English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
  
ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2013

Kinh tế thế giới năm 2013 tuy vẫn còn nhiều khó khăn thách thức nhưng đã có một số dấu hiệu khả quan. Để đối phó với tình trạng tăng trưởng chậm, một số nền kinh tế mới nổi thực hiện những biện pháp tích cực để tăng cầu trong nước. Khu vực đồng tiền chung châu Âu đã có tín hiệu tích cực với số đơn đặt hàng gia tăng trong những tháng gần đây. Mặc dù vậy, tình hình kinh tế thế giới nhìn chung chưa có nhiều cải thiện rõ nét. Thất nghiệp vẫn đang là mối quan tâm lớn tại các nền kinh tế đang phát triển. Sản xuất kinh doanh trong nước mặc dù đã có chuyển biến tích cực nhưng tốc độ vẫn chậm. Mức tiêu thụ sản phẩm hàng hóa chưa cao, nhất là khu vực sản xuất trong nước. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực kinh tế-xã hội trong chín tháng năm 2013 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) chín tháng năm 2013 ước tính tăng 5,14% so với cùng kỳ năm trước (Mức tăng cùng kỳ của năm 2011 là 6,03% và năm 2012 là 5,10%), trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,39%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,20%, đóng góp 1,99 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,25%, đóng góp 2,71 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ tiếp tục là khu vực đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế với mức tăng của một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như sau: Ngành bán buôn và bán lẻ tăng 5,92%; ngành kinh doanh bất động sản tăng 1,91%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,66%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,69%; giáo dục và đào tạo tăng 7,98%; vận tải kho bãi tăng 5,65%. 

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; khu vực công nghiệp và xây dựng là hai khu vực có mức tăng thấp hơn. Thời tiết không thuận lợi, giá bán sản phẩm ở mức thấp trong khi chi phí đầu vào ở mức cao trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cùng với khó khăn về vốn, tiêu thụ sản phẩm và mức tồn kho cao trong khu vực công nghiệp và xây dựng là nguyên nhân chủ yếu tác động tiêu cực đến tăng trưởng của hai khu vực. Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến chế tạo - ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế đã có chuyển biến tích cực với tốc độ tăng ngày càng cao hơn trong năm: Quý I tăng 4,60%; quý II tăng 6,90%; quý III tăng 8,57%.

Quy mô tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm nay theo giá hiện hành ước tính đạt 2420,9 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,86%; khu vực dịch vụ chiếm 44,29%.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

chín tháng năm 2011, 2012 và 2013

 

 

Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

 

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng năm 2013
(Điểm phần trăm)

 

9 tháng

năm 2011

9 tháng

 năm 2012

9 tháng      năm 2013

Tổng số

6,03

5,10

5,14

5,14

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

3,74

2,50

2,39

0,44

Công nghiệp và xây dựng

6,75

5,76

5,20

1,99

Dịch vụ

6,43

5,66

6,25

2,71

 

 

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                                     

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chín tháng năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 535,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 387,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%; lâm nghiệp đạt 17,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6%; thuỷ sản đạt 131,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4%.

a. Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước đã gieo cấy được 1734,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 101% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1185,6 nghìn ha, bằng 100,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 549 nghìn ha, bằng 103,1%. Diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước năm 2013 ước tính đạt 1987,9 nghìn ha, tăng 0,7% so với vụ mùa năm 2012. Theo báo cáo từ các địa phương, hiện nay lúa mùa đã trỗ bông, trà lúa sớm đang trong giai đoạn vào chắc và chín với một phần diện tích đã cho thu hoạch. Thời tiết bão và mưa kéo dài đầu tháng Chín làm ngập, đổ nhiều diện tích lúa, trong đó một phần diện tích bị mất trắng, ảnh hưởng phần nào đến kết quả sản xuất. Nếu điều kiện thời tiết những tháng cuối năm thuận và ít bị ảnh hưởng của sâu bệnh thì sản lượng lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 9,6 triệu tấn, tăng 0,9% so với vụ mùa năm 2012; năng suất ước tính đạt 48,1 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha, trong đó năng suất các tỉnh phía Nam tăng 0,8 tạ/ha, chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Cùng với việc gieo cấy lúa mùa, các địa phương trên cả nước đang bước vào thu hoạch lúa hè thu. Tính đến 15/9/2013, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1894,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 111,6% cùng kỳ năm trước và chiếm 68,6% diện tích gieo trồng, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1668,1 nghìn ha, bằng 105,4% và bằng 72,3% diện tích xuống giống. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 51,9 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng ước tính đạt 14,3 triệu tấn, tăng 2,7%.

Ước tính diện tích lúa cả năm 2013 đạt 7890,7 nghìn ha, tăng 129,5 nghìn ha so với năm 2012; năng suất đạt 55,9 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt 44,1 triệu tấn, tăng 407 nghìn tấn.

Đến trung tuần tháng Chín, cả nước đã gieo trồng được 993,3 nghìn ha ngô, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2012; 131,3 nghìn ha khoai lang, tăng 0,8%; 205,3 nghìn ha lạc, giảm 1,3%; 115,3 nghìn ha đậu tương, tăng 0,3% và 866,4 nghìn ha rau, đậu tăng 4,9%.

Sản lượng cây lâu năm có xu hướng tăng do nhiều diện tích đến kỳ cho sản phẩm. Sản lượng cao su năm 2013 ước tính đạt 936,9 nghìn tấn, tăng 6,8% so với năm trước; cà phê đạt 1331,4 nghìn tấn, tăng 5,6%; chè đạt 931 nghìn tấn, tăng 2,3%; hồ tiêu 123,5 nghìn tấn, tăng 6,5%; dừa 1276,6 nghìn tấn, tăng 0,3%; riêng sản lượng điều chỉ đạt 281,7 nghìn tấn, giảm gần 10% do đầu vụ gặp mưa và ảnh hưởng của sâu bệnh.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục gặp khó khăn do giá bán sản phẩm ở mức thấp trong khi giá thức ăn và các chi phí khác cho chăn nuôi ở mức cao khiến người nuôi không có lãi. Dịch bệnh trên gia cầm những tháng đầu năm diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến tâm lý của người chăn nuôi. Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu, bò cả nước giảm 2-3% so với cùng kỳ năm 2012; đàn lợn giảm 0,5%; đàn gia cầm giảm 1,5-2%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng chín tháng giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước; thịt lợn hơi xấp xỉ cùng kỳ năm trước; thịt gia cầm giảm 1,3%. Tính đến 24/9/2013, cả nước không còn địa phương nào có dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh chưa qua 21 ngày. Dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở tỉnh Quảng Nam.

b. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp từ đầu năm tuy bị ảnh hưởng thời tiết rét đậm đầu vụ và khô hạn kéo dài tại nhiều nơi, đặc biệt tại các tỉnh Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ nhưng do có mưa sớm nên các địa phương vẫn bảo đảm được tiến độ thời vụ nên kết quả đạt khá. Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước chín tháng ước tính đạt 128,6 nghìn ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có diện tích rừng trồng mới nhiều như: Tuyên Quang 13 nghìn ha; Yên Bái 12,6 nghìn ha; Bắc Kạn 11,9 nghìn ha; Quảng Ninh 11,6 nghìn ha; Thanh Hóa 10,3 nghìn ha; Phú Yên 12 nghìn ha. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 167,6 triệu cây, tăng 2,1%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 3645 nghìn m3, tăng 6,6%, một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác lớn là: Bình Định 326,8 nghìn m3; Yên Bái 285 nghìn m3; Quảng Nam 260,3 nghìn m3; Quảng Ngãi 245 nghìn m3; Quảng Ninh 238,6 nghìn m3; Phú Thọ 232 nghìn m3; Thanh Hóa 178,7 nghìn m3; Đắk Lắk 176 nghìn m3. Khai thác gỗ tăng khá chủ yếu do diện tích rừng được quy hoạch với tỷ trọng tương đối lớn trong diện tích rừng hiện có, bên cạnh đó các địa phương đang từng bước thực hiện ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lâm nghiệp.

Thời tiết những tháng đầu năm khô hạn gây ra tình trạng cháy rừng ở một vài nơi. Trong chín tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 1446 ha, giảm 52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 868,8 ha, giảm 57,9%; diện tích rừng bị phá 578 ha, giảm 8,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Gia Lai 411 ha; Hà Giang 79 ha; Cà Mau 44 ha; Lâm Đồng 38 ha; Đắk Lắk 31 ha; Lai Châu 27 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị phá nhiều là: Đắk Nông 130 ha; Lâm Đồng 84 ha; Kon Tum 76 ha; Bình Phước 60 ha; Quảng Nam 45 ha.

c. Thủy sản

Sản lượng thủy sản chín tháng năm 2013 ước tính đạt 4496 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3335 nghìn tấn, tăng 1,9%; tôm đạt 475 nghìn tấn, tăng 6,4%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng chín tháng ước tính đạt 2353 nghìn tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1764 nghìn tấn, tăng 0,3%; tôm đạt 362 nghìn tấn, tăng 8%, thủy sản nuôi trồng khác đạt 227 nghìn tấn, tăng 7%.

Trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất cá tra gặp nhiều khó khăn với tình trạng thua lỗ kéo dài nên diện tích nuôi ngày càng bị thu hẹp. Nguyên nhân một mặt do giá cá tra nguyên liệu giảm, giá chi phí nguyên liệu đầu vào tăng; mặt khác do nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn giảm. Bên cạnh đó, cá tra của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ bị áp mức thuế chống phá giá với mức thuế nhập khẩu cao làm ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Một số địa phương có diện tích và sản lượng cá tra giảm nhiều là: An Giang giảm 13% về diện tích và giảm 8% về sản lượng; Cần Thơ giảm 5% về diện tích; Vĩnh Long giảm 2% về diện tích và giảm 11% về sản lượng; Bến Tre giảm 5% về diện tích và giảm 4% về sản lượng. Sản xuất cá tra giảm chủ yếu ở khu vực hộ gia đình do hợp đồng với doanh nghiệp chế biến chỉ được ký kết khi cá đạt tiêu chuẩn nên thường xảy ra tình trạng giá cả không ổn định, lệ thuộc vào thị trường tiêu thụ từng thời điểm. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp có tính ổn định hơn do chủ động được từng khâu trong quá trình thả nuôi, thu hoạch và tiêu thụ; đồng thời đầu tư theo hướng hiện đại với các tiêu chuẩn cao nhằm hướng đến cung cấp nguồn hàng bảo đảm an toàn, vệ sinh và chất lượng tốt trên thị trường trong nước và thế giới.

Nuôi tôm đạt sản lượng khá do các địa phương tuân thủ chặt chẽ lịch thả nuôi trong năm và chất lượng con giống được kiểm soát chặt chẽ. Cơ cấu tôm nuôi theo xu hướng phát triển mạnh nuôi tôm thẻ chân trắng thay cho tôm sú vì loại tôm này cho năng xuất và hiệu quả kinh tế cao hơn cũng như ít bị dịch bệnh hơn. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng trong kỳ ước tính đạt 49 nghìn ha, tăng 47,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 154,3 nghìn tấn, tăng 39,2%.

Hoạt động khai thác thủy sản trong năm có nhiều thuận lợi về thời tiết cũng như về sự hỗ trợ và tạo điều kiện của chính quyền địa phương trong việc trang bị máy thông tin liên lạc và vay vốn ưu đãi, đóng mới tàu thuyền công suất lớn. Sản lượng thủy sản khai thác chín tháng năm nay ước tính đạt 2143 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 2004 nghìn tấn, tăng 3,5%. Riêng sản lượng cá ngừ đại dương chín tháng ước tính đạt 13 nghìn tấn, giảm 5,7% do chất lượng cá không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu làm giá cá giảm mạnh nên nhiều ngư dân chuyển sang nghề lưới cản và khai thác cá ngừ sọc dưa nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín năm nay ước tính tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 11,2%.

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chín tháng ước tính tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó ngành khai khoáng giảm 0,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,3%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 9,5%. Trong mức tăng chung của chín tháng, ngành chế biến, chế tạo đóng góp 4,8 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,54 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác làm giảm 0,04 điểm phần trăm.

Một số ngành có chỉ số sản xuất chín tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,7%; dệt tăng 16,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 14%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,6%; sản xuất trang phục tăng 11,4%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 11%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 10%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 9,1%. Một số ngành có mức tăng khá là: Sản xuất đồ uống tăng 8,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 8,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,3%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thiết bị điện tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm và ngành sản xuất thuốc lá cùng tăng 4,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 1,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 1,3%; sản xuất kim loại giảm 1,1%; khai thác than cứng và than non giảm 5,1%; khai khoáng khác giảm 6,2%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp chín tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6%; Đồng Nai tăng 7,5%; Bình  Dương tăng 8,4%; Hà Nội tăng 4,3%; Hải Phòng tăng 4,9%; Bắc Ninh tăng 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 21,6%; Cần Thơ tăng 7,6%; Hải Dương tăng 9,3%; Đà Nẵng tăng 10,6%; Bà Rịa Vũng Tàu giảm 1,5%; Quảng Ninh giảm 2,3%; Quảng Nam tăng 5,3%; Quảng Ngãi tăng 23,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tám tháng năm nay tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất xe có động cơ tăng 35,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 31,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 24,9%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,6%; dệt tăng 14,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,1%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tám tháng tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc lá tăng 5,9%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 4,7%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất tăng 2,4%; sản xuất kim loại tăng 1,5%.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/9/2013 toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,3% so với cùng thời điểm năm 2012, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Dệt tăng 8,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 8,1%; sản xuất trang phục tăng 5,1%; sản xuất thuốc lá tăng 2,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 1,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 2,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 11,6%; sản xuất xe có động cơ giảm 36,8%. Tuy nhiên vẫn còn những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: Sản xuất đồ uống tăng 121%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 41,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 38,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,9%; sản xuất kim loại tăng 11,5%. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Tám là 70,7%; tỷ lệ tồn kho bình quân tám tháng năm nay là 74,1%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho bình quân tám tháng cao là: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 113,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm 89,8%.

Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2013 tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1,4%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 1,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,4%. Chỉ số sử dụng lao động của ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,1%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,9%. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sử dụng lao động tăng cao so với cùng thời điểm năm trước là: Xử lý ô nhiễm và hoạt động quản lý chất thải tăng 28,3%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 13,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và các sản phẩm quang học tăng 12,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 9,9%; sản xuất trang phục tăng 7,5%; sản xuất kim loại tăng 5,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,3%.

4. Hoạt động xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng chín tháng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 531,9 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 63,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9%; khu vực ngoài Nhà nước 446,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 84%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 22,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,1%. Giá trị sản xuất xây dựng chín tháng chia theo loại công trình như sau: Công trình nhà ở đạt 224,5 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 83,5 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 158,8 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 65,1 nghìn tỷ đồng.

Giá trị sản xuất xây dựng chín tháng theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 432,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 52,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 361,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,6 nghìn tỷ đồng, tăng 37,5%.

5. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng ước tính đạt 1932 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, loại trừ yếu tố giá tăng 5,3%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng, kinh doanh thương nghiệp đạt 1484,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,8% tổng mức và tăng 12,1%; khách sạn nhà hàng đạt 233 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,1% và tăng 14,7%; dịch vụ đạt 196,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% và tăng 14,6%; du lịch đạt 18 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% và tăng 3,9%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa                               

Vận tải hành khách chín tháng năm nay ước tính đạt 2209,7 triệu lượt khách, tăng 5,3% và 93,1 tỷ lượt khách.km, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 26,6 triệu lượt khách, tăng 6,1% và 22,2 tỷ lượt khách.km, tăng 7,8%; vận tải địa phương đạt 2183,1 triệu lượt khách, tăng 5,2% và 70,8 tỷ lượt khách.km, tăng 4,2%. Vận tải hành khách đường bộ chín tháng ước tính đạt 2076 triệu lượt khách, tăng 5,4% và 67 tỷ lượt khách.km, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 13 triệu lượt khách, tăng 8,4% và 20,5 tỷ lượt khách.km, tăng 9,5%; đường sắt đạt 9,3 triệu lượt khách, tăng 0,8% và 3,4 tỷ lượt khách.km, giảm 2%; đường biển đạt 3,6 triệu lượt khách, tăng 4,4% và 182,3 triệu lượt khách.km, tăng 3,6%.

Vận tải hàng hóa chín tháng ước tính đạt 742,8 triệu tấn, tăng 3,8% và 150,5 tỷ tấn.km, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 720,1 triệu tấn, tăng 4,2% và 66,7 tỷ tấn.km, tăng 3,4%; vận tải ngoài nước đạt 22,7 triệu tấn, giảm 7,2% và 83,8 tỷ tấn.km, giảm 6,6%. Vận tải hàng hoá địa phương chín tháng đạt 700 triệu tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước và 67,5 tỷ tấn.km, tăng 3,6%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 561 triệu tấn, tăng 4,3% và 33,5 tỷ tấn.km, tăng 4%; đường sông đạt 133 triệu tấn, tăng 5,4% và 28,7 tỷ tấn.km, tăng 4,2%; đường biển đạt 43,8 triệu tấn, giảm 6,3% và 85,1 tỷ tấn.km, giảm 6,6%; đường sắt đạt 4,9 triệu tấn, giảm 5,2% và 2,8 tỷ tấn.km, giảm 5,8%.

c. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong chín tháng ước tính đạt 5490,2 nghìn lượt người, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 3364,6 nghìn lượt người, tăng 12,7%; đến vì công việc 918,6 nghìn lượt người, tăng 7,8%; thăm thân nhân đạt 913,8 nghìn lượt người, tăng 7,1%. Trong chín tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không đạt 4348,6 nghìn lượt người, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2012; khách đến bằng đường bộ đạt 972,1 nghìn lượt người, tăng 31,2%; khách đến bằng đường biển đạt 169,6 nghìn lượt người, giảm 13,6%.

Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta chín tháng qua tăng so với cùng kỳ năm trước là: Trung Quốc 1359 nghìn lượt người, tăng 37%; Hàn Quốc 562,1 nghìn lượt người, tăng 6,8%; Nhật Bản 450,5 nghìn lượt người, tăng 5,1%; Cam-pu-chia 247,7 nghìn lượt người, tăng 4,5%; Ôx-trây-li-a 238,6 nghìn lượt người, tăng 12,5%; Ma-lai-xi-a 237,1 nghìn lượt người, tăng 12,5%; Liên bang Nga 206 nghìn lượt người, tăng 65,9%; Thái Lan 195 nghìn lượt người, tăng 23,1%; Vương quốc Anh 136,1 nghìn lượt người, tăng 8%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta giảm so với cùng kỳ năm trước là: Hoa Kỳ 328,2 nghìn lượt người, giảm 3,1%; Đài Loan 297,6 nghìn lượt người, giảm 6,3%; Pháp 157,6 nghìn lượt người, giảm 6,7%; Xin-ga-po 136,3 nghìn lượt người, giảm 2,1%; Lào 96,3 nghìn lượt người; giảm 10%; Ca-na-đa 77,5 nghìn lượt người, giảm 11,6%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

1. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện chín tháng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 755,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 297,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,3% tổng vốn và tăng 4,2%; khu vực ngoài Nhà nước 280 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,1% và tăng 8,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 178,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,6% tăng 5,6%.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện

9 tháng năm 2013 theo giá hiện hành

 

 

Nghìn tỷ đồng

Cơ cấu     (%)

So với cùng kỳ

năm trước (%)

TỔNG SỐ

755,9

100,0

106,1

Khu vực Nhà nước

297,3

39,3

104,2

Khu vực ngoài Nhà nước

280,0

37,1

108,5

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

178,6

23,6

105,6

 

