ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
  
Chuyên đề phân tích 
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ KINH TẾ, HÀNH CHÍNH, SỰ NGHIỆP 2007

Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp lần thứ ba được tiến hành vào thời điểm 1/7/2007 trên phạm vi cả nước. Mục đích của cuộc Tổng điều tra  nhằm thu thập thông tin cơ bản về số cơ sở kinh tế, số lượng và trình độ của lực lượng lao động đang làm việc trong các cơ sở kinh tế, kết quả hoạt động, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, một số thông tin về khu vực kinh tế đặc thù, cơ sở làng nghề thuộc khu vực thành thị.

Kết quả tổng hợp chung của Tổng điều tra đã cho thấy bức tranh nhiều màu về sự phân bố tổng thể các cơ sở kinh tế hành chính, sự nghiệp, sự phân bố lực lượng lao động trong toàn bộ nền kinh tế, về khu vực sản xuất và phi sản xuất kinh doanh, về các vùng địa lý kinh tế và từng địa phương của đất nước. So sánh kết quả Tổng điều tra lần này với kết quả Tổng điều tra 5 năm trước đây - tiến hành vào năm 2002, có thể thấy rõ tác động tích cực của các chính sách quản lý, định hướng của nhà nước như cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư tập trung, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân/cá thể, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, kết quả Tổng điều tra cũng cho thấy những khiếm khuyết, những “mảng trống“ của chính sách cần được nhìn nhận và khắc phục. Ngoài những thông tin về mạng lưới các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, kết quả Tổng điều tra lần này còn đề cập một số vấn đề về mối quan hệ giữa việc phát triển các khu/cụm công nghiệp, làng nghề thuộc khu vực thành thị và bảo vệ môi trường tại các khu vực sản xuất tập trung này. Những nét nổi bật được thể hiện qua số liệu chính thức Tổng điều tra như sau:

I.   Số lượng, qui mô và mật độ các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp

1. Số lượng cơ sở kinh tế

a/ Số lượng cơ sở kinh tế phân theo loại hình cơ sở

Kết quả Tổng điều tra cho thấy số lượng các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp tăng lên nhanh chóng. Tại thời điểm 1/7/2007 cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở, tăng gần 1,265 triệu cơ sở so với thời điểm 1/7/2002 và gấp gần 2 lần so với thời điểm 1/7/1995. Số lượng cơ sở tăng nhanh ở tất cả các loại hình cơ sở, trong đó tăng nhiều nhất về số lượng là loại hình cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và tốc độ tăng trưởng nhanh nhất là loại hình cơ sở thuộc doanh nghiệp. Số liệu cụ thể được thể hiện như sau:                                                        

Bảng 1. Số  cơ sở KTHCSN tại thời điểm 1/7/2002 và 1/7/2007:

 

 

 

Đơn vị tính: Cơ sở

 

1/7/2002

1/7/2007

1/7/2007 tăng  so với 1/7/2002

Số  lượng

Tỷ lệ (%)

 Tổng số

2880004

4145328

1265324

43,9

 1. Cơ sở sản xuất kinh doanh

2719933

3934386

1214453

44,7

     Cơ sở SXKD thuộc doanh nghiệp

99732

185278

85546

85,8

           - DN đơn và trụ sở chính

56578

133612

77034

136,2

           - Chi nhánh phụ thuộc DN

43154

51666

8512

19,7

     Cơ sở SXKD thuộc các đơn vị HCSN

860

970

110

12,8

     Cơ sở SXKD cá thể

2619341

3748138

1128797

43,1

2. Cơ sở HC, SN, Đảng, đoàn thể, hiệp  hội

141969

182876

40907

28,8

3. Cơ sở tôn giáo

18102

28066

9964

55,0

Đối với khu vực doanh nghiệp độc lập

Kết quả Tổng điều tra các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp cho thấy tốc độ tăng về số lượng cơ sở thuộc khu vực doanh nghiệp là cao nhất so với các loại hình cơ sở chung khác. Sau 5 năm số lượng doanh nghiệp đã tăng thêm 77034 doanh nghiệp, như vậy số lượng doanh nghiệp đã gấp hơn hai lần so với năm 2002. Trong khi các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh thì các doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng giảm do thực hiện chủ trương sắp xếp lại, từng bước cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính Phủ nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của nhà nước. Tuy nhiên thực tế kết quả cũng cho thấy tiến trình này diễn ra khá chậm so với kế hoạch đặt ra cho giai đoạn 2006 – 2010. Điều này đặt ra yêu cầu cần sự chỉ đạo quyết liệt với các biện pháp đồng bộ và hiệu quả hơn cho những năm tới.

Xét về ngành hoạt động, tương tự như xu hướng được phản ánh trong kết quả Tổng điều tra năm 2002, đó là sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp tập trung vào một số ngành lớn như thương nghiệp bán buôn bán lẻ, công nghiệp chế biến và một số ngành dịch vụ. Kết quả Tổng điều tra năm 2007 còn cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của một số ngành dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ kinh doanh bất động sản, chứng khoán và đặc biệt là có nhiều cơ sở hoạt động trong ngành dịch vụ tư vấn và hành chính đã được thành lập do có Luật doanh nghiệp mới. 

Khu vực cơ sở  sản xuất kinh doanh phụ thuộc 

Tổng số các cơ sở kinh tế thuộc loại hình này là 52636 cơ sở, trong đó có 51666 cơ sở phụ thuộc các doanh nghiệp, 970 cơ sở phụ thuộc các cơ quan hành chính, sự nghiệp.

Với 133,6 nghìn doanh nghiệp nhưng có tới 115,6 nghìn cơ sở là doanh nghiệp đơn (chỉ gồm một cơ sở) chiếm 86,5%, chỉ có 18 nghìn doanh nghiệp với 52,6 nghìn chi nhánh và đơn vị phụ thuộc. Như vậy hầu hết các doanh nghiệp của nước ta hiện nay là doanh nghiệp đơn, số doanh nghiệp có ít nhất 1 chi nhánh hoặc các đơn vị phụ trợ khác địa điểm không nhiều. Bình quân chung, mỗi doanh nghiệp chỉ có 0,7 cơ sở phụ thuộc; nếu chỉ tính riêng cho những doanh nghiệp có chi nhánh, đơn vị phụ thuộc, thì con số này là 2,91 cơ sở phụ thuộc. Số liệu về chi nhánh, đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp một lần nữa lại cho thấy, qui mô của doanh nghiệp nước ta vẫn quá nhỏ bé, phạm vi hoạt động còn hẹp, trình độ quản lý của doanh nghiệp chưa cao.

