ quan chức năng và cơ quan thống kê.

Thông thường các báo cáo thu được không đầy đủ, vì vậy các cơ quan thống kê  cần đánh giá mức độ đầy đủ của các báo cáo dạng này trên cơ sở đó áp dụng các hình thức thu thập thông tin thống kê khác (ví dụ như điều tra thống kê) để bổ sung phần còn thiếu.  Với cách thức làm như vậy sẽ có số liệu thống kê thường xuyên với chất lượng tương đối cao. Cách làm này đã được cơ quan thống kê các nước như Thụy Điển, Thái Lan, Ba Lan,… ứng dụng có kết quả tốt.

+ Điều tra thống kê là một việc làm thường xuyên của các cơ quan thống kê. Có hai loại điều tra thống kê thường được áp dụng để thu thập số liệu thống kê. Đó là điều tra toàn bộ và điều tra chọn mẫu. Chất lượng của số liệu thống kê thu được từ điều tra thống kê dù bằng phương pháp điều tra nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào danh sách các đơn vị được điều tra. Đối với điều tra toàn bộ, danh sách các đơn vị điều tra thiếu số liệu điều tra sẽ thấp so với thực tế, danh sách các đơn vị điều tra thừa số liệu điều tra thu được sẽ thái quá so với thực tế. Đối với điều tra chọn mẫu danh sách các đơn vị điều tra sẽ được sử dụng làm dàn chọn mẫu. Danh sách này thiếu hoặc thừa đều làm cho kết quả thu được từ mẫu suy rộng cho tổng thể bị chệch.

Công nghệ thông tin có thể giúp cho việc lập dàn điều tra ngày một hoàn chỉnh và chính xác. Mặt khác, nó cũng giúp cho chi phí cho cuộc điều tra giảm bớt. Bởi vì khi lưu giữ dàn mẫu của cuộc điều tra trước, cuộc điều tra sau sẽ chỉ mất công cập nhật lại danh sách các đơn vị điều tra và vì vậy đỡ rất nhiều công sức và tiền của so với phương án lập lại danh sách sách này. Việc lưu giữ những thông tin này trên bằng  máy tính sẽ tạo thuận lợi cho công tác điều tra.

Tổng điều tra dân số 1999 đã lưu giữ được danh sách các địa bàn điều tra. Tuy nhiên, danh sách các hộ của các địa bàn điều tra không được lưu trên máy tính (mới chỉ  lưu trên giấy). Mặc dầu vậy cũng đã giúp cho các cuộc điều tra như "Điều tra mức sống dân cư", "Điều tra y tế quốc gia",… có rất nhiều thuận lợi trong khâu thiết kế điều tra đồng thời giảm được kinh phí cho các cuộc điều tra này.

Công nghệ thông tin không chỉ làm giảm thời gian và tiền của trong khâu lập dàn điều tra mà còn có thể tham gia vào khâu chọn mẫu. Cán bộ lập trình cùng với cán bộ thiết kế mẫu lập ra một chương trình chuẩn cho phép sử dụng máy tính để chọn các đơn vị vào mẫu. Trong các cuộc điều tra mức sống dân cư và điều tra y tế quốc gia đã sử dụng máy tính để chọn các đơn vị vào mẫu. Cách làm lúc đó tương đối đơn giản song cũng đã tiết kiệm được khá nhiều công sức trong khâu chọn, đồng thời cũng giúp cho việc chọn khách quan hơn và không bị nhầm lẫn.

2. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xử lý và tổng hợp số liệu thống kê

Trước đây, khi công nghệ thông tin chưa phát triển, việc xử lý, tổng hợp kết quả điều tra thống kê được tiến hành thủ công, tốn nhiều công sức, tiền của và thời gian. Không những thế kết quả tổng hợp thu được lại thấp. Từ khi áp dụng công nghệ thông tin trong khâu xử lý và tổng hợp số liệu thống kê, thời gian xử lý và tổng hợp cho một cuộc điều tra được rút ngắn đáng kể. Hơn thế nữa, sử dụng các chương trình máy tính trong khâu xử lý và tổng hợp số liệu còn cho phép nâng cao được chất lượng số liệu thống kê thông qua các chương trình kiểm tra logic và sửa lỗi.

3. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong khâu phân tích và dự báo thống kê

Khi tiến hành phân tích kết quả các cuộc điều tra cần tính toán nhiều chỉ tiêu thống kê. Ngoài các chỉ tiêu thống kê mô tả tổng thể, còn cần tính các chỉ tiêu thống kê phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố với nhau. Khi công nghệ thông tin chưa được ứng dụng vào công tác thống kê việc tính toán các chỉ tiêu thống kê mô tả (giá trị trung bình, giá trị trung vị,…) và các  chỉ tiêu thống kê phản ánh mối quan hệ (hệ số tương quan, hệ số hồi quy,…) mất nhiều thời gian. Ngày nay nhờ có các chương trình phân tích thống kê (SPSS, SAS, STATA,…) việc tính toán đó trở nên rất dễ dàng. Hơn thế nữa, các chương trình máy tính phục vụ cho việc phân tích kết quả các cuộc điều tra còn cho phép sử dụng các mô hình Kinh tế lượng phức tạp để phân tích sâu mối quan hệ giữa các yếu tố được tiến hành nghiên cứu. Việc làm như vậy trước đây không thể thực hiện được.

Dự báo thống kê thường được tiến hành dựa vào các chuỗi số liệu theo thời gian và một mô hình kinh tế lượng nào đó.  Trên cơ sở các chuỗi số liệu đã có cần phải ước lượng các thông số của mô hình, tiếp theo là đánh giá mức độ sát thực của mô hình. Nếu mô hình "đạt yêu câu" mới sử dụng nó để dự đoán. Khi chưa ứng dụng công nghệ thông tin việc làm này rất mất thời gian và dễ gây nhầm lẫn nếu không kiên trì thì không thể làm được. Từ khi công nghệ thông tin phát triển việc làm này trở nên dễ dàng. Hiện nay trong các chương trình phân tích thống kê (SPSS, SAS, STATA,…) một số chương trình hồi quy tương quan cho các dạng hàm như tuyến tính (một chiều và nhiều chiều), logistic,… đã được cài đặt, người sử dụng chỉ cần xác định biến phụ thuộc và các biến độc lập rồi chọn các mô hình thích hợp khi đó máy tính sẽ cho ra kết quả ước lượng các thông số của mô hình. Một điều quan trọng khác là chương trình không chỉ cho các thông số của mô hình mà còn cho biết luôn các chỉ tiêu đánh giá mức độ phù hợp của mô hình. 

4. Khả năng áp dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ, truyền đưa thông tin.

a. Lưu trữ là một hoạt động khá quan trọng của công tác thống kê. Định kỳ, Tổng cục Thống kê phải ra một số ấn phẩm có nội dung và số liệu kế tiếp của các năm trước. Hơn thế nữa, kết quả của các cuộc điều tra thống kê rất cần được lưu trữ theo thời  gian để giúp cho việc thiết kế các cuộc điều tra khác tốt hơn đồng thời cũng cho phép so sánh kết quả thu được của các cuộc điều tra ở các thời điểm khác nhau. Công nghệ thông tin có thể giúp để thực hiện các ý định này.

Trong thời gian qua công việc này đã được tiến hành tại Tổng cục Thống kê. Một số cơ sở dữ liệu thống kê cũng đã được xây dựng nhằm lưu giữ  và phục vụ nhu cầu khai thác thông tin của các đối tượng sử dụng khác nhau.

b. Truyền đưa và phổ biến thông tin, Tổng cục Thống kê có mạng lưới xuống tận tới cấp huyện. Hơn thế nữa, các bộ, ngành đều có trách nhiệm cung cấp số liệu thống kê cho Tổng cục Thống kê. ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác này chắc chắn sẽ nâng cao được hiệu suất công tác cho Ngành.

Trong thời gian qua hoạt động truyền đưa thông tin đã được thực hiện trong và ngoài ngành Thống kê. Việc làm này đã có tác dụng thiết thực tới công tác của các vụ thống kê nghiệp vụ. Hơn thế nữa, một trang WEB của Tổng cục Thống kê đã ra đời giúp cho việc phổ biến thông tin thống kê cho các đối tượng dùng tin khác nhau. Công nghệ thông tin đã giúp cho công tác thống kê không chỉ dừng lại trong giao lưu trong nước mà còn mở rộng ra thế giới bên ngoài. 