Trong vốn đầu tư thực hiện 9 tháng của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính đạt 144,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,3% kế hoạch năm và giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2012, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 30 nghìn tỷ đồng, bằng 74,8% kế hoạch năm và giảm 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 5277 tỷ đồng, bằng 84,1% và giảm 6,5%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 3114 tỷ đồng, bằng 71,2% và giảm 7,5%; Bộ Xây dựng 1016 tỷ đồng, bằng 57,7% và giảm 19,1%; Bộ Y tế 536 tỷ đồng, bằng 62,1% và giảm 31,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 438 tỷ đồng, bằng 62,8% và giảm 32,9%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 349 tỷ đồng, bằng 69,7% và giảm 21,9%; Bộ Công Thương 225 tỷ đồng, bằng 83% và giảm 29,1%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 114,5 nghìn tỷ đồng, bằng 71,7% kế hoạch năm và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2012. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 17523 tỷ đồng, bằng 63,6% kế hoạch năm và tăng 29,4% so với cùng kỳ năm 2012; thành phố Hồ Chí Minh 11823 tỷ đồng, bằng 69% và tăng 6,2%; Đà Nẵng 3651 tỷ đồng, bằng 48,5% và giảm 43,4%; Quảng Ninh 3254 tỷ đồng, bằng 83,5% và tăng 7,6%; Vĩnh Phúc 2935 tỷ đồng, bằng 97,9% và tăng 18,5%; Nghệ An 2764 tỷ đồng, bằng 125% và giảm 6,4%; Thanh Hóa 2632 tỷ đồng, bằng 84% và giảm 7,4%; Bà Rịa-Vũng Tàu 2477 tỷ đồng, bằng 56,2% và tăng 7,9%; Bình Dương 2413 tỷ đồng, bằng 62,1% và tăng 8,9%; Kiên Giang 2309 tỷ đồng, bằng 72,2% và tăng 4,9%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2013 đạt 15005,3 triệu USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 872 dự án được cấp phép mới đạt 9294,1 triệu USD, giảm 7,3% về số dự án và tăng 34,9% về số vốn; vốn đăng ký bổ sung của 340 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 5711,2 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện chín tháng năm nay ước tính đạt 8,6 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2012.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chín tháng tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với 12969,3 triệu USD, chiếm 86,4% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 588,1 triệu USD, chiếm 3,9%; các ngành khác đạt 1447,9 triệu USD, chiếm 9,7%.

Cả nước có 46 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong chín tháng năm nay, trong đó Thái Nguyên có số vốn đăng ký lớn nhất với 2142 triệu USD, chiếm 23% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hải Phòng 1837 triệu USD, chiếm 19,8%; Bình Định 1009 triệu USD, chiếm 10,9%; thành phố Hồ Chí Minh 818 triệu USD, chiếm 8,8%; Hải Dương 613 triệu USD, chiếm 6,6%; Bình Dương 507 triệu USD, chiếm 5,5%;  Đồng Nai 384 triệu USD, chiếm 4,1%...

Trong số 45 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới vào Việt Nam chín tháng qua, Xin-ga-po tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 2695 triệu USD, chiếm 29% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 2237 triệu USD, chiếm 24,1%; Nhật Bản 1123 triệu USD, chiếm 12,1%; Liên bang Nga 1018 triệu USD, chiếm 11%; Đặc khu Hành chính Hồng Kông 584 triệu USD, chiếm 6,3%...

2. Tài chính, ngân hàng

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2013 ước tính đạt 509,7 nghìn tỷ đồng, bằng 62,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 331,2 nghìn tỷ đồng, bằng 60,7%; thu từ dầu thô 77,5 nghìn tỷ đồng, bằng 78,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 96,8 nghìn tỷ đồng, bằng 58,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 98,4 nghìn tỷ đồng, bằng 56,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 74,1 nghìn tỷ đồng, bằng 69%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 72,1 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9%; thuế thu nhập cá nhân 35 nghìn tỷ đồng, bằng 63,9%; thuế bảo vệ môi trường 8 nghìn tỷ đồng, bằng 56,3%; thu phí, lệ phí 6,7 nghìn tỷ đồng, bằng 64,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2013 ước tính đạt 640,4 nghìn tỷ đồng, bằng 65,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 114,1 nghìn tỷ đồng, bằng 65,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 110,5 nghìn tỷ đồng, bằng 65%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 453 nghìn tỷ đồng, bằng 67,2%; chi trả nợ và viện trợ 73,3 nghìn tỷ đồng, bằng 69,8%.

  3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

a. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2013 ước tính đạt 11,3 tỷ USD, giảm 5,2% so với tháng trước và tăng 20% so với cùng kỳ năm 2012. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu chín tháng ước tính đạt 96,5 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 32,5 tỷ USD, tăng 4,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 63,9 tỷ USD, tăng 22,4%. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu chín tháng tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may...

Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực chín tháng, một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 15,1 tỷ USD, tăng 75,5%; hàng dệt, may đạt 13,2 tỷ USD, tăng 18%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,8 tỷ USD, tăng 45,3%; giày dép đạt 6,1 tỷ USD, tăng 16,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 13,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 3,9 tỷ USD, tăng 13,7%; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù đạt 1,4 tỷ USD, tăng 25,1%; rau quả đạt 0,8 tỷ USD, tăng 24,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng khá là: Sản phẩm từ chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, tăng 12,6%; hạt điều đạt 1,2 tỷ USD, tăng 11,3%. Riêng kim ngạch xuất khẩu dầu thô, gạo, cao su và than đá giảm so với cùng kỳ năm 2012, trong đó dầu thô đạt 5,5 tỷ USD, giảm 11,8%; gạo đạt 2,4 tỷ USD, giảm 14,6%; cao su đạt 1,7 tỷ USD, giảm 16,1%; than đá đạt 0,7 triệu USD, giảm 25,3%.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2013 ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu chín tháng đạt 96,6 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 42,1 tỷ USD, tăng 5,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 54,5 tỷ USD, tăng 24,8%.

Trong chín tháng qua, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện tử máy tính và linh kiện đạt 13 tỷ USD, tăng 40,5%; vải đạt 6,1 tỷ USD, tăng 19,1%; chất dẻo đạt 4,2 tỷ USD, tăng 17%; nguyên phụ liệu dệt may, giày, dép đạt 2,7 tỷ USD, tăng 19,6%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,4 tỷ USD, tăng 39,4%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng khá là: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 13,2 tỷ USD, tăng 9,3%; sắt thép đạt 5 tỷ USD, tăng 11,7%; sản phẩm hóa chất đạt 2 tỷ USD, tăng 11,7%. Một số mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước là: Xăng dầu đạt 5,3 tỷ USD, giảm 25,4%; cao su đạt 502 triệu USD, giảm 17,1%; dầu mỡ động thực vật đạt 467 triệu USD, giảm 18,3%; khí đốt hóa lỏng đạt 439 triệu USD, giảm 12,6%.