Số cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khu vực hành chính sự nghiệp năm 2007 là 970 cơ sở tăng 12,8% so với năm 2002, là mức tăng trưởng thấp nhất trong các loại hình cơ sở. Các cơ sở này chủ yếu là nhà khách, nhà nghỉ và các cơ sở sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ khác trực thuộc các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức đảng, đoàn thể, hiệp hội. Mặc dù Nhà nước đã có chủ trương chuyển các cơ sở có kinh doanh thường xuyên, có qui mô tương đối lớn do các cơ quan đơn vị thuộc khu vực hành chính sự nghiệp quản lý thành các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đến nay vẫn tồn tại những cơ sở sản xuất kinh doanh có đủ các điều kiện nêu trên nhưng vẫn hoat động theo cơ chế phụ thuộc. Quy mô lao động của khu vực này đã thu hẹp lại (chỉ có 10,6 lao động trên 1 cơ sở) và cũng là loại hình cơ sở duy nhất có số lao động giảm so với năm 2002 (giảm 0,13%).

Khu vực cơ sở kinh tế cá thể

Số cơ sở kinh tế cá thể có đến 1/7/2007 là 3,748 triệu cơ sở, tăng 43,1% so với năm 2002. Nếu so với tốc độ phát triển của khu vực doanh nghiệp thì khu vực cá thể tăng chậm hơn. Sở dĩ, các cơ sở kinh tế cá thể có tốc độ tăng không bằng khu vực doanh nghiệp là tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp, nên khá nhiều các cơ sở kinh tế cá thể chuyển thành doanh nghiệp tư nhân, vì vậy số doanh nghiệp tư nhân (loại hình rất gần với cơ sở kinh tế cá thể) đã tăng 53,8% so với năm 2002. Điều đó phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế. Mặc dù số lượng cơ sở khu vực kinh tế cá thể là nhiều nhất, chiếm tới 95,2% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh và gấp trên 20 lần số cơ sở thuộc doanh nghiệp nhưng tỷ trọng GDP của thành phần này trong toàn bộ nền kinh tế không lớn và có xu hướng giảm dần, phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với qui mô nhỏ về lao động cũng như vốn đầu tư nên các cơ sở thuộc khu vực này dễ thay đổi địa điểm và ngành nghề hoạt động. Ngành nào có hiệu quả kinh doanh cao sẽ tăng nhanh về số cơ sở và thu hút nhiều lao động. Một điểm đáng chú ý nữa là sự phân bố về số lượng cơ sở liên quan chặt chẽ đến địa dư hành chính và mật độ dân số; địa phương nào có mật độ dân số cao sẽ kéo theo số lượng cơ sở kinh tế tăng theo dẫn đến sự phân bố các cơ sở cá thể không đều giữa địa phương và các vùng.

Về qui mô cơ sở của các cơ sở cá thể vẫn còn nhỏ, một cơ sở cá thể trung bình có 1,76 lao động, trong khi các cơ sở thuộc doanh nghiệp là 38,6 lao động. Số cơ sở cá thể hoạt động trong ngành xây dựng hiện nay giảm khá nhanh, nguyên nhân do các cơ sở cá thể không còn phù hợp với ngành nghề này, họ khó có đủ điều kiện về tài chính, máy móc thiết bị, nhân lực và tư cách pháp nhân để nhận được công trình lớn, còn lại chỉ là những cơ sở sửa chữa nhỏ, khoan cắt bê tông. Đối với ngành kinh doanh dịch vụ điện thoại, dịch vụ internet... trước đây rất phát triển nhưng xu hướng đã chậm lại do hạ tầng cơ sở các ngành này đã phát triển đáng kể, các doanh nghiệp lớn có thể cung cấp trực tiếp dịch vụ tới người tiêu dùng nên các cơ sở cá thể cung cấp dịch vụ này giảm mạnh.

Bên cạnh việc giảm số lượng cơ sở hoạt động trong một số ngành như đã đề cập ở trên thì một số ngành khác lại được mở rộng hoạt động như ngành công nghệ thông tin, bán băng đĩa, phần mềm, bán và sửa chữa máy tính..

Khu vực cơ sở hành chính, sự nghiệp

Khu vực này bao gồm các cơ sở là các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các cơ sở thuộc các tổ chức Đảng, đoàn thể, hiệp hội. Tại thời điểm 1/7/2007, số cơ sở hành chính sự nghiệp xấp xỉ 182,9 nghìn cơ sở, chiếm 4,4% trong tổng số cơ sở kinh tế và tăng 28,8% so với 1/7/2002. Trong khu vực này, cơ sở thuộc cơ quan hành chính nhà nước năm 2007 là 39,7 nghìn cơ sở tăng 11,8% so với năm 2002; thuộc các đơn vị sự nghiệp có 110,8 nghìn cơ sở tăng 42,8% so với năm 2002 và các cơ sở thuộc các tổ chức Đảng, đoàn thể, hiệp hội có 32,4 nghìn cơ sở tăng 11,8% so với năm 2002.

 Với chủ trương mở rộng phát triển hệ thống cơ sở giáo dục, y tế, số lượng cơ sở sự nghiệp tăng khá nhanh từ 77508 trong năm 2002 lên 110804 năm 2007 đạt tốc độ phát triển 143,0%. Tuy nhiên chủ trương xã hội hóa hoạt động trong lĩnh vực này tạo điều kiện cho sự tham gia của tư nhân với qui mô nhỏ. Hệ thống cơ sở thuộc các tổ chức Đảng, đoàn thể, hiệp hội sau 5 năm tăng thêm 11,8% số lượng cơ sở.

b/ Số lượng cơ sở phân theo ngành kinh tế

Kết quả Tổng điều tra cho thấy với hơn 4,145 triệu cơ sở kinh tế tại thời điểm 1/7/2007 có xấp xỉ 3,935 triệu cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng 94,9% (năm 2002 chiếm 94,4%) và khu vực hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, hiệp hội, tôn giáo chỉ có 210,9 nghìn cơ sở chiếm tỷ trọng 5,1%. Trong khi tốc độ tăng số cơ sở của khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng năm 2007 so với năm 2002 chỉ đạt 20,35% thì khu vực dịch vụ đạt tới 53,05%.

