English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tại sao CPI năm 2007 ở Việt Nam lại cao như vậy? (17:42 21/01/2008)

CPI năm 2007 có khả năng sẽ cao đã được sớm dự báo từ đầu quý III (khi CPI tháng 6/2007 so với tháng 6/2006: 7,8%). Chính phủ Việt Nam đã kịp thời có hàng loạt các biện pháp nhằm kiềm chế tốc độ tăng CPI các tháng còn lại nhằm CPI 2007 sẽ không vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế (8,5%). Nhưng, kết thúc 2007, bên cạnh những thành công, lần đầu tiên sau hơn 10 năm CPI tháng 12 năm 2007 tăng so với tháng 12 năm trước là hai chữ số: 12,63%, và Việt Nam đã không thực hiện được chỉ tiêu kế hoạch được Quốc hội thông qua: “CPI thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế”; đặc biệt, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng tới 18,92%, riêng lương thực tăng 15,4% và thực phẩm tăng 21,2%.

Các nhà kinh tế và các nhà quản lý đều thống nhất xác định CPI ở Việt Nam cao là do cùng một lúc Việt Nam xuất hiện các nguyên nhân dẫn đến Lạm phát chi phí đẩy (cost push inflation) và Lạm phát cầu kéo (demand pull inflation), tuy nhiên do không xác định nguyên nhân nào là chính, các biện pháp để giải quyết các nguyên nhân đó không đúng hoặc không đủ mạnh, không đồng bộ.

1.Về lạm phát chi phí đẩy: Việt Nam nhập khẩu năm 2007: 60,83 tỷ USD bằng 83% GDP, với ngành chế biến, Việt Nam gần như là công xưởng gia công cho nước ngoài, bởi nguyên liệu chính cho các ngành giầy da, dệt, may mặc, nhựa,... hầu hết phụ thuộc vào nhập khẩu, đặc biệt 100% nhiên liệu lỏng đã chế biến (xăng dầu) phải nhập khẩu.  Chính vì vậy, Việt Nam đã có những biện pháp tích cực như: giảm thuế nhập khẩu , dãn nợ, bù giá,...cho các doanh nghiệp nhập khẩu và sử dụng nguyên, nhiên liệu nhập khẩu,... Và có ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân chính đẩy CPI lên. Các biện pháp liên quan đến Lạm phát chi phí đẩy, trong thực tế ít hiệu lực, vì khi giảm thuế nhập khẩu còn có độ trễ nhất định về thời gian (không phải giảm thuế nhập khẩu, các sản phẩm được sản xuất từ các nguyên liệu nhập khẩu này có thể giảm giá ngay được), mặt khác Nhà nước không kiểm soát được các Doanh nghiệp có giảm giá đúng với mức độ giảm thuế nhập khẩu, trong khi đó lại có doanh nghiệp tuy được hưởng chính sách giảm thuế nhập khẩu, nhưng giá sản phẩm sản xuất ra không những không giảm mà lại còn tăng; và trên một mức độ nhất định, Nhà nước hơi quá kỳ vọng vào biện pháp này, trong khi đã không tính toán được mức độ sẽ giữ giá hoặc giảm giá không phải chỉ với một nhóm sản phẩm mà toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác, dùng biện pháp bù giá, đây là biện pháp không lâu dài, không có tính cơ bản vì không phù hợp với kinh tế thị trường, không làm trên phạm vi rộng (ngân sách Nhà nước không đủ sức làm việc này),... thay vì bằng trợ cấp cho nhân dân các vùng thiên tai, dịch bệnh,...

2. Về lạm phát cầu kéo: ở đây bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến quan hệ cung- cầu , quan hệ đến tiền-hàng với các giải pháp tăng cung (tăng thêm khối lượng hàng hóa, chủng loại hàng hóa), đồng thời phân phối hàng hóa đến người sử dụng kịp thời, đúng lúc, đúng địa chỉ..., giảm lượng tiền mà xã hội sử dụng vào mục đích tiêu dùng.