Trong tám tháng năm nay, xuất siêu hàng hóa thực hiện là 176 triệu USD; tháng Chín nhập siêu ước tính 300 triệu USD; tính chung chín tháng, nhập siêu 124 triệu USD, bằng 0,1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 9574 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 9450 triệu USD.

4. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 tăng 1,06% so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 9,38% (Dịch vụ giáo dục tăng 10,66%). Các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác có chỉ số giá tăng dưới 1% hoặc giảm gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,65% (Lương thực tăng 0,41%; thực phẩm tăng 0,87%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; giao thông giảm 0,24%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%.

Chỉ số giá tháng này tăng chủ yếu do các yếu tố sau: (1) Giá điện được điều chỉnh tăng thêm 5% từ ngày 01/8/2013; (2) Một số địa phương tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí; (3) Nhu cầu tiêu dùng vật phẩm phục vụ học tập của học sinh vào năm học mới tăng cao. Riêng mức tăng của chỉ số giá nhóm giáo dục làm CPI chung cả nước tăng 0,54%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 tăng 4,63% so với tháng 12/2012 và tăng 6,30% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân chín tháng năm nay tăng 6,83% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.

b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 9/2013 tăng 1,97% so với tháng trước; giảm 18,6% so với tháng 12/2012; giảm 16,13% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2013 giảm 0,26% so với tháng trước; tăng 1,32% so với tháng 12/2012; tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2012.

c. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất chín tháng năm 2013 có một số biến động: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III giảm 1,9% so với quý trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2012. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó chỉ số giá quý III tăng 0,5% so với quý trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III tăng 0,4% so với quý trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá cước vận tải tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III tăng 0,3% so với quý trước và tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2012.

d. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá chín tháng năm 2013 giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III giảm 0,7% so với quý trước và giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2012. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá chín tháng giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III giảm 1,7% so với quý trước và giảm 1,7% so với cùng kỳ năm 2012.

III.  MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01/10/2013 là 53,9 triệu người, tăng 446,1 nghìn người so với lực lượng lao động tại thời điểm 01/7/2013, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm 01/10/2013 là 47,7 triệu người, tăng 366 nghìn người so với thời điểm 01/7/2013, trong đó nam chiếm 53,7%; nữ chiếm 46,3%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế chín tháng năm 2013 ước tính 52,4 triệu người, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm nay của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng số, không biến động nhiều so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,7%, giảm 0,5 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 31,9%, tăng 0,5 điểm phần trăm.

Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm 2013 ước tính 33,7%, trong đó khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 28%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 2,22%, trong đó khu vực thành thị là 3,67%, khu vực nông thôn là 1,56% (Số liệu của chín tháng năm 2012 tương ứng là: 2,06%; 3,31%; 1,48%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 2,66%, trong đó khu vực thành thị là 1,50%, khu vực nông thôn là 3,18% (Số liệu của chín tháng năm 2012 tương ứng là: 2,75%; 1,46%; 3,33%).

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 chín tháng năm 2013 ước tính là 5,97%, trong đó khu vực thành thị là 10,79%, tăng 1,27 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 4,49%, tăng 0,05 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên chín tháng năm 2013 ước tính là 1,29%, trong đó khu vực thành thị là 2,45%, khu vực nông thôn là 0,77%. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản xuất vẫn gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động.

2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội

Công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội luôn được Chính phủ quan tâm, chỉ đạo quyết liệt cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương nhằm giảm bớt khó khăn trong đời sống của dân cư. Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo chín tháng năm nay là 2694 tỷ đồng, bao gồm: 1211 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1085 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 398 tỷ đồng dành cho cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Ngoài ra, các địa phương đã thực hiện cấp trên 7,2 triệu sổ/thẻ bảo hiểm y tế và giấy khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng chính sách.

Tình trạng thiếu đói giáp hạt ở khu vực nông thôn chưa được cải thiện nhiều. Trong tháng Chín, cả nước có 16,4 nghìn hộ thiếu đói, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 70 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tăng 3%. Tính chung chín tháng năm nay, cả nước có 387,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 1628 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, giảm 4,1%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 42 nghìn tấn lương thực và 13,3 tỷ đồng.

3. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong chín tháng năm 2013, cả nước có 53,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (19 trường hợp tử vong); 44,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (25 trường hợp tử vong); 612 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (16 trường hợp tử vong); 468 trường hợp mắc thương hàn; 33 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 2 trường hợp mắc cúm A (H5N1) và 18 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân.

Trong tháng Chín đã phát hiện thêm 576 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến 17/9/2013 lên 215,3 nghìn người, trong đó 63,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 63,9 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Công tác thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, tiêu thụ và sử dụng thực phẩm mặc dù tiếp tục được tăng cường nhưng ý thức và hành vi của người sản xuất, kinh doanh cũng như người tiêu dùng trong cộng đồng vẫn chưa được nâng cao. Số vụ ngộ độc tập thể vẫn diễn ra trên nhiều địa phương trong cả nước. Trong tháng Chín, cả nước đã xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm làm 157 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 1 trường hợp tử vong. Tính chung chín tháng năm 2013, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 108 vụ ngộ độc thực phẩm làm 2,8 nghìn trường hợp bị ngộ độc, trong đó 18 người tử vong.

4. Tai nạn giao thông                                 

Trong tháng Chín, trên địa bàn cả nước đã xảy 886 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, làm 710 người chết và 523 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 10,2%, số người chết giảm 7,5%, số người bị thương tăng 5,9%. Ngoài ra, trong tháng đã xảy ra 1517 vụ va chạm giao thông, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước, làm 1899 người bị thương nhẹ, tăng 19,4%.

Tính chung chín tháng năm nay, cả nước đã xảy ra 8155 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, làm 7040 người chết và 4931 người bị thương. Số vụ va chạm giao thông trong chín tháng là 13706 vụ, làm 16849 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm 2012, số vụ tai nạn giao thông tăng 4,1%, số vụ va chạm giao thông giảm 10,7%, số người chết tăng 2,1%, số người bị thương giảm 11,9% và số người bị thương nhẹ giảm 10,9%.

Bình quân 01 ngày trong chín tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông và 50 vụ va chạm giao thông, làm 26 người chết, 18 người bị thương và 62 người bị thương nhẹ.