Xét theo ngành kinh tế, một số ngành có tốc độ tăng trưởng về số cơ sở năm 2007 so với năm 2002 khá cao như: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 343%; thông tin truyền thông tăng 318,6%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 248,9% và đặc biệt là hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 426,2%.

Kết quả số liệu tăng trưởng theo khu vực, ngành kinh tế cho thấy trái ngược với sự giảm sút về số cơ sở đối với các ngành nông nghiệp (các doanh nghiệp và cơ sở trực thuộc doanh nghiệp nông nghiệp) và khai khoáng, thì nhiều ngành thuộc khu vực dịch vụ đã có tốc độ tăng nhanh như bán buôn, bán lẻ, dịch vụ lưu trú và ăn uống, thông tin và truyền thông, tài chính, ngân hàng, kinh doanh bất động sản, ... và đặc biệt đã có sự xuất hiện thêm nhiều cơ sở hoạt động trong các ngành dịch vụ hành chính, văn phòng luật sư, tư vấn đầu tư, môi giới, chứng khoán... là những lĩnh vực kinh doanh khá mới mẻ và có sức hút lớn. Điều này chứng tỏ vai trò của khu vực dịch vụ ngày càng được thể hiện trong sự phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế cao và các ngành dịch vụ sẽ tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế trong những năm tiếp theo.

2. Mật độ cơ sở kinh tế

Tính bình quân trên 1 km2, năm 1995 có 6,2 cơ sở kinh tế, năm 2002 là 8,7 cơ sở và năm 2007 là 12,5 cơ sở. Nếu tính theo dân số, năm 1995 cứ 1000 dân có  25,5 cơ sở, năm  2002 con số này là 36,1 cơ sở và năm 2007 là 48,7 cơ sở. Mật độ cơ sở sản xuất kinh doanh trên 1 km2 tăng từ 8,2 năm 2002 lên 11,9 trong năm 2007. Trong khu vực doanh nghiệp thì mật độ cơ sở thuộc doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng cao nhất từ 0,15 lên 0,38 trong khi mật độ doanh nghiệp nhà nước giảm nhẹ, thể hiện sự chuyển dịch của thành phần kinh tế trong doanh nghiệp. Khu vực kinh tế cá thể có mật độ tăng cao nhất sau 5 năm từ 7,91 cơ sở lên 11,32 cơ sở.

Tuy nhiên mật độ cơ sở kinh tế phân bố không đều giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn và giữa các địa phương, số liệu kết quả Tổng điều tra cho thấy mật độ cơ sở kinh tế tập trung cao hơn ở những vùng đồng bằng, khu vực tập trung dân cư và những nơi có điều kiện cơ sở hạ tầng tương đối phát triển. Cụ thể, mật độ bình quân chung cả nước cứ 1 km2 có 12,5 cơ sở, trong đó cao nhất là vùng đồng bằng sông Hồng 69,9 cơ sở, và thấp nhất là vùng Tây Bắc chỉ có 2,01 cơ sở trên 1 km2. Đặc biệt, hai thành phố lớn có mật độ cơ sở kinh tế khá cao là Hà Nội 160 cơ sở trên 1km2 và TP Hồ Chí Minh là 187,5 cơ sở. Tính theo loại hình cơ sở thì mật độ cơ sở cũng rất khác nhau. Trong khi mật độ các cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh có sự phân biệt rõ rệt giữa các địa phương cũng như giữa thành thị và nông thôn thì mật độ cơ sở hành chính, sự nghiệp tương đối đồng đều do việc gia tăng số lượng, phân bố cơ sở này gắn liền với những thay đổi về địa dư hành chính và dân số.

3. Qui mô lao động của các cơ sở

Kết quả Tổng điều tra cho thấy qui mô theo lao động của các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp đã dần được mở rộng hơn. Cụ thể, năm 1995 bình quân 1 cơ sở chỉ có 3,31 người, năm 2002 là 3,75 nhưng đến năm 2007 con số này là 4,03. Tuy nhiên có thể thấy thấy qui mô lao động bình quân chung của các cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh vẫn còn nhỏ với 3,47 lao động trên 1 cơ sở (năm 2002 là 3,04). Trong khi qui mô lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc doanh nghiệp tăng khá cao sau 5 năm, trong đó bình quân mỗi cơ sở thuộc doanh nghiệp nhà nước có 265,7 người (năm 2002 là 182,2 người), doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có 342,1 người (năm 2002 có 269,3 người) thì các cơ sở  thuộc khu vực sản xuất kinh doanh cá thể chỉ có 1,76 người. Bình quân lao động của 1 cơ sở thuộc khu vực cơ sở hành chính, sự nghiệp trong Tổng điều tra này giảm so với Tổng điều tra 2002, từ 17,2 người xuống còn 16,04 người; điều này cho thấy tác động của chính sách tinh giản biên chế khu vực hành chính nhà nước.

Trong tổng số các cơ sở được điều tra có tới 92,7% cơ sở chỉ có số lao động từ 5 người trở xuống, trong đó có 2,15 triệu cơ sở chỉ có 1 lao động (chiếm 52,01% trong tổng số). Tính riêng khu vực cơ sở sản xuất cá thể có tới 56,3% cơ sở có 1 lao động, các cơ sở thuộc doanh nghiệp và chi nhánh phụ thuộc con số này là 24,32% và các đơn vị hành chính sự nghiệp là 11,8%.

Nếu xét theo ngành kinh tế: số cơ sở của nhiều ngành chỉ có từ 1 đến 5 lao động chiếm tỷ trọng rất cao so với tổng số lao động trong ngành đó, như trong ngành bán buôn bán lẻ (thương nghiệp) chiếm 97,47% số cơ sở; ngành vận tải kho bãi 96,4%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống 97,4%; ngành kinh doanh bất động sản 98,9%; ngành dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí là 94,0%; ngành công nghiệp chế biến là 92,4%,.... 