Về cung, năm 2007, với mức tăng trưởng GDP: 8,48% không phải là mức tăng trưởng tồi, nếu không muốn nhấn mạnh đây là thành tựu đáng tự hào của Việt Nam (theo  ADB, mức tăng trưởng  GDP của Trung Quốc: 11,2%, Singapore: 7,5%, Philippin: 6,6%, Indonesia: 6,2%, Malaysia: 5,6%, Thai Lan: 4,0%); Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt tăng nhưng sản lượng lương thực lại giảm. Ngành chăn nuôi, sản lượng thịt lợn (nguồn tiêu dùng lớn nhất về thịt) xuất chuồng tăng không đáng kể (khoảng 1%) trong khi tăng bình quân các năm trước từ 5 – 7%. Như vậy khối lượng hàng hoá cung cấp cho thị trường có bị giảm sút hoặc không tăng, trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng. Mặt khác, cung năm 2007 cũng bị ảnh hưởng nhiều do thiên tai, dịch bệnh đã làm thiệt hại nhiều tới sản xuất, tới đời sống nhân dân nói chung, nhất là nhân dân vùng bị thiên tai, dịch bệnh nói riêng, theo tính toán thiệt hại này vào khoảng 1% GDP (1% theo tôi là tính chưa đủ, vì 1% là thiệt hại làm giảm cung khoảng 1% GDP, nhưng những thiệt hại ấy lại gắn liền tới đời sống và sản xuất của nhân dân, cần sớm được khôi phục, cần bù đắp như trước khi bị thiên tai, do vậy, cầu cũng tăng lên 1%) – đây là điều các nhà hoạch định không tính đến.

Về tiền tệ, năm 2007 ở Việt Nam có một vài đặc điểm cần chú ý đã làm tăng khối lượng tiền tệ trong dân và tự nó đã làm tăng cầu.

FDI đạt khoảng 20,3 tỷ USD (gồm trên 17,8 tỷ USD là số vốn đăng ký cho các dự án mới được cấp giấy phép trong năm 2007 và gần 2,5 tỷ USD là vốn đăng ký bổ sung các dự án được cấp phép từ các năm trước), tăng 69,3 % so với năm 2006, vượt kế hoạch 56,3% và đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện khoảng 4,6 tỷ USD, tăng 600 triệu USD.

Đầu tư gián tiếp năm 2007 cũng là năm đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam tăng vọt, thông qua việc mua các cổ phiếu (năm 2007 ước đạt 5,6 tỷ  USD, tăng 4,3 tỷ USD).

ODA cũng là năm đạt mức khá cao: tính chung hai năm 2006-2007, tổng vốn ODA dành cho Việt Nam đạt khoảng 8,19 tỷ  USD, tuy giải ngân còn chậm, nhưng cũng đạt hơn 2 tỷ  USD, tăng hơn 200 triệu USD.

Kiều hối (định cư ở nước ngoài, xuất khẩu lao động làm việc ở nước ngoài,...) cũng tới 5 tỷ .USD, số tiền này chủ yếu được thân nhân sử dụng để tiêu dùng. Chưa kể khoảng 3,3 tỷ USD là phần chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 khỏang 461,9 nghìn tỷ đồng, tăng +15,8%; riêng, khu vực Nhà nước chiếm  43,3% tổng vốn đầu tư, tăng: + 8,1%, cũng các chỉ tiêu trên lần lượt với Khu vực ngoài Nhà nước: 40,7% và + 24,8%, với khu vực có FDI là : 16% và +17,1%. Điều này đã làm tăng một khối lượng tiền tệ trong dân.

Chưa kể, Nhà nước tăng nhanh dự trữ ngoại tệ  bằng cách bỏ ra một khối lượng nội tệ để mua khoảng 9 tỷ USD. Thu nhập bình quân của người dân nói chung ở Việt Nam tăng khoảng 6% (tất nhiên có khoảng chênh lệch lớn giữa các nhóm dân cư).

Lượng tiền lưu thông quá lớn, tỷ lệ tăng tín dụng tới 40% (trong khi tăng GDP chỉ có 8,48%), cho nên vai trò của Nhà nước càng trở nên quan trọng với thị trường tiền tệ, như: nhằm thu hút bớt tiền trong dân, nhằm hướng người dân sử dụng đồng tiền vào đầu tư các hoạt động sản xuất, kinh doanh, vào việc tham gia mua nhiều trái phiếu Chính phủ, thậm chí gửi tiền ngân hàng,...thông qua nhiều chính sách và biện pháp về ngoại hối, ngoại tệ, lãi suất, ... Nhưng trong thực tế, việc điều hành ở tầm vĩ mô có việc chưa chuẩn xác hoặc không có hiệu lực như:

Tăng dự trữ ngoại tệ là đúng, nhưng mua quá nhiều ngoại tệ (chủ yếu là USD – đồng tiển đang mất giá so với nhiều đồng ngoại tệ khác) là không hợp lý. Năm 2007, Ngân hàng Nhà nước mua vào tới 9 bill. USD (tương ứng 145 nghìn tỷ đồng Việt Nam).