5. Thiệt hại do thiên tai

Trong chín tháng năm 2013, thiên tai xảy ra gây thiệt hại lớn về người và tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư của nhiều địa phương trong cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 176 người chết và mất tích, 262 người bị thương; 1,6 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; 83,7 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, sạt lở, tốc mái; 14,8 km đề, kè, 2,1 nghìn công trình, đập, cống bị hư hỏng và 2,2 nghìn cột điện bị gãy, đổ; gần 88,3 nghìn ha lúa và 51,7 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Lào Cai là địa phương bị thiệt hại nặng nhất với 23 người chết và mất tích, 82 người bị thương; 18,9 nghìn ngôi nhà bị sập, sạt lở, tốc mái và gần 2 nghìn ha lúa hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong chín tháng ước tính 4,5 nghìn tỷ đồng, trong đó Lào Cai thiệt hại khoảng 686 tỷ đồng, chiếm 15% tổng giá trị thiệt hại của cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai trong chín tháng năm naygần 10 tỷ đồng. 

6. Tình trạng cháy, nổ

Trong chín tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1,8 nghìn vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 73 người chết và 163 người bị thương, thiệt hại do các vụ cháy, nổ gây ra ước tính hơn 1069 tỷ đồng. Riêng tháng Chín đã xảy ra 159 vụ cháy, nổ, làm 3 người chết, 25 người bị thương với giá trị thiệt hại ước tính gần 521 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta chín tháng năm nay có chuyển biến tích cực: Tăng trưởng kinh tế tiếp tục tăng, trong đó khu vực dịch vụ giữ ổn định và tăng khá. Lạm phát ở mức được kiểm soát. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng tăng rõ rệt. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nợ xấu vẫn chưa được giải quyết. Sản xuất nông nghiệp, thủy sản gặp khó khăn về tiêu thụ sản phẩm và chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết xấu. Sản xuất kinh doanh trong nước tuy đã có cải thiện, sức mua có dấu hiệu tăng nhưng vẫn còn ở mức thấp. Trong những tháng cuối năm, để tiếp tục giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy nhanh tiến độ sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, các ngành, các cấp và địa phương cần tập trung làm tốt một số vấn đề trọng tâm sau đây:

Một là, tiếp tục quá trình giải quyết vấn đề nợ xấu ngân hàng. Thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ linh hoạt có kiểm soát, bảo đảm mức lạm phát và mức tăng trưởng hợp lý nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường. Tập trung nguồn lực nhằm hỗ trợ tài chính cũng như xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng.

Hai là, tiếp tục ban hành và thực hiện các chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp cùng các biện pháp trợ giúp doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thúc đẩy nhanh hơn tiến độ tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là việc hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực này. Nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, nhất là sản phẩm xuất khẩu. Kích cầu tiêu dùng nội địa để tăng tổng cầu nhằm đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng tồn kho, góp phần phát triển sản xuất của doanh nghiệp.

Ba là, quan tâm thường xuyên và hiệu quả đến đời sống và việc làm của người lao động, nhất là đối tượng học sinh, sinh viên tốt nghiệp để ổn định cuộc sống và tạo điều kiện tốt cho nguồn nhân lực trẻ được đào tạo và tiếp cận kiến thức tiên tiến. Nghiên cứu xây dựng đồng bộ cơ chế, chính sách quy định trong công tác an sinh xã hội để giảm khó khăn và cải thiện hơn nữa đời sống cho các đối tượng được thụ hưởng. Các địa phương cần chủ động hơn nữa trong việc triển khai các chương trình, đề án và chính sách mới về bảo trợ xã hội, trợ cấp khó khăn cho hộ nghèo.

 

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 


 

Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2013

 

 

 

Theo giá hiện hành

 

Theo giá so sánh 2010

Tổng số

Cơ cấu

Tổng số

Tốc độ phát triển

(Tỷ đồng)

(%)

(Tỷ đồng)

so với 9 tháng

 

 

 

 

năm 2012 (%)

TỔNG SỐ

2420881

100,00

1738985

105,14

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

432015

17,85

313635

102,39

Nông nghiệp

330145

13,64

243334

102,13

Lâm nghiệp

15967

0,66

11737

105,14

Thủy sản

85903

3,55

58564

102,95

Công nghiệp và xây dựng

916616

37,86

664416

105,20

Công nghiệp

794549

32,82

568530

105,18

Khai khoáng

253406

10,47

144510

99,90

Công nghiệp chế biến, chế tạo

448346

18,52

349429

106,80

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt,nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

79731

3,29

63818

108,40

Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

13067

0,54

10773

109,50

Xây dựng

122067

5,04

95886

105,34

Dịch vụ

1072250

44,29

760934

106,25

Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô,
xe máy và xe có động cơ khác

323464

13,36

234340

105,92

Vận tải, kho bãi

76438

3,16

53747

105,65

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

103535

4,28

73545

109,66

Thông tin và truyền thông

18510

0,76

19750

108,07

Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

123858

5,12

88964

106,69

Hoạt động kinh doanh bất động sản

142697

5,89

104538

101,91

Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ

30708

1,27

22140

107,37

Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

10304

0,43

7458

107,71

Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị-xã hội; quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng; đảm bảo xã hội bắt buộc

63916

2,64

46280

107,71

Giáo dục và đào tạo

74105

3,06

44561

107,98

Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội

44378

1,83

20459

108,04

Nghệ thuật, vui chơi và giải trí

14937

0,62

12298

107,28

Hoạt động dịch vụ khác

41462

1,71

30000

107,59

Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình

3938

0,16

2854

106,62

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 2010

 

 

 

 

 

 

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Thực hiện 9 tháng

Ước tính 9 tháng

9 tháng năm 2013
so với cùng kỳ
năm 2012 (%)

năm 2012

năm 2013

Tổng số

521540,0

535667,5

102,7

Nông nghiệp

378298,9

387164,1

102,3

Trồng trọt

270564,9

277936,3

102,7

Chăn nuôi

101074,9

102359,0

101,3

Dịch vụ

6659,1

6868,8

103,1

Lâm nghiệp

16243,4

17153,0

105,6

Thủy sản

126997,7

131350,4

103,4

Nuôi trồng

77152,4

80068,6

103,8

Khai thác

49845,3

51281,8

102,9

 

 

 

 

 

 

 

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 9 năm 2013

 

 

 

 

Thực hiện cùng

Thực hiện

Thực hiện kỳ này

kỳ năm trước

kỳ này

so với cùng kỳ

(Nghìn ha)

(Nghìn ha)

năm trước (%)