 

I. Lao động của cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp

1. Số lượng lao động

Nếu tại thời điểm tổng điều tra 1/7/1995 cả nước chỉ có 6,74 triệu lao động, đến 1/7/2002 cả nước đã có 10,79 triệu lao động và chỉ sau 5 năm số lượng lao động đã đạt tới 16,71 triệu người, tăng 54,9% so với năm 2002 và gấp gần 2,5 lần so với năm 1995. Số lượng lao động tăng cao thể hiện qui mô lao động ngày càng được mở rộng theo nhu cầu ngày càng tăng của xã hội (tăng bình quân hàng năm là 1,2 triệu lao động), đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm cho toàn xã hội.

a/ Số lượng lao động phân  theo loại hình cơ sở

Khu vực doanh nghiệp độc lập

Cùng với sự tăng trưởng về số cơ sở, lao động trong các doanh nghiệp cũng tăng lên đáng kể. Sau 5 năm các ngành và lĩnh vực kinh doanh đã thu hút thêm 3,23 triệu lao động, như vậy tính bình quân mỗi năm thu hút khoảng 645 nghìn lao động. Số lao động tăng nhanh song vẫn tập trung ở một số ngành có tỷ trọng các cơ sở lớn như công nghiệp chế biến, vận tải kho bãi, thương nghiệp dịch vụ... Chính sách khuyến khích phát triển nhiều thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước ta đã tác động đến cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần ở khu vực doanh nghiệp nhà nước từ 34,8% trong năm 2002 xuống còn 17,7% trong năm 2007, lao động thuộc khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng từ 21,4% năm 2002 lên 55,8% năm 2007 và ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng tương ứng từ 21,3% lên 26,5%.

Khu vực cơ sở  sản xuất kinh doanh phụ thuộc

Số lượng lao động thuộc các cơ sở sản xuất kinh doanh phụ thuộc là 1,315 triệu lao động. So với kết quả Tổng điều tra năm 2002 tăng 14%, đây là tốc độ tăng  thấp nhất so với tốc độ tăng của toàn khối sản xuất kinh doanh. Về quy mô lao động của khu vực này đã thu hẹp, chỉ có 10,6 lao động trên 1 cơ sở.

Khu vực cơ sở kinh tế cá thể

Mặc dù số lượng cơ sở cá thể nhiều gấp 20 lần số cơ sở thuộc doanh nghiệp và chiếm tỷ trọng trên 95,2% so với cả khu vực sản xuất kinh doanh nhưng lao động của các cơ sở cá thể chỉ bằng 48,3% số lao động khu vực sản xuất kinh doanh và chỉ bằng 93,3% so với khối doanh nghiệp chi nhánh phụ thuộc. Trong một cơ sở cá thể trung bình có 1,76 lao động, trong khi các cơ sở thuộc doanh nghiệp là 38,09 lao động. Qui mô nhỏ dễ hình thành một cách tự phát và rất khó quản lý. Điều này dẫn đến sự thay đổi, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong khu vực cá thể khá dễ dàng.

Khu vực hành chính, sự nghiệp

Tổng số lao động của khu vực này tại thời điểm 1/7/2007 có xấp xỉ 2.933 triệu người, tăng 490,5 nghìn người về số tuyệt đối và 20,1% về tốc độ so với thời điểm 1/7/2002. Trong khu vực này, lao động thuộc cơ quan hành chính có tốc độ tăng thấp nhất so với năm 2002 (2,3%), cơ sở sự nghiệp có tốc độ tăng khá cao là 29%. Điều này cho thấy tác động của chính sách tinh giản biên chế khu vực hành chính nhà nước và mở rộng phát triển các đơn vị sự nghiệp.

b/ Số lượng lao động phân theo ngành kinh tế

Kết quả Tổng điều tra năm 2007 đã cho thấy hướng chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành, cụ thể từ ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản sang ngành kinh tế phi nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khá rõ nét. So với số liệu Tổng điều tra năm 2002, trong khi lao động trong các cơ sở thuộc ngành nông nghiệp giảm (0,6%) thì nhiều ngành sản xuất vật chất công nghiệp và xây dựng khác lại tăng khá mạnh như ngành khai khoáng tăng 27,4%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 59,3%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 89,5%, xây dựng tăng 94,3%. Cùng với sự phát triển kinh tế của khu vực dịch vụ, số lao động trong các ngành dịch vụ cũng tăng nhanh chóng như: dịch vụ vụ lưu trú và ăn uống tăng 71,4%, thông tin và truyền thông tăng 131,9%, hoạt động tài chính, ngân hàng tăng 77,3%, hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 2,88 lần, hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,3 lần,…

 

Bảng 2. Số lượng lao động phân theo khu vực kinh tế

 

 

 

Đơn vị tính: người

 

1/7/2002

1/7/2007

Tăng/giảm so với        1/7/2002

 

 

 

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Tổng số

10793376

16716841

6016929

54,9

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

247408

246012

-1396

99,4

Công nghiệp và xây dựng

4396412

6247709

2740985

166,2

      Trong đó:  Công nghiệp

3848802

5183959

2224845

134,7

Dịch vụ

6149556

10223120

3277340

142,1

2. Chất lượng lao động trong các cơ sở kinh tế

a/ Trình độ chuyên môn được đào tạo của lao động

So với năm 2002, đồng thời với việc tổng số lao động năm 2007 tăng 54,9%, trình độ chuyên môn được đào tạo của lao động cũng tăng đáng kể. Lao động được đào tạo trình độ từ đại học trở lên năm 2007 là 1,94 triệu người chiếm tỷ trọng 11,7% và tăng 82,6% so với kết quả Tổng điều tra năm 2002, trong đó lao động có trình độ là tiến sĩ và thạc sĩ là 96,4 nghìn người chiếm tỷ trọng 0,58% và tăng 124,5%, lao động có trình độ đại học là 1,848 triệu người chiếm tỷ trọng 11,1% và tăng 78,9%. Lao động được đào tạo nghề dài hạn lại giảm 15,7%. Như vậy số lượng lao động tăng nhanh sau 5 năm nhưng tốc độ tăng cao nhất thuộc nhóm lao động có trình độ trên đại học. Tuy nhiên số liệu về biến động cơ cấu lực lượng lao động phân theo trình độ cũng cho thấy rõ thực tế “thừa thầy, thiếu thợ” và nguy cơ thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề cao không đáp ứng kịp yêu cầu đang ngày càng tăng của sản xuất.