Nhà nước có chú ý thu tiền về bằng phát hành trái phiếu để sử dụng vào các mục tiêu đầu tư đã không được sự hưởng ứng rộng rãi của xã hội vì thiếu sự hấp dẫn (lãi suất , thời gian,...), mặt khác việc phát hành trái phiếu nhà nước, Bộ Tài chính lại đem ra chi (trong đó nhiều khoản chi không phải cho sản xuất), lại làm tăng áp lực lạm phát. Do vậy, cần sớm phát hành trái phiếu ngân hàng để thu tiền về - biện pháp này đã không được đưa ra trong năm vừa qua.

Thị trường chứng khoán (TTCK) 2007 khởi sắc, phát triển nhanh, cũng thu hút được nhiều tiền trong dân, nhưng mới là bước đầu và không vững chắc, nên vẫn còn hạn chế (và những ngày cuối năm và ít ngày đầu năm TTCK nước ta là một mầu ảm đạm) . Nhà nước cần có vai trò đối với thị trường này, như giảm cung bằng việc cân nhắc để dãn lộ trình IPO trong những thời điểm nhậy cảm như hiện nay, đồng thời có biện pháp kích cầu.  

Ngân hàng năm 2007 cũng là năm ăn nên làm ra, nhưng với lãi suất thấp (thấp hơn cả CPI) nên không thu hút được tiền trong dân; chưa kể, trong năm 2007, việc điều chỉnh lãi suất không kịp thời (thậm chí có thời gian lại giảm lãi suất tiền gửi), không hợp lý cũng đã làm giảm khả năng hút tiền trong dân. Nhớ lại, Việt Nam đã có những năm tháng lạm phát “siêu phi mã“ như năm 1987, lạm phát tới ba con số hay, năm 2004 mới đây CPI cũng ở mức 9,5% Việt Nam đã thành công bằng nhiều biện pháp một cách đồng bộ, trong đó biện pháp tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng đã tỏ ra rất hữu hiệu. Nhưng, năm 2007 lại không kịp thời sử dụng công cụ này  (tất nhiên nếu tăng lãi suất tiền gửi, có thể các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, như vậy, sẽ không hấp dẫn với người đi vay. Nhưng, giả định nếu không tăng lãi suất cho vay, thì các ngân hàng thương mại cũng không phá sản, mà có thể giảm bớt một phần lợi nhuận mà thôi – điều này có thể thấy qua các thông tin về kết quả hoạt động của nhiều ngân hàng năm 2007 rất khả quan: lợi nhuận nhiều, nộp nhà nước tăng, thu nhập của người lao động vào TOP 1- ngang ngửa với người lao động làm việc trong các công ty thuộc ngành chứng khoán); hoặc sớm có các quy định tăng dự trữ bắt buộc,...

Có thể còn có nhiều nguyên nhân để lý giải tại sao CPI của Việt Nam năm 2007 tăng cao, và từ đó có thêm các giải pháp để kiềm chế tăng CPI. Tuy nhiên, như một số điều trình bày ở trên, có thể thấy không chỉ do “...điều hành chính sách tiền tệ, giá cả chưa đạt hiệu quả cao“ như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ Việt Nam tháng 12/2007, theo tôi, mà còn do quản lý và điều hành của Nhà nước có những điểm chưa chuẩn xác, chưa đồng bộ, chưa kịp  thời ở tầm vĩ mô, chủ yếu trên thị trường tiền tệ.

TS.  Nguyễn Quán

 
CÁC TIN KHÁC
  Cục Thống kê và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tĩnh phối hợp trong công tác thống kê (14/11/2018)
  Sơ kết 2 năm thực hiện qui chế phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với Tổng cục Thống kê (09/11/2018)
  Hội thảo tham vấn Bộ chỉ tiêu Thống kê phát triển bền vững của Việt Nam (08/11/2018)
  Hội thảo Phổ biến hoạt động của Ủy ban Thống kê Cộng đồng ASEAN (31/10/2018)
  Hội nghị tập huấn công tác Quản lý và Lập bảng kê hộ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở (30/10/2018)