Thu hoạch lúa hè thu ở miền Nam

1696,9

1894,6

111,7

Trong đó: Đồng bằng sông Cửu Long

1582,6

1668,1

105,4

Gieo cấy lúa mùa

1716,9

1734,6

101,0

Miền Bắc

1184,6

1185,6

100,1

Miền Nam

532,3

549,0

103,1

Gieo trồng ngô

972,7

993,3

102,1

Gieo trồng khoai lang

130,5

131,5

100,8

Gieo trồng cây công nghiệp

Lạc

208,1

205,3

98,7

Đậu tương

115,0

115,3

100,3

Gieo trồng rau đậu

825,6

866,4

104,9

 

 

 

 

 

 

 Sản lượng thuỷ sản

 

 

 

 

 

 

 

Đơn vị tính: Nghìn tấn

Thực hiện 9 tháng

Ước tính 9 tháng

9 tháng năm 2013
so với cùng kỳ
năm 2012 (%)

năm 2012

năm 2013

Tổng số

4377,6

4496,2

102,7

3272,8

3334,6

101,9

Tôm

446,6

475,3

106,4

Thuỷ sản khác

658,3

686,3

104,3

Nuôi trồng

2305,5

2353,3

102,1

1757,8

1763,9

100,3

Tôm

335,2

362,0

108,0

Thuỷ sản khác

212,5

227,4

107,0

Khai thác

2072,1

2142,9

103,4

1515,0

1570,7

103,7

Tôm

111,4

113,3

101,7

Thuỷ sản khác

445,8

458,9

102,9

 

 

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

 

Đơn vị tính:%

 

8 tháng

Tháng 9 năm

Tháng 9 năm

9 tháng

năm 2013 so

2013 so với

2013 so với

năm 2013 so

với cùng kỳ

tháng 8

tháng 9 năm

với cùng kỳ

năm 2012

năm 2013

năm 2012

năm 2012

Toàn ngành công nghiệp

105,4

100,5

105,6

105,4

Khai khoáng

100,4

97,5

94,9

99,8

Khai thác than cứng và than non

95,2

119,9

92,8

94,9

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên

102,1

93,5

94,8

101,3

Khai khoáng khác

92,3

102,1

106,9

93,8

Công nghiệp chế biến, chế tạo

106,6

101,9

108,5

106,8

Sản xuất chế biến thực phẩm

104,3

103,7

105,3

104,4

Sản xuất đồ uống

109,0

106,1

107,2

108,8

Sản xuất thuốc lá

103,8

102,0

109,1

104,4

Dệt

114,1

100,0

133,6

116,4

Sản xuất trang phục

110,8

99,4

116,3

111,4

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

117,0

91,1

113,9

116,7

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy

109,7

102,1

101,3

108,7

Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất

110,6

104,0

114,0

111,0

Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu

107,7

103,2

119,8

109,1

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

107,0

94,6

114,3

107,8

Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác

103,5

107,8

116,2

105,0

Sản xuất kim loại

97,9

100,3

106,5

98,9

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn
(trừ máy móc, thiết bị)

113,7

98,3

117,0

114,0

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học

100,6

110,1

106,2

101,3

Sản xuất thiết bị điện

105,3

102,1

114,4

106,3

Sản xuất xe có động cơ

109,6

98,6

138,8

112,6

Sản xuất phương tiện vận tải khác

103,9

102,3

102,7

103,8

Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

94,1

103,7

94,4

94,1

Sản xuất và phân phối điện

108,1

95,0

109,4

108,3

Sản xuất và phân phối điện

108,1

95,0

109,4

108,3

Cung cấp nước; hoạt động quản lý
và xử lý rác thải, nước thải

109,2

102,2

111,2

109,5

Khai thác, xử lý và cung cấp nước

110,0

101,6

110,7

110,0

Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải;
tái chế phế liệu

107,7

103,3

112,3

108,2

 

 

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

 

 

 

Đơn vị

Thực hiện

Ước tính

Cộng dồn

Tháng 9 năm

9 tháng

tính

8 tháng

tháng 9

9 tháng

2013 so với

năm 2013 so

năm 2013

năm

năm

tháng 9 năm

với cùng kỳ

 

 

2013

2013

2012 (%)

năm 2012 (%)

Than đá (than sạch)

Nghìn tấn

26577,3

2774,0

29351,3

92,8

94,9

Dầu mỏ thô khai thác

Nghìn tấn

11077,9

1309,9

12387,8

94,1

99,9

Khí đốt thiên nhiên dạng khí

Triệu m3

6776,8

640,1

7416,9

98,7

107,1

Khí hoá lỏng (LPG)

Nghìn tấn

465,9

58,3

524,2

89,6

112,3

Thuỷ hải sản chế biến

"

1188,9

175,2

1364,1

113,3

107,9

Sữa tươi

Triệu lít

489,4

69,5

558,9

92,5

101,4

Sữa bột

Nghìn tấn

55,6

6,4

62,0

84,3

112,2

Đường kính

"

1121,3

16,7

1138,0

91,2

114,0

Bột ngọt

"

162,5

23,1

185,6

103,1

97,7

Thức ăn cho gia súc

"

6718,3

933,5

7651,8

107,8

102,9

Thức ăn cho thủy sản

"

1828,7

259,8

2088,5

112,4

101,6

Bia

Triệu lít

1880,9

275,0

2155,9

107,9

107,5

Thuốc lá điếu

Triệu bao

3727,2

453,0

4180,2

109,1

104,3

Vải dệt từ sợi tự nhiên

Triệu m2

188,2

22,0

210,2

110,8

96,9

Vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo

"

444,3

42,1

486,4

95,6

91,2

Quần áo mặc thường

Triệu cái

1770,4

247,3

2017,7

117,2

111,7

Giày, dép, ủng bằng da giả cho người lớn

Triệu đôi

164,6

20,3

184,9

122,9

109,3

Phân Ure

Nghìn tấn

1402,6

120,8

1523,4

70,9

127,6

Phân hỗn hợp N,P,K

"

1631,1

214,6

1845,7

117,3

100,1

Sơn hoá học

"

263,6

35,4

299,0

106,9

108,8

Dầu gội đầu, dầu xả

"

43,4

6,7

50,1

102,8

101,9

Gạch xây bằng đất nung

Triệu viên

11003,6

1467,1

12470,7

106,1

98,1

Xi măng

Triệu tấn

36,6

5,2

41,8

117,6

105,5

Sắt, thép thô

Nghìn tấn

1792,2

246,4

2038,6

98,8

88,7

Thép cán

"

1864,4

261,1

2125,5

142,4

128,7

Thép thanh, thép góc

"