II. Một số kiến nghị để nâng cao việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thống kê

Trong những năm qua Tổng cục Thống kê đã ứng dụng công nghệ thông tin vào nhiều khâu công tác của mình và thu được nhiều kết quả khả quan, song khả năng ứng dụng của nó vào công tác của ngành vẫn còn lớn. Chúng tôi cho rằng trong thời gian tới để việc ứng dụng có hiệu quả hơn cần tiến hành các công việc sau đây:

1. Hoàn thiện và xây dựng mới các  mạng lưới thu thập thông tin thống kê trong và ngoài ngành. Cần đánh giá lại các mạng thu thập thông tin điện tử, tìm ra bất cập để từ đó hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng. Mặt khác cần xem xét xem lĩnh vực thống kê nào có thể áp dụng phương pháp thu thập thông tin thông qua đường mạng điện tử trên cơ sở đó xây dựng các mạng lưới thu thập thông tin riêng.

2. Xây dựng cơ sở dữ liệu động(1) về các hộ gia đình để có thông tin thường xuyên về một số đặc trưng của các hộ. Mặt khác cũng tạo ra một dàn điều tra cho các cuộc điều tra chuyên sâu có liên quan đến hộ gia đình. Cơ sở này cần được cập nhật hai năm một lần để luôn có dàn điều tra mới.

3. Củng cố, hoàn thiện và mở rộng cơ sở dữ liệu động về các doanh nghiệp nhằm theo dõi sự biến động về số lượng cũng như có được các thông tin cơ bản về các doanh nghiệp phục vụ cho công tác báo cáo thường xuyên. Cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp còn được sử dụng làm dàn cho các cuộc điều tra chuyên sâu về các doanh nghiệp. Trong cơ sở dữ liệu này thông tin chi tiết của các doanh nghiệp có từ 50 công nhân trở lên cần được cập nhật thường xuyên. Các thông tin này sẽ sử dụng làm cơ sở để ước lượng các chỉ tiêu thống kê hàng tháng, quý của các ngành kinh tế khác nhau.

4. Hoàn thiện các cơ sở dữ liệu tĩnh(2) về kết quả của các cuộc điều tra thống kê như điều tra mức sống dân cư, Tổng điều tra dân số,… và tiếp tục xây dựng các cơ sở dữ liệu cho các cuộc điều tra sẽ được tiến hành.

5. Phối hợp với các cơ quan nhà nước khác xây dựng cơ sở dữ liệu liên ngành để có thông tin thường xuyên phục vụ nhu cầu công tác thống kê. Ví dụ, phối hợp với Tổng cục Hải quan xây dựng  cơ sở dữ liệu động về xuất nhập khẩu và xây dựng mạng truyền đưa thông tin gốc này về Tổng cục; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng cơ sở số liệu động về số lượng trường lớp, giáo viên, học sinh các cấp; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư pháp,… xây dựng cơ sở dữ liệu động về từng công dân Việt nam (tương tự như chứng minh thư nhân dân) phục vụ cho việc  tính toán dân số và quản lý nhân khẩu, an ninh quốc phòng,…

6. Trong thời gian qua Tổng cục Thống kê thông qua các đơn vị như Trung tâm Tính toán, Vụ Thống kê xã hội Môi trường đã mở nhiều lớp tập huấn về sử dụng các phần mềm phân tích thống kê như SPSS, SAS, STATA,… Tuy nhiên do việc  đào tạo môn thống kê ở nước ta không giới thiệu nhiều về các mô hình thống kê toán nên khả năng khai thác, sử dụng các mô hình có sẵn trong các phần mềm phần tích thống kê bị hạn chế vì vậy trong thời gian tới khi Tổng cục có điều kiện mở các lớp tập huấn về các phần mềm phân tích thống kê nên phối hợp thêm các bài giảng về các mô hình thống kê toán và các bài giảng về kỹ thuật khảo sát số liệu thống kê trước khi thực hiện xử lý tổng hợp.

7. Xây dựng thư viện điện tử nhằm lưu trữ và phổ biến thông tin thống kê tới các đối tượng dùng tin ở trong và ngoài nước<

(1) Cơ sở dữ liệu được cập nhật định kỳ

(2) Cơ sở dữ liệu không thay đổi theo thời gian

                                                                                          Lê Văn Dụy

                                                                                  Viện Khoa học Thống kê
 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Internet năm 2008 qua những con số thống kê
  Công nghệ thông tin VN năm 2008 đứng gần cuối bảng
  Xử lý Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 bằng công nghệ scanning
  Việt Nam tăng 16 bậc về xếp hạng Chính phủ điện tử
  Toàn cảnh ICT 2008: Các chỉ số đều tăng bậc
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (23/12/2013)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921