Bảng 3. Lao động phân theo trình độ chuyên môn được đào tạo

 

 

 

Đơn vị tính: người

 

1/7/2002

1/7/2007

1/7/2007 tăng giảm

so với 1/7/2002

Số lượng

Tỷ lệ (%)

      Tiến sỹ

13178

17996

4818

36,6

      Thạc sỹ

30078

78425

48437

         160,7

      Đại học

1032983

1848143

815160

 78,9

      Cao đẳng

415045

700828

285783

 68,9

      Trung học chuyên nghiệp

1262738

1697139

434401

 34,4

      Dạy nghề dài hạn

1523074

1283238

-239836

-15,7

      Khác

6516280

1091072

4574792

 70,2

Trình độ đào tạo của lao động thuộc khu vực sản xuất kinh doanh tăng lên rõ rệt, với số lượng lao động có trình độ từ đại học trở lên là 962,5 nghìn người tăng 106,3% so với Tổng điều tra năm 2002, trong đó lao động có trình độ tiến sỹ và thạc sỹ là 23,9 nghìn người tăng 162,5%. Có 700,7 nghìn lao động của khu vực doanh nghiệp được đào tạo trình độ từ đại học trở lên  tăng 138% so với năm 2002, chiếm tỷ trọng 12% trong tổng số lao động của nhóm này và 4,1% tổng số lao động chung. Trong khi đó lao động được đào tạo từ đại học trở lên của các cơ sở sản xuất cá thể chỉ là74,3 nghìn người chiếm tỷ trọng 1,1% số lao động của khu vực này và 0,4% tổng số lao động.

Như vậy có thể thấy trình độ chuyên môn của người lao động thuộc khu vực sản xuất kinh doanh mặc dù đã được nâng lên rõ rệt song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về lao động có trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu rộng, nền kinh tế luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt thì muốn nâng cao chất lượng hàng hoá phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng lao động.

Số lao động có trình độ trên đại học tập trung chủ yếu ở các cơ sở thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, hiệp hội với số tiến sỹ chiếm 82,4% và thạc sỹ chiếm 72,5% của cả nước. Số lao động có trình độ từ đại học trở lên của khu vực này có xấp xỉ 976 nghìn người tăng gần 400 nghìn người và 83,3% so với năm 2002, trong đó có 72,2 nghìn người có trình độ tiến sỹ và thạc sỹ tăng 113% so với năm 2002.

Kết quả Tổng điều tra cũng cho thấy tỷ trọng lao động được đào tạo từ đại học trở lên trong những ngành dịch vụ cao hơn những ngành sản xuất. Ví dụ trong khi ngành công nghiệp khai khoáng chỉ có 6,3% số lao động có trình độ từ đại học trở lên trong tổng số lao động của ngành đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 3,6%, thì các ngành như thông tin và truyền thông có tỷ lệ tới 37%, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 58%, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 49,8%. Ngành giáo dục đào tạo có số lượng lao động được đào tạo cao nhất cả nước, chiếm 49,6% số tiến sỹ của cả nước, 45,5% số thạc sỹ, 23,5 % số đại học; tiếp theo là ngành khoa học với số tiến sỹ chiếm 17,9% tổng số tiến sỹ cả nước, số thạc sỹ chiếm 9,4%, số đại học chiếm 5,3%. Trong tổng số lao động phi nông nghiệp của cả nước, ngành công nghiệp chế biến có số lao động ở trình độ khác chiếm tỷ trọng cao nhất (40,8%), dạy nghề dài hạn là 41,4%.

b/ Trình độ chuyên môn được đào tạo của người đứng đầu cơ sở

Trong tổng số hơn 4,145 triệu cơ sở của năm 2007, chỉ có 2 477 cơ sở có người đứng đầu là tiến sỹ, 8 786 cơ sở có người đứng đầu là thạc sỹ và có trình độ đại học là 206 547 cơ sở. Năm 2002 có 1 677 cơ sở  có người đứng đầu là tiến sỹ chiếm 0,06%, thạc sỹ là 2 971 chiếm 0,1% và đại học là 118 857 đạt 4,13%. Những cơ sở có người đứng đầu có trình độ trên đại học chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Trong số 2 477 cơ sở của cả nước có người đứng đầu là tiến sỹ thì ở Hà Nội đã chiếm gần 50% với 1 052 cơ sở, trong đó tập trung nhiều ở khối các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp.

c/ Độ tuổi lao động

Hầu hết độ tuổi của lao động ở các cơ sở kinh tế ở trong khoảng từ 15 đến 55 tuổi. Cụ thể trong 16,71 triệu lao động của cả nước có tới 16,05 triệu người (95,8%) thuộc độ tuổi lao động. Lực lượng lao động trẻ tập trung nhiều ở các cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài nhà nước. Số ít lao động dưới 15 tuổi chủ yếu thuộc các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể hoặc lao động gia đình. Số lao động có độ tuổi trên 60 (chiếm tỷ trọng 1,79% trong tổng số lao động) chủ yếu làm việc ở các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể (gần 80%) và các cơ sở tôn giáo (10,8%). 

d/ Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin

So với số liệu tổng điều tra 2002, số lao động biết sử dụng máy tính vào công việc tăng gấp 3,4 lần, đây cũng là nét thể hiện chất lượng lao động dần được nâng cao. Trong đó khu vực hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là các khu vực có tỷ lệ lao động biết sử dụng máy tính vào công việc cao nhất, chiếm trên 60%. Khu vực kinh tế cá thể chỉ có 0,9% số lao động biết sử dụng máy tính. Một số ngành kinh tế có số lao động biết sử dụng máy tính chiếm tỷ trọng khá trong tổng số cả nước như công nghiệp chế biến, chế tạo; bán buôn, bán lẻ; cơ sở thuộc Đảng, tổ chức chính trị-xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng; ngành giáo dục đào tạo; …

Tuy nhiên với tỷ lệ khá khiếm tốn 17,3% số lao động biết sử dụng máy tính trong tổng số lao động đã cho thấy trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của lao động nước ta vẫn là vấn đề cần được các cấp các ngành quan tâm hơn, để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3. Mức độ tập trung lao động giữa các vùng

Số lượng lao động của các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp ở mỗi vùng, mỗi địa phương đều tăng đáng kể so với năm 2002, trong đó số lượng lao động ở vùng Đông Nam Bộ tăng cao nhất 74,5%, tiếp theo là vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng 59,6%, vùng đồng bằng sông Hồng tăng 50,1%;  vùng Tây Bắc tăng 47,2%; vùng duyên hải Nam Trung Bộ tăng 47,9%; vùng Đông Bắc tăng 37,6%; vùng Bắc Trung Bộ tăng 35,1% là mức tăng thấp nhất trong các vùng.

Tuy nhiên, mức độ tập trung lao động giữa các vùng, các địa phương rất khác nhau, trong đó các vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ vẫn là những vùng tập trung lao động cao. Theo kết quả tổng điều tra, 26,7 % lực lượng lao động của cả nước tập trung tại vùng đồng bằng sông Hồng; vùng Đông Nam Bộ thu hút 28,5%; vùng đồng bằng sông Cửu Long là 14,9%; riêng lao động của Hà Nội chiếm 8,6%, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 15,2% tổng số lao động trong các cơ sở kinh tế của cả nước. Đó là những vùng, những thành phố có điều kiện tự nhiên, khí hậu, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế, những vùng này cũng có mật độ dân số đông đúc hơn và số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh tập trung nhiều. ? vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có nhiều doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có qui mô sản xuất lớn, thu hút hàng ngàn lao động trong tỉnh và ngoài tỉnh và ở các vùng khác. Đối với các vùng núi, vùng sâu vùng xa, mặc dù số lượng các cơ sở kinh tế và lao động đã tăng nhanh trong những năm qua, nhưng tỷ trọng của chúng vẫn rất thấp so với cả nước. Số lao động ở vùng núi Tây Bắc chỉ chiếm 1,8% và Tây Nguyên là 4,2% trong tổng số lao động cả nước.

III. ?ng dụng công nghệ thông tin trong các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và nhất là trong kinh doanh, giao dịch ngày càng được đẩy mạnh. Các doanh nghiệp đã nhận thức rõ tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều hành, quản lý, tìm hiểu, mở rộng và khai thác thị trường. Trong 5 năm qua việc ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ sở đã có những bước tiến đáng kể, năm 2002 cả nước chỉ có 525 nghìn máy tính được sử dụng trong các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp thì đến năm 2007 đã có xấp xỉ 2,02 triệu máy tính, tăng gấp 3,28 lần và tăng đồng đều cả ở khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hành chính sự nghiệp. Riêng số máy nối mạng LAN phục vụ cho giao dịch nội bộ đã tăng gấp 6,5 lần và số máy nối mạng Internet đạt mức tăng rất cao sau 5 năm là 16,13 lần. Số cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các doanh nghiệp, cơ quan có tỷ lệ sử dụng máy tính khá cao, chiếm 74% số cơ sở, trong khi đó số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể có sử dụng máy không đáng kể (0,9%). Khu vực cơ sở hành chính, sự nghiệp, Đảng, đoàn thể và hiệp hội đạt tỷ lệ 50% số cơ sở có sử dụng máy tính. 

Kết quả Tổng điều tra cũng cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ thông tin cũng rất khác nhau giữa các vùng và các địa phương. Đông Nam Bộ là vùng có số cơ sở sử dụng máy tính cao nhất với tỷ lệ 10,5% cơ sở có sử dụng máy tính, tiếp đến là vùng Tây Nguyên 8,2%, vùng Tây Bắc 7,9%; vùng duyên hải Nam Trung Bộ 6,7%; vùng Đông Bắc 6,1%, vùng đồng bằng sông Hồng 6%, Bắc Trung Bộ 4,7%; thấp nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt tỷ lệ 3,9%. Các tỉnh có tỷ lệ số cơ sở có máy tính cao là Hà Nội 20,6% (năm 2002 chỉ có 9,8%), TP. Hồ Chí Minh 13,7% (năm 2002 chỉ có 7,6%), TP. Đà Nẵng 11,3%; Kon Tum 10,5%. Địa phương có tỷ lệ ứng dụng công nghệ thông tin thấp nhất – dưới 3% là Bạc Liêu, Thái Bình, Hà Tây, Hà Nam.

 

Tương ứng với số cơ sở có sử dụng máy tính là số người biết sử dụng máy tính trong công việc. Tỷ lệ lao động biết sử dụng máy tính chiếm 17,3% trong tổng số lao động đang làm việc trong các cơ sở kinh tế trên phạm vi cả nước; trong đó, 12,1%, lao động của khu vực sản xuất kinh doanh biết sử dụng máy tính; 41,8% lao động của khu vực hành chính sự nghiệp biết sử dụng máy tính phục vụ công việc chuyên môn, nghiệp vụ. Các cơ sở là cơ quan hành chính có tỷ lệ lao động biết sử dụng máy tính cao nhất (50,1%). Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và tỷ lệ lao động biết sử dụng máy tính liên quan chặt chẽ với tính chất công việc của từng ngành. Ví dụ trong các ngành hoạt động bán buôn, bán lẻ, dịch vụ ăn uống có tỷ lệ này không cao do số lượng cơ sở cá thể trong ngành này là chủ yếu. Với qui mô của cơ sở cá thể còn nhỏ lẻ như hiện nay thì nhu cầu sử dụng máy tính trong công việc là rất ít.

Quan sát theo các ngành kinh tế, hai ngành Thông tin truyền thông và ngành Tài chính tín dụng có tỷ lệ số lao động biết sử dụng máy tính cao nhất (81,9% và 79%). Tiếp theo là ngành Khoa học công nghệ có tỷ lệ là 65,5%; ngành Hoạt động của Đảng, tổ chức chính trị xã hội, quản lý nhà nước an ninh quốc phòng (47,9%). Ngành có tỷ lệ lao động biết sử dụng máy tính thấp nhất là ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống (3,7%).

IV. Cơ sở  tôn giáo

Việc tách riêng các cơ sở tôn giáo để điều tra trong Tổng điều tra năm 2007 đã cho phép nhìn nhận rõ một số nét về hoạt động của khu vực này. Các cơ sở tôn giáo đang hoạt động ở nước ta thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau như đạo Phật, Thiên chúa giáo, đạo Cao đài, đạo Tin lành, đạo Hồi... Tại thời điểm Tổng điều tra cả nước có 28 066 cơ sở tôn giáo tăng 55%, với 122 889 người làm việc thường xuyên tại cơ sở tăng 63% so với Tổng điều tra năm 2002. Các cơ sở tôn giáo phần lớn được hình thành từ lâu đời. Có tới 83,6% cơ sở được hình thành trước năm 1986 trong khi bình quân chung cả nước cho toàn bộ các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp con số này chỉ là 5,5%. Cụ thể trong tổng số 28 066 cơ sở tôn giáo có 23 449 cơ sở được xây dựng trước năm 1986; có 945 cơ sở trong khoảng thời gian 1986 -1990; thời kỳ 1991 – 1995 là 1 276 cơ sở; thời kỳ 1996 - 2000 là 1 219 cơ sở; thời kỳ 2001 – 2005 là 908 cơ sở và từ 2006 đến nay là 269 cơ sở. Điều này phản ánh chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tạo điều kiện để các cơ sở tôn giáo được phát triển và hoạt động theo đúng pháp luật qui định với mục tiêu “sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh“

V. Khu cụm công nghiệp và làng nghề

1. Khu cụm công nghiệp

Trong tổng số 550 khu/cụm công nghiệp được điều tra tại thời điểm 1/7/2007 có 332 khu/cụm đang hoạt động, 112 khu/cụm đang trong giai đoạn xây dựng, còn lại là các khu/cụm đã có quyết định thành lập nhưng chưa triển khai. Các khu/cụm công nghiệp tập trung nhiều nhất ở một số vùng như: Nhiều nhất là Đồng bằng sông Hồng có 165 khu/cụm, tiếp đến là Duyên hải Nam Trung Bộ có 119 khu/cụm công nghiệp, vùng Đông Nam Bộ có 103 khu/cụm; Các khu/cụm này tập trung ở một số tỉnh như Bắc Ninh, Hà Tây, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai. Trong tổng số 332 khu/ cụm đang hoạt động thì có tới 146 khu/cụm công nghiệp bắt đầu hoạt động từ năm 2005 đến nay; 133 khu/cụm ra hoạt động trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2004; 47 khu cụm hoạt động trong khoảng thời gian 1995 đến 1999, và chỉ có 6 khu/cụm hoạt động từ năm 1990 đến 1994.

 

 

Trong tổng số diện tích đất được qui hoạch thuộc khu/cụm công nghiệp thì khu côngnghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất với 55,1%, tiếp theo là khu kinh tế chiếm 22,9%; cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề là 20,8%. Còn lại khu chế xuất và khu công nghệ cao chiếm tỷ trọng không đáng kể với tỷ trọng lần lượt là 0,7% và 0,6%. Qui mô diện tích bình quân cho mỗi khu/ cụm công nghiệp cả nước là 160,2 ha. Khu kinh tế thường có qui mô diện tích lớn nhất còn khu cụm công nghiệp làng nghề có qui mô nhỏ nhất, bình quân là 54 ha.

Các khu cụm công nghiệp đã thu hút được nhiều doanh nghiệp, dự án vào hoạt động. Với tổng số 10 817 cơ sở hoạt động trong khu/cụm thì có tới 4 827 cơ sở là doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 44,6%; 3 115 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 28,8%; 2 209 cơ sở cá thể, chiếm 20,4% trong khi doanh nghiệp nhà nước chỉ là 667 cơ sở, chiếm 6,2%. Nhìn chung các doanh nghiệp có dự án tại đây đều là những doanh nghiệp có vốn pháp định lớn, kinh doanh ổn định phổ biến là hoạt động trong các ngành nghề như điện tử, máy tính, may mặc, giày da, dịch vụ viễn thông … Những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các khu/ cụm công nghiệp đều là những doanh nghiệp hàng đầu, có trang thiết bị hiện đại, hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu. Mặc dù có nhiều chính sách ưu đãi để thu hút các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong các khu/cụm công nghiệp, nhưng đến nay hệ số lấp đầy bình quân chung cả nước chỉ chiếm 32,5%. Khu công nghiệp có hệ số lấp đầy là 36,5%. Khu chế xuất có tỷ lệ này cao nhất là 66,2%. Khu công nghệ cao có tỷ lệ thấp nhất là 6%. Còn lại trên 20%. Hệ số lấp đầy tương đối đồng đều giữa các vùng và dao động trong khoảng 20% đến 40%.

Trong suốt những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp để thu hút đầu tư và mở rộng phát triển các khu công nghiệp/khu cụm làng nghề và sự phát triển khá nhanh số lượng các khu/cụm công nghiệp đã phản ánh kết qủa của chủ trương đó. Bên cạnh tác động tích cực của việc thu hút đầu tư tập trung, góp phần phát triển kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, thu hút và đào tạo tay nghề cho nhiều lao động thì số liệu về các khu/ cụm công nghiệp chưa đưa vào hoạt động do đang trong quá trình xây dựng hoặc chưa triển khai cũng cho thấy cần có sự đánh giá kỹ lưỡng tính hiệu quả của công tác phân vùng, quy hoạch và cấp phép đầu tư .

Các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường ở các khu/cụm công nghiệp cũng cho thấy một số vấn đề cần lưu ý. Trong số các khu/cụm đã đi vào hoạt động thì tình trạng xử lý rác thải tập trung chưa cao (chỉ chiếm 13,1%), đang xây dựng là 20,2% và 66,7% là chưa có hệ thống xử lý chất thải tập trung. Hệ thống đường giao thông nội bộ hoàn thành chỉ chiếm 28,9%. Hệ thống cấp điện, cấp nước cũng mới chỉ đạt ở mức khoảng 30%.

2. Làng nghề thuộc khu vực thành thị

Cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 đã tiến hành thu thập các thông tin về làng nghề và làng nghề truyền thống tại khu vực nông thôn. Cuộc Tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp tiếp tục điều tra thu thập thông tin của các làng nghề ở khu vực thành thị. Kết quả của cả hai cuộc Tổng điều tra đã phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động của các làng nghề của cả nước.

ở nước ta, hoạt động của các làng nghề được hình thành từ lâu đời. Có những làng nghề hình thành cách đây hàng trăm năm và thường tập trung ở khu vực nông thôn nhưng do sự phát triển của xã hội, nhiều vùng nông thôn trước đây được đô thị hóa và đến nay các làng nghề này vẫn tồn tại và thuộc khu vực thành thị. Tuy nhiên con số này không nhiều so với khu vực nông thôn. Theo số liệu cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 cả nước ta có 1 077 làng nghề, trong đó có 951 làng nghề truyền thống thuộc khu vực nông thôn. Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007, khu vực thành thị chỉ có 86 làng nghề trong đó có 68 làng nghề truyền thống. Tỷ lệ số hộ tham gia hoạt động làng nghề thường xuyên đạt 47,8%. Tuy nhiên cũng có những làng nghề có tỷ lệ 100% số hộ tham gia, với số người bình quân tham gia là 2,1 người/hộ. Hoạt động sản xuất chủ yếu của các làng nghề - làng nghề truyền thống thuộc khu vực thành thị là đan lát mây tre, đồ gỗ, dệt chiếu, gốm sứ… Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là trong nước. Trong tổng số 86 làng nghề điều tra chỉ có 5 làng nghề là có thị trường tiêu thụ chính ở nước ngoài, còn lại 81 làng nghề là có thị trường tiêu thụ chủ yếu trong nước và chiếm tới 94,2% thị phần. Theo đánh giá chung của chính quyền địa phương thì sự phát triển của các làng nghề hiện nay đang gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh thị trường gay gắt, nhiều làng nghề đang bị mai một dần. Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 34,9% làng nghề được đánh giá là có tiềm năng phát triển tốt, 64% chỉ đạt ở mức bình thường và 1,2% đạt mức dưới bình thường.

 Khái quát lại, kết quả chung về Tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp năm 2007 đã phản ánh được những điểm chủ yếu trong bức tranh toàn cảnh chung về sự phát triển của kinh tế Việt Nam sau 5 năm như đã phân tích ở trên. Qua đây có thể rút ra một số nhận định sau:

- Số lượng cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp và lao động của các cơ sở trên mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề đã có sự gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, tăng lên không đồng đều giữa các ngành kinh tế, theo hướng tập trung vào các ngành dịch vụ, đặc biệt tăng nhanh vào một số ngành dịch vụ mới.

- Mật độ các cơ sở cũng tăng lên theo xu hướng tăng của số lượng cơ sở nhưng không đồng đều giữa các vùng và địa phương, giữa các khu vực nông thôn và thành thị.

- Qui mô theo lao động của các cơ sở kinh tế, đặc biệt là qui mô các cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh mặc dù đã được cải thiện so với 5 năm trước đây nhưng nhìn chung vẫn còn nhỏ.

- Chất lượng lao động trong các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp được nâng lên một cách đáng kể. Đây sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của nước ta trong thời gian tới.

Kết quả trên đây đã thể hiện rõ nét tác động của những chính sách quản lý của Đảng, Nhà nước theo hướng phát triển cả về qui mô và chất lượng các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp thuộc các loại hình tổ chức, các ngành và các thành phần kinh tế. Kết quả này ghi nhận một dấu mốc quan trọng khi nền kinh tế nước ta chính thức gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Kết quả của cuộc Tổng điều tra này là một trong những cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch tổng thể phát triển đất nước và đặc biệt là cho việc đánh giá thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2001 – 2010, xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2010-2020. Đồng thời, thông tin của Tổng điều tra sẽ phục vụ các cơ quan, các tổ chức và nhà phân tích, người nghiên cứu về các chỉ tiêu thuộc lĩnh vực xã hội. Phát triển kinh tế hài hòa, bền vững trên cơ sở cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân là mục tiêu nhất quán mà Đảng, Nhà nước ta luôn đặt ra trong các công tác xây dựng chính sách, điều hành, quản lý nền kinh tế. Khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực doanh nghiệp là hợp lý song cần hài hoà cân đối giữa các vùng miền, giữa các ngành kinh tế để thu hút lực lượng lao động, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Các cơ sở sản xuất cá thể một mặt đã đóng góp không nhỏ trong nền kinh tế hiện nay, nhưng ý nghĩa lớn hơn của khu vực này là giải quyết công ăn việc làm cho 6,6 triệu lao động, cải thiện kinh tế gia đình, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình, các cá nhân, cùng với các thành phần kinh tế khác góp phần thúc đẩy và ổn định kinh tế, xã hội của đất nước, của từng vùng/địa phương. Trong khi kinh tế cá thể còn yếu ở khâu điều hành tổ chức, sự hỗ trợ của Nhà nước là rất cần thiết để hướng các cơ sở này đi theo đúng hướng của sự phát triển xã hội. Đối với khu vực hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể và hiệp hội cần được sắp xếp hợp lý, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà, đào tạo bồi dưỡng lao động để nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ nhằm đạt được kết quả cao  trong sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Báo cáo tình trạng trẻ em nghèo đa chiều tại Việt Nam
  Giới và tiền chuyển về của lao động di cư
  Nghiên cứu về mua bán trẻ em trai tại Việt Nam
  Tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010
  Kinh tế - xã hội thời kỳ 2006-2010 qua số liệu một số chỉ tiêu thống kê chủ yếu
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (23/12/2013)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40
Từ khoá    Phạm vi     Ngày   Chọn thời gian tìm kiếm
LƯỢT TRUY CẬP THỨ
Giấy phép thiết lập trang điện tử trên Internet số: 172/GP-TTĐT, cấp ngày 13/08/2010
Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội
Email: banbientap@gso.gov.vn. Điện thoại: 04.37332997 - 04.38464921