2183,9

269,1

2453,0

97,1

105,6

Điện thoại di động

Triệu cái

77,1

12,0

89,1

106,7

108,7

Tivi

Nghìn cái

1804,2

262,7

2066,9

126,1

108,3

Ô tô

Nghìn chiếc

61,5

8,9

70,4

120,1

112,6

Xe chở khách

"

38,7

5,8

44,5

127,5

114,0

Xe tải

"

22,8

3,1

25,9

108,2

110,3

Xe máy

"

2434,6

327,5

2762,1

105,7

114,4

Điện sản xuất

Tỷ kwh

81,8

10,4

92,2

109,3

107,8

Nước máy thương phẩm

Triệu m3

1231,2

166,7

1397,9

110,6

109,9

 

 

 

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

 

 

 

 

 

Đơn vị tính:%

 

Chỉ số

Chỉ số

Chỉ số

Chỉ số

Chỉ số

tiêu thụ

tiêu thụ

 tiêu thụ

tồn kho

 tồn kho

 tháng 8/2013

 tháng 8 so

 8 tháng

01/9/2013

01/9/2013

so với

với cùng

2013 so với

so với

so cùng kỳ

tháng 7/2013

kỳ 2012

cùng kỳ 2012

tháng trước

năm 2012

Toàn ngành chế biến, chế tạo

107,4

116,1

110,1

102,7

109,3

Sản xuất chế biến thực phẩm

103,3

114,6

104,8

88,5

101,6

Sản xuất đồ uống

106,1

110,1

110,9

98,0

221,0

Sản xuất sản phẩm thuốc lá

101,5

105,2

105,9

104,1

102,2

Dệt

117,5

161,6

114,8

102,7

108,5

Sản xuất trang phục

97,7

119,0

110,1

101,4

105,1

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

98,8

136,5

131,6

131,7

126,8

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy

96,5

100,0

104,7

102,3

138,9

Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất

96,1

89,0

102,4

101,3

118,9

Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu

108,3

101,5

109,4

104,9

141,2

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

104,3

118,4

116,6

103,9

128,7

Sản xuất sản phẩm từ khoáng
phi kim loại khác

102,5

101,7

101,3

100,4

88,4

Sản xuất kim loại

120,4

112,6

101,5

100,6

111,5

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn
(trừ máy móc, thiết bị)

112,9

126,5

113,1

98,1

97,8

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học

122,7

111,5

109,2

111,8

100,6

Sản xuất thiết bị điện

96,2

134,7

124,9

103,9

108,1

Sản xuất xe có động cơ

105,7

144,6

135,3

111,1

63,2

Sản xuất phương tiện vận tải khác

120,2

101,0

112,8

108,6

209,5

Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

106,4

87,6

90,7

102,0

118,6

 

 

 

 

 

 

 

 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

 

Đơn vị tính: Tỷ đồng

 

 

Thực hiện

Ước tính

Cộng dồn

9 tháng

9 tháng

tháng 8

tháng 9

9 tháng

năm 2013 so

năm 2013 so

năm 2013

năm 2013

năm 2013

với kế hoạch

với cùng kỳ

 

 

 

năm 2013 (%)

năm 2012 (%)

TỔNG SỐ

18236

19094

144452

72,3

98,8

Phân theo cấp quản lý

Trung ương

3531

3565

29983

74,8

83,7

Địa phương

14705

15529

114469

71,7

103,7

Một số Bộ

Bộ Giao thông Vận tải

775

781

5277

84,1

93,5

Bộ NN và PTNT

394

401

3114

71,2

92,5

Bộ Xây dựng

95

83

1016

57,7

80,9

Bộ Y tế

65

62

536

62,1

68,7

Bộ Giáo dục và Đào tạo

51

49

438

62,8

67,1

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

37

41

349

69,7

78,1

Bộ Công Thương

23

24

225

83,0

70,9

Một số địa phương

 Hà Nội

2567

2703

17523

63,6

129,4

 TP. Hồ Chí Minh

1560

1785

11823

 

 

 

69,0

106,2

 Đà Nẵng

293

331

3651

48,5

56,6

 Quảng Ninh

465

458

3254

83,5

107,6

 Vĩnh Phúc

302

310

2935

97,9

118,5

 Nghệ An

377

379

2764

125,0

93,6

 Thanh Hóa

276

292

2632

84,0

92,6

 Bà Rịa - Vũng Tàu

251

274

2477

56,2

107,9

 Bình Dương

365

392

2413

62,1

108,9

 Kiên Giang

251

254

2309

72,2

104,9

 Đồng Nai

305

316

2229

68,8

111,9

 Quảng Nam

288

302

1891

88,1

102,0

 Hà Tĩnh

263

280

1871

69,4

96,5

 Nam Định

279

297

1703

73,1

126,8

 Khánh Hòa

229

235

1681

67,9

105,9

 Cần Thơ

174

193

1642

72,8

106,8

 Hải Phòng

289

284

1628

75,6

91,6

 Thừa Thiên - Huế

199

202

1534

80,6

92,3

 Lào Cai

138

110

1516

98,4

90,5

 Bắc Giang

197

290

1494

109,9

102,2

 Tây Ninh

174

202

1423

85,1

116,4

 Hậu Giang

132

129

1403

87,4

104,1

 An Giang

231

172

1396

65,0

136,0

 Tiền Giang

195

204

1386

79,0

111,2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/9/2013

 

 

 

Số dự án

Số vốn đăng ký

(Dự án)

(Triệu USD)

TỔNG SỐ

872

9294,1

Phân theo một số địa phương

Thái Nguyên

7

2142

Hải Phòng

21

1837

Bình Định

4

1009

TP. Hồ Chí Minh

302

818

Hải Dương

17

613

Bình Dương

53

507

Đồng Nai

55

384

Bắc Ninh

77

343

Vĩnh Phúc

9

283

Hà Nội

135

240

Long An

24

110

Quảng Ninh

7

107

Bắc Giang

21

104

Hà Nam

16

90

Hưng Yên

21

81

Thanh Hóa

3

79

Kiên Giang

2

76

Bình Phước

9

74

Bến Tre

2

51

Phân theo một số nước và vùng lãnh thổ

Xin-ga-po

72

2695

Hàn Quốc

247

2237

Nhật Bản

210

1123

Liên bang Nga

8

1018

Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ)

41

584

Thái Lan

22

316

Đài Loan

41

287

Quần đảo Cay-man

2

264

Trung Quốc

53

169

Vương quốc Anh

6

124

CHLB Đức

15

88

Ôx-trây-li-a

16

66

Hoa Kỳ

24

49

Đan Mạch

4

41

Hà Lan

14

39

Pháp

13

36

Quần đảo Virgin thuộc Anh

7

29

Bru-nây

7

27

Xa-moa

5

22

Ma-lai-xi-a

14

22

 

 

 

 

 

 